Nhật Nguyệt

Tri thức / Đông phương / Tử Vi Đẩu Số

Tử vi

Thiên Khốc và Thiên Hư an theo chi năm ra sao, nghĩa gì, và khi nào sách lại coi là tốt?

Chia sẻ:
Thiên Khốc và Thiên Hư an theo chi năm ra sao, nghĩa gì, và khi nào sách lại coi là tốt?
TL;DR: Cả Thiên Khốc và Thiên Hư đều khởi từ cung Ngọ ứng với năm Tý, nhưng Thiên Khốc đếm ngược chiều kim đồng hồ còn Thiên Hư đếm xuôi, nên hai sao luôn đối xứng nhau qua trục Tý Ngọ và Thiên Hư luôn nằm cùng cung với Tuế Phá của vòng Thái Tuế. Chúng chủ về u buồn, hư hao, ít khi là sao định đoạt cát hung, và chỉ được xem là đắc cách khi hội đủ điều kiện đi kèm chứ không phải cứ đóng Tý Ngọ là tốt.

Thiên Khốc và Thiên Hư là hai sao gì trong Tử Vi Đẩu Số?

Thiên Khốc và Thiên Hư đều thuộc nhóm Bại Tinh, ngũ hành Thủy, nằm trong bộ Lục Bại gồm Đại Hao, Tiểu Hao, Thiên Khốc, Thiên Hư, Tang Môn, Bạch Hổ. Theo cách trình bày phổ biến trên các trang tra cứu, Thiên Khốc mang hình tượng giọt nước mắt, chủ về sự u buồn, cô đơn, phiền muộn, những khó khăn trong việc biểu đạt cảm xúc; Thiên Hư chủ về sự hư hao, mất mát, cảm giác trống rỗng và thất vọng. Khi đi cùng nhau, bộ đôi này được mô tả như tiếng khóc của trời, ám chỉ người hay than thân trách phận, tâm không an.

Cần nói ngay rằng đây là hai phụ tinh nhỏ. Chúng không phải chính tinh, không định đoạt cát hung của một cung, và không nên được đọc thành lời báo trước buồn đau cho đương số.

Cơ chế an sao: vì sao hai sao đối xứng qua trục Tý Ngọ?

Cách an hai sao này được ghi trong sách Đẩu số tinh thành (Thiên Hỏa Đồng Nhân): Đại Hao khởi từ cung Ngọ ứng năm Tý rồi đếm nghịch tới chi năm sinh; Thiên Hư khởi từ cung Ngọ ứng năm Tý rồi đếm thuận tới chi năm sinh. Các trang tra cứu như tracuutuvi.com cũng ghi cách an Thiên Khốc tương tự: lấy cung Ngọ làm vị trí của năm Tý, từ đó chạy ngược chiều kim đồng hồ tới địa chi năm sinh thì dừng, đó là cung của Thiên Khốc.

Địa bàn Tử Vi: mười hai chi đứng cố định, chiều thuận theo kim đồng hồ.
Địa bàn Tử Vi: mười hai chi đứng cố định, chiều thuận theo kim đồng hồ.

Như vậy Thiên Khốc và Thiên Hư cùng xuất phát từ một điểm (cung Ngọ ứng năm Tý) nhưng đi hai hướng ngược nhau. Kết quả là với mọi chi năm sinh, hai sao luôn đối xứng nhau qua trục Tý Ngọ.

Vì sao Thiên Hư luôn cùng cung với Tuế Phá?

Theo tracuutuvi.com, Thiên Hư luôn đồng cung với Tuế Phá. Vòng Thái Tuế gồm mười hai sao: Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù. Cách xác định: đặt Thái Tuế tại cung ứng với năm sinh, coi đó là cung thứ nhất, đếm thuận tới cung thứ bảy thì được vị trí Tuế Phá, cũng là vị trí Thiên Hư.

Sở dĩ Thiên Hư luôn cùng cung Tuế Phá là vì Tuế Phá cũng khởi từ cung Ngọ ứng năm Tý và đếm thuận, trùng đúng quy luật an Thiên Hư. Đây là một điểm rất tiện cho người học: chỉ cần nhớ Tuế Phá ở đâu là biết Thiên Hư ở đó.

Bảng tra mười hai chi năm

Bảng dưới đây lập theo đúng hai quy tắc vừa nêu. Cột Tuế Phá ghi theo cách an của vòng Thái Tuế, và trùng với cột Thiên Hư.

Chi năm sinhCung Thiên KhốcCung Thiên HưCung Tuế Phá
TýNgọNgọNgọ
SửuTỵMùiMùi
DầnThìnThânThân
MãoMãoDậuDậu
ThìnDầnTuấtTuất
TỵSửuHợiHợi
NgọTýTýTý
MùiHợiSửuSửu
ThânTuấtDầnDần
DậuDậuMãoMão
TuấtThânThìnThìn
HợiMùiTỵTỵ

Nhìn bảng có thể thấy vài quy luật dễ nhớ: người tuổi Tý và tuổi Ngọ thì Khốc Hư đồng cung tại Ngọ và tại Tý; người tuổi Mão và tuổi Dậu thì Khốc Hư đóng tại chính cung Mão và Dậu; các chi còn lại thì hai sao tách ra, mỗi sao một cung.

Thiên Khốc và Thiên Hư đắc địa ở đâu?

Đây là chỗ các nguồn không hoàn toàn thống nhất, cần nói rõ.

Theo tracuutuvi.com, Thiên Khốc đắc địa tại bảy cung Tý, Sửu, Mão, Ngọ, Mùi, Dậu và hãm địa tại sáu cung Dần, Thìn, Tỵ, Thân, Tuất, Hợi. Trang này cũng ghi Thiên Hư đắc địa ở Tý, Ngọ, và trừ khi đóng tại Tý, Ngọ thì ở mọi cung còn lại đều mang nghĩa xấu.

Trong khi đó, thảo luận trên diễn đàn Lý số Việt Nam có người nêu quan điểm rằng Khốc Hư đắc địa ở cả Mão và Dậu, tức vùng đắc địa là Tý Ngọ Mão Dậu chứ không chỉ Tý Ngọ. Cũng trong mạch thảo luận ấy, một thành viên cho rằng Khốc Hư chỉ đắc cách khi ở Tý Ngọ vì khi ấy chúng đồng cung, hội thêm nhiều cát tinh thì thành người có trí lớn, ăn nói hùng hồn, có tài hùng biện; nếu có Sát Phá đắc đồng cung thì uy danh lừng lẫy, quyền cao chức trọng. Một thành viên khác lại kể trường hợp Khốc Hư cư Mão Dậu đắc địa, tuy không đồng cung nhưng xung chiếu Mệnh Thân, và tự nhận xét bản thân lành tính, ít đa sầu, ăn nói nhẹ nhàng cẩn trọng.

Như vậy có ít nhất hai cách nhìn: một là vùng đắc địa chỉ Tý Ngọ, hai là mở rộng ra Tý Ngọ Mão Dậu. Bài này không chọn bên nào làm chuẩn, vì cả hai đều đang lưu hành trong giới nghiên cứu.

Ý nghĩa của Thiên Khốc và Thiên Hư khi tọa thủ các cung

Vì là Bại Tinh, hai sao này đóng tại cung nào thì thường làm cung đó trở nên trì trệ, nặng nề hơn. Dưới đây là một số cung tiêu biểu theo tracuutuvi.com.

Tại cung Mệnh

Người có Thiên Khốc tại Mệnh được mô tả là mặt toát vẻ buồn rầu, tính lầm lì ít nói, nội tâm nhiều phiền muộn, hay suy nghĩ, dễ bi quan, trí nhớ kém, đầu óc lơ đãng. Về sự nghiệp, đường công danh buổi đầu nhiều trắc trở, dễ dính thị phi, nhưng nếu kiên trì thì về sau có thể thành công. Về hôn nhân, đường tình duyên không thuận, vợ chồng dễ bất hòa. Về tài lộc, tuổi trẻ vất vả bôn ba.

Người có Thiên Hư tại Mệnh cũng được mô tả tương tự: da xanh, mắt quầng, thần sắc kém, tính yếu đuối, u sầu, đa sầu đa cảm. Tuy nhiên có một ngoại lệ đáng chú ý: khi Thiên Hư đóng tại Tý hoặc Ngọ, trang này ghi người đó có quyết tâm, ý chí cao, có tài văn chương và tài ăn nói thuyết phục. Đây chính là cơ sở cho cách nói Khốc Hư đắc địa tại Tý Ngọ.

Tại các cung khác

Theo tracuutuvi.com, khi Thiên Khốc đóng tại cung Phụ Mẫu, cha mẹ vất vả, tính bi quan; nhưng nếu gặp Thiên Hư tại Tý Ngọ thì cha mẹ tuổi trẻ vất vả mà về già thành công, có của ăn của để. Khi hội cùng Thiên Mã và Điếu Khách tại Dần hoặc Thân thì cha mẹ tài năng, gặp thời cơ tốt.

Tại cung Phúc Đức, Thiên Khốc gây hao tổn phúc thọ, dòng họ nhiều người vất vả; nhưng nếu đắc địa thì mồ mả gia tiên êm đẹp, gia tộc hưởng phúc lộc. Tại cung Điền Trạch, chủ về vất vả, hao tổn tiền bạc khi xây nhà; riêng khi đóng tại Dần hoặc Thân thì có duyên với kinh doanh bất động sản. Tại cung Quan Lộc, sự nghiệp buổi đầu khó khăn nhưng về sau có công danh, tiếng tăm. Tại cung Nô Bộc, ít bạn thân thiết, đồng nghiệp không gắn bó lâu dài.

Với Thiên Hư, tracuutuvi.com ghi khi đóng tại Phụ Mẫu thì cha mẹ lập nghiệp từ hai bàn tay trắng, không được thừa hưởng tài sản tổ tiên, nhưng luôn là chỗ dựa cho con cái. Tại Phúc Đức, ít phúc lộc, cuộc sống không suôn sẻ, dễ chán nản; nếu hãm địa thì chủ về tổn thọ, dễ vướng duyên âm. Tại Điền Trạch, có nhà riêng nhưng gặp khó khăn, tiền tài hao hụt; nếu gặp Hồng Loan, Thiên Hỷ thì người nhà dễ mắc bệnh tật, tai ương bất ngờ.

Khi nào sách lại coi Khốc Hư là tốt?

Đây là phần thú vị nhất của chủ đề, vì một bộ sao mang nghĩa buồn đau lại có những tổ hợp được đánh giá là đắc cách.

Khốc Hư đồng cung tại Tý Ngọ

Khi hai sao đồng cung tại Tý hoặc Ngọ, người ta cho rằng chúng không còn tác động tiêu cực đơn thuần nữa mà chuyển thành tài hùng biện, trí lớn, ăn nói hùng hồn. Thảo luận trên Lý số Việt Nam còn nêu trường hợp hội thêm Sát Phá đắc địa đồng cung thì uy danh lừng lẫy, quyền cao chức trọng.

Tuy nhiên, cũng trên diễn đàn đó, một thành viên đưa ra phản biện rất đáng lưu ý: Khốc Hư Tý Ngọ chỉ là điều kiện cần thôi chứ chưa đủ, không thể lá số nào cứ Khốc Hư đóng Tý Ngọ thì hậu vận đều nổi danh. Quan điểm này hợp lý vì bất cứ cách cục nào cũng cần sự hội tụ của nhiều yếu tố, không chỉ một bộ sao.

Khốc Hư gặp Thiên Mã và bộ Khốc Khách Mã

Theo tracuutuvi.com, khi Thiên Khốc hội cùng Thiên Mã và Điếu Khách tại Dần hoặc Thân thì chủ về cha mẹ tài năng, gặp thời cơ tốt. Đây là một biến thể của bộ Khốc Khách Mã, tức Thiên Khốc, Điếu Khách, Thiên Mã hội tụ.

Trong mạch thảo luận về cách Khốc Hư Tý Ngọ trên Lý số Việt Nam, có người phân tích trường hợp người sinh năm Tý có Khốc Hư tại Ngọ, đồng cung với Tuế Phá, tam hợp với Thiên Mã đắc địa tại Dần, trong tổ hợp còn có Cô Thần ở Dần, Quả Tú ở Tuất, Phượng Các ở Tuất, và không có Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ. Cách luận được đưa ra là: cố gắng (Thiên Mã) thay đổi (Tuế Phá) số mệnh, thành quả khi thành công (Phượng Các) là sự đền đáp cho những ngày tháng phấn đấu âm thầm, gian khổ, cô đơn (Cô Quả).

Cũng cần nhắc lại câu chuyện Châu Mãi Thần được dẫn trong cùng mạch thảo luận. Theo Tiền Hán liệt truyện, Châu Mãi Thần người đất Cối Kê đời Hán, nhà nghèo mà ham đọc sách, phải đốn củi kiếm sống, thường treo sách nơi đầu gánh vừa đi vừa đọc. Vợ không chịu nổi cảnh nghèo nên bỏ đi lấy người khác. Năm sau ông được Nghiêm Trợ tiến cử lên Hán Vũ Đế, được phong Trung Đại phu, sau thăng Thái thú Cối Kê. Khi về quê nhậm chức, người vợ cũ đến xin trở lại, ông đổ một bát nước xuống đất trước đầu ngựa và nói nếu hốt lại đầy bát thì sẽ đem nàng về. Điển tích phúc thủy nan thu ra đời từ đó.

Sách Tử Vi Đẩu Số phú giải của Thái Vân Trình có câu Châu Mãi Thần tiền bần hậu phú, do hữu Khốc Hư chính hướng, và sách này giải nghĩa là Châu Mãi Thần cung Mệnh an tại Ngọ có Khốc Hư tọa thủ nên thiếu thời nghèo khó về sau được giàu sang vinh hiển. Đây là một ví dụ cho thấy cùng một bộ sao, cách đọc có thể chuyển từ bi thương sang nỗ lực rồi đền đáp, tùy theo tổ hợp đi kèm.

Khốc Hư gặp Thiên Hình

Khi Thiên Hình đi cùng Thiên Khốc và Thiên Hư ở Mệnh hoặc Thân thì khó thoát cảnh bệnh tật trên người, dễ mắc bệnh mãn tính. Đây là một tổ hợp được xem là bất lợi, khác hẳn với các tổ hợp đắc cách nêu trên.

Ứng dụng trong luận hạn

Sách Tử Vi kinh nghiệm quyển hạ có đoạn phân tích một lá số tuổi Mậu Thìn, Dương Nam, đi tới hạn Mậu Tý. Trong hạn này, theo sách, đương số gặp hai Kình Dương, hai Khốc, hai Hư, hai Hao, cùng Thái Tuế, Tang Môn, Điếu Khách. Sách gọi tình huống này là hạn Mã đới kiếm trùng phùng và đánh giá là đáng sợ, ví bản mệnh như ngọn đèn mờ trước gió. Điều đáng chú ý là sách nhấn mạnh yếu tố trùng phùng, tức các sao bị lặp hai lần do vừa có ở lá số gốc vừa có ở lưu niên, chứ không phải bản thân Khốc Hư đáng sợ.

Đây là một lưu ý quan trọng khi luận hạn: Khốc Hư lưu niên cần được đặt cạnh các sao lưu niên khác và so với lá số gốc, không nên tách riêng ra để kết luận.

Nên đọc Thiên Khốc và Thiên Hư như thế nào cho đúng?

Tổng hợp các nguồn ở trên, có thể rút ra vài điểm thực hành.

Thứ nhất, đây là phụ tinh nhỏ, thuộc nhóm Bại Tinh, chủ về u buồn và hư hao, thường ảnh hưởng tới tinh thần và cảm xúc nhiều hơn là sự kiện lớn. Không nên đọc thành lời báo trước buồn đau cho đương số.

Thứ hai, vị trí của hai sao hoàn toàn xác định theo chi năm sinh, không phụ thuộc giờ sinh hay ngày sinh. Người tuổi Tý và tuổi Ngọ có Khốc Hư đồng cung tại Ngọ và Tý, người tuổi Mão và tuổi Dậu có Khốc Hư đóng tại chính Mão và Dậu, các tuổi còn lại thì hai sao tách ra.

Thứ ba, Thiên Hư luôn cùng cung với Tuế Phá, nên khi luận Thiên Hư cần luận kèm Tuế Phá. Thiên Hư mang ý nghĩa hư ảo, không thực chất, có thể là lo lắng thái quá hoặc kế hoạch không tưởng; khi đứng cạnh Tuế Phá thì tạo nên người có tư duy phản biện mạnh mẽ nhưng đôi khi hoài nghi chính mình, thấy lỗ hổng trong mọi chuyện và muốn phá bỏ để xây lại từ đầu.

Thứ tư, chỗ các nguồn không thống nhất cần được nói rõ. Về vùng đắc địa, có nguồn chỉ kể Tý Ngọ, có nguồn mở rộng ra Tý Ngọ Mão Dậu. Về điều kiện thành cách, có ý kiến cho rằng Khốc Hư Tý Ngọ chỉ là điều kiện cần, không đủ để kết luận hậu vận nổi danh. Người đọc nên xem đây là những quan điểm đang lưu hành, không phải chân lý duy nhất.

Thứ năm, việc luận giải cát hung của Khốc Hư phụ thuộc rất nhiều vào tổ hợp sao đi kèm. Cùng một bộ Khốc Hư, gặp Thiên Mã, Điếu Khách, Phượng Các, Cô Quả thì được đọc thành nỗ lực rồi đền đáp; gặp Thiên Hình thì được đọc thành bệnh tật mãn tính; gặp Sát Phá đắc địa thì được đọc thành uy danh. Bản thân hai sao không tự quyết định điều gì.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Thiên Khốc và Thiên Hư an theo chi năm sinh như thế nào?

Cả hai đều lấy cung Ngọ làm vị trí của năm Tý. Thiên Khốc đếm ngược chiều kim đồng hồ tới chi năm sinh thì dừng; Thiên Hư đếm xuôi chiều kim đồng hồ tới chi năm sinh thì dừng. Vì cùng xuất phát một điểm mà đi hai hướng ngược nhau, hai sao luôn đối xứng qua trục Tý Ngọ.

Vì sao Thiên Hư luôn cùng cung với Tuế Phá?

Tuế Phá là sao thứ bảy trong vòng Thái Tuế, được an bằng cách đặt Thái Tuế tại cung ứng với năm sinh rồi đếm thuận tới cung thứ bảy. Quy luật này trùng với cách an Thiên Hư, nên hai sao luôn đồng cung.

Khốc Hư đắc địa ở những cung nào và khi nào được coi là tốt?

Các nguồn không thống nhất: có nguồn chỉ kể Tý Ngọ, có nguồn mở rộng ra Tý Ngọ Mão Dậu. Khi Khốc Hư đồng cung tại Tý Ngọ và hội thêm cát tinh hoặc Sát Phá đắc địa, sách thường đọc thành tài hùng biện, trí lớn, uy danh. Tuy nhiên nhiều người cho rằng Tý Ngọ chỉ là điều kiện cần, chưa đủ để thành cách.

Bài này thuộc chủ đề Tử Vi Đẩu Số. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Tử Vi Đẩu Số.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Sao Thiên Khốc - tracuutuvi.com
  2. Sao Thiên Hư - tracuutuvi.com
  3. Khốc-Hư Cư Mệnh Thân - Lý số Việt Nam
  4. Cách Khốc Hư - Tý Ngọ - Lý số Việt Nam
  5. Tử Vi kinh nghiệm quyển hạ
#TửVi#ThiênKhốc#ThiênHư#BạiTinh#TuếPhá#AnSaoTửVi#KhốcHưTýNgọ