
TL;DR: Vòng Thái Tuế là một vòng 12 sao phụ tinh trong Tử Vi, khởi từ sao Thái Tuế đặt tại cung trùng chi năm sinh rồi an thuận mỗi cung một sao theo thứ tự cố định. Theo Thiên Lương, vòng này chia thành bốn nhóm tam hợp: Thái Tuế (Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ), Thiếu Dương (Thiếu Dương, Tử Phù, Phúc Đức), Thiếu Âm (Thiếu Âm, Long Đức, Trực Phù) và Tuế Phá (Tuế Phá, Tang Môn, Điếu Khách). Bài trình bày cách an và cách hiểu theo ba sách Tử Vi Việt Nam: Tử Vi đẩu số tân biên, Tử Vi áo bí biện chứng học và Tử Vi nghiệm lý toàn thư; các sách đều xét vòng này cùng cả lá số, không coi là kết cục cố định.
Vòng Thái Tuế trong Tử Vi là gì?
Vòng Thái Tuế là một trong các vòng sao phụ tinh của lá số Tử Vi, gồm 12 sao được an liên tiếp trên 12 cung Địa Chi theo một thứ tự cố định, khởi đầu bằng sao Thái Tuế. Bài này trình bày cách an và cách hiểu theo Tử Vi Việt Nam, dựa trên ba sách: Tử Vi đẩu số tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi áo bí biện chứng học của Việt Viêm Tử và Tử Vi nghiệm lý toàn thư của Thiên Lương; chỗ nào các sách nói khác nhau thì ghi riêng từng sách. Tử Vi đẩu số tân biên viết: "Trước hết phải an Thái Tuế ở cung có tên hàng Chi của năm sinh", rồi dù là nam số hay nữ số cũng theo chiều thuận, mỗi cung an một sao[1]. Tử Vi áo bí biện chứng học ghi cùng cách an ấy và cho ví dụ: nếu Thái Tuế ở cung Dần thì Thiếu Dương ở Mão, Tang Môn ở Thìn, Thiếu Âm ở Tỵ, Quan Phù ở Ngọ, Tử Phù ở Mùi, Tuế Phá ở Thân, Long Đức ở Dậu, Bạch Hổ ở Tuất, Phúc Đức ở Hợi, Điếu Khách ở Tý, Trực Phù ở Sửu[3].
Vì sao lại an theo chi năm sinh? Việt Viêm Tử lý giải rằng các nhà thuật số từ đầu đời Hán đã biết Thái Tuế, mà ông đồng nhất với Mộc tinh, đi theo đường Hoàng đạo qua trục Dần Thân và hết một vòng là 12 năm, nên Tử Vi mới có luật sinh năm nào an Thái Tuế ở cung ấy[3]. Đây là cách giải thích của riêng tác giả, không phải dữ kiện thiên văn đã được kiểm chứng.
Mười hai sao của vòng Thái Tuế gồm những sao nào?
Thứ tự 12 sao theo sách Tử Vi áo bí biện chứng học là: Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù, khớp với thứ tự trong Tử Vi đẩu số tân biên. Việt Viêm Tử lưu ý một điểm thực hành: khi in sao lên lá số thì an luôn Thiên Không cùng cung với Thiếu Dương, tức cung kế Thái Tuế theo chiều thuận mà sách gọi là cung đằng trước, và an Quán Sách cùng cung với Trực Phù, tức cung phía sau Thái Tuế[3]. Tử Vi đẩu số tân biên ghi cùng vị trí ấy cho Thiên Không: "An Thiên Không ở cung đằng trước cung đã an Thái Tuế", ví dụ Thái Tuế ở Mùi thì Thiên Không ở Thân[1]. Hai sao này đi kèm vòng Thái Tuế chứ không thuộc 12 sao của vòng.
Về ngũ hành, hai sách ghi khác nhau. Tử Vi đẩu số tân biên ghi Thái Tuế thuộc Hỏa[1]. Việt Viêm Tử xếp Thái Tuế thuộc Mộc, hai sao kèm trước sau là Thiên Không và Quán Sách thuộc Hỏa, và viết: "Nếu nói Thái-tuế hỏa là lầm lẫn lớn vậy"[3].
Bảng dưới đây tóm tắt 12 sao theo thứ tự an thuận và vị trí tương ứng khi Thái Tuế ở cung Dần, lấy theo ví dụ của Việt Viêm Tử:
| Thứ tự | Tên sao | Cung khi Thái Tuế ở Dần |
|---|---|---|
| 1 | Thái Tuế | Dần |
| 2 | Thiếu Dương | Mão |
| 3 | Tang Môn | Thìn |
| 4 | Thiếu Âm | Tỵ |
| 5 | Quan Phù | Ngọ |
| 6 | Tử Phù | Mùi |
| 7 | Tuế Phá | Thân |
| 8 | Long Đức | Dậu |
| 9 | Bạch Hổ | Tuất |
| 10 | Phúc Đức | Hợi |
| 11 | Điếu Khách | Tý |
| 12 | Trực Phù | Sửu |
Cách an vòng Thái Tuế theo chi năm sinh
Cách an vòng Thái Tuế khá đơn giản so với các vòng sao khác, vì nó chỉ phụ thuộc vào chi của năm sinh chứ không phụ thuộc vào âm dương nam nữ hay cục số. Các bước như sau:
- Xác định chi của năm sinh (Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi).
- Đặt sao Thái Tuế vào cung mang đúng chi ấy trên lá số. Người tuổi Mão có Thái Tuế ở cung Mão, người tuổi Dần có Thái Tuế ở cung Dần.
- Từ cung Thái Tuế, an 11 sao còn lại theo chiều thuận, mỗi cung một sao, đúng thứ tự đã nêu ở mục trên.
Một điểm cần lưu ý là vòng Thái Tuế trên lá số gốc, an theo năm sinh, khác với vòng Thái Tuế lưu niên. Tử Vi áo bí biện chứng học, ở phép lưu hạn, an lại vòng này theo năm đang xem: Thái Tuế vào cung mang chi của năm hiện hành, 11 sao còn lại an thuận, Thiên Không và Quán Sách trước sau Thái Tuế[3].
Ba tam hợp Thái Tuế, Thiếu Dương, Thiếu Âm khác nhau thế nào?
Mười hai sao của vòng Thái Tuế chia thành bốn nhóm, mỗi nhóm ba sao đứng cách nhau bốn cung nên luôn tam hợp với nhau. Cách chia này là của Thiên Lương trong Tử Vi nghiệm lý toàn thư: ông gọi đó là bốn cách Thái Tuế, Tuế Phá, Thiếu Dương và Thiếu Âm[2].
Tam hợp Thái Tuế gồm Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ. Thiên Lương gọi đây là thế chính của tuổi, và giải thích rằng dù cung Mệnh có thể lạc ở cung khác, Thái Tuế vẫn ngồi ngay tại cung mang tên chi năm sinh. Ông xem tam hợp này là vùng đất sống của đương số, gắn với may mắn, hưng vượng và quyền uy. Cũng theo ông, Thái Tuế được bộ Long Trì, Phượng Các làm tăng vẻ uy nghi: tuổi dương chỉ có Long Trì nằm trong tam hợp Thái Tuế, tuổi âm có đủ cả hai; và vì Thái Tuế là thế quá tốt nên phải có Thiên Không đứng bên để ngăn chặn[2].
Tam hợp Thiếu Dương gồm Thiếu Dương, Tử Phù và Phúc Đức. Thiên Lương mô tả đây là thế nghịch lý âm dương với tuổi, nhưng trên đường đi Thiếu Dương thường được ưu đãi trong tình trạng sinh nhập hay khắc xuất, nên dễ khinh thường mà lạm dụng, vì vậy mới có Đào Hoa, Thiên Không, Kiếp Sát đứng chặn để nhắc nhở[2].
Tam hợp Thiếu Âm gồm Thiếu Âm, Long Đức và Trực Phù. Thiên Lương nhận xét Thiếu Âm ở thế Long Đức Trực Phù thường thua thiệt mọi lẽ, nên Hồng Loan và Thiên Hỷ chia nhau làm nhiệm vụ an ủi phần nào. Cũng theo ông, hai vị trí Hồng Loan và Thiên Hỷ đều đứng trong thế nghịch lý âm dương với tuổi và đối xứng nhau[2].
Nhóm Tuế Phá gồm Tuế Phá, Tang Môn, Điếu Khách. Thiên Lương gọi đây là tam hợp Tuế Phá, cũng đầy tự hào như Thái Tuế, và là thế duy nhất được dành riêng Thiên Mã để bồi đắp nghị lực đi tới. Ông viết người có Mệnh đóng ở Tuế Phá, Tang Môn, Điếu Khách "là người thường xuyên không được hài lòng với công việc mình làm mà vẫn thi gan cùng tuế nguyệt bằng nghị lực Thiên Mã"[2].
Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ được luận giải ra sao?
Trong ba sao của tam hợp Thái Tuế, Thái Tuế và Quan Phù thường được nhắc tới như cặp sao chủ về kiện tụng, thị phi. Việt Viêm Tử chép câu phú nói vận hạn gặp Thái Tuế, Quan Phù thì "quan phi khẩu thiệt quyết bất không", và giảng rằng khi ấy khó tránh cãi cọ, kiện tụng, vì ông coi Quan Phù, Thái Tuế là "hưng tụng chi thần", Cự Môn là "thị phi chi diệu", gặp thêm Hóa Kỵ thì việc kiện tụng càng dễ tới[3]. Đây là lời của một bài phú về vận hạn, không phải kết luận cho mọi lá số có hai sao này.
Về Bạch Hổ, Việt Viêm Tử xếp sao này thuộc Kim, miếu địa ở Dậu. Trong sách ông, Bạch Hổ hãm địa được gắn với hình thương, tai nạn, còn Bạch Hổ ở miếu địa thì được tả là cương cường, anh hùng quả cảm. Ông nêu cách "Bạch hổ khiếu tây phương" và ví Bạch Hổ ở Dậu như hổ đã ăn no về hang nằm nghỉ[3].
Thiên Lương có một mục riêng hỏi vì sao bộ Bạch Hổ, Đường Phù trở nên ác hại. Theo ông, Bạch Hổ là một vị trí trong tam hợp Thái Tuế, có tính cương quyết làm cho tới đích; bộ Bạch Hổ, Đường Phù chỉ gặp nhau ở sáu tuổi có hàng can Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Nhâm, Quý, là những tuổi mà ông cho là Lộc Tồn đứng nghịch lý âm dương, còn bốn tuổi Giáp, Ất, Canh, Tân thì không có bộ này[2].
Tang Môn, Điếu Khách và nhóm Tuế Phá có thật sự đáng ngại?
Tang Môn và Điếu Khách là hai sao thuộc nhóm Tuế Phá, hay được liên hệ với tang chế, thương tổn. Việt Viêm Tử chép câu phú: "Điếu-khách Tang-môn hựu tương ngộ, quản giao tai bệnh nhi tương công", và giảng rằng hai sao này vốn chủ sự thương tổn, nếu không gặp Thất Sát, Thiên Hình, Kình Dương thì còn có thể miễn, gặp Hóa Kỵ thì khó tránh[3].
Các sách không nói một giọng về nhóm này. Cũng Việt Viêm Tử, ở phần luận từng sao, xếp Điếu Khách thuộc Kim, "Chủ ngôn luận văn chương thi phú", và viết Điếu Khách hội với Thiên Mã, Thiên Khốc ở Mệnh là người có tài hùng biện[3]; Tử Vi đẩu số tân biên thì ghi Điếu Khách thuộc Hỏa[1]. Còn Thiên Lương, như đã dẫn ở trên, đọc ba sao này như một thế đứng cần nghị lực chứ không như điềm tang tóc[2].
Vòng Thái Tuế tương tác với các vòng sao khác ra sao?
Việt Viêm Tử xếp vòng Thái Tuế cùng vòng Lộc Tồn và vòng Tràng Sinh vào nhóm sao dùng để xem hạn từng năm, và đọc ba vòng như một bộ đủ ngũ hành: Thái Tuế thuộc Mộc kèm Thiên Không, Quán Sách thuộc Hỏa; Lộc Tồn thuộc Thổ kèm Kình Dương, Đà La thuộc Kim; Tràng Sinh thuộc Thủy. Trong cách đọc của ông, vòng Thái Tuế ứng với phần may mắn và việc làm ăn của đương số, vòng Tràng Sinh ứng với thứ bậc người trong gia đình, vòng Lộc Tồn ứng với kết quả của công ăn việc làm[3].
Phần viết tiếp in trong Tử Vi nghiệm lý toàn thư thì dùng vòng Thái Tuế làm thước đo thời gian thuận hay khó của từng vận, và chia thành bốn loại tam giác: Thái Tuế, Tuế Phá, Thiếu Dương, Thiếu Âm. Theo phần này, học phái Thiên Lương coi vận đi tới tam giác Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ là thời điểm thuận nhất, và chỉ hai tam giác Thái Tuế, Tuế Phá là thuận âm dương với tuổi sinh[2].
Vòng Thái Tuế có quyết định vận mệnh không?
Không. Ba sách được dẫn ở đây đều đặt vòng Thái Tuế trong tương quan với toàn bộ lá số chứ không xem nó là yếu tố quyết định. Thiên Lương trong Tử Vi nghiệm lý toàn thư đề cao vai trò của Thân: theo ông, định mệnh phác sẵn mọi màn cảnh tốt xấu, nhưng thực hiện được hay không còn nhờ một yếu tố quan trọng là Thân hành động, và ông hỏi: "Có phải đức năng thắng số là ở đây?"[2].
Tử Vi áo bí biện chứng học chép câu phú "Lộc đảo Mã đảo kỵ Thái-tuế chi hợp Kiếp Không. Vận suy, hạn suy hỷ Tử-vi chi giải hung ách" và giảng: lưu hành nhị hạn dù gặp cách Lộc Mã, nếu gặp Thái Tuế cùng Không Kiếp thì thành phá cách; hạn và vận xấu cần sao Tử Vi mới hóa giải được[3]. Như vậy ngay trong lời phú, Thái Tuế cũng chỉ được xét cùng các sao khác, không đứng một mình làm kết luận.
Gợi ý của Nhật Nguyệt
Khi tra vòng Thái Tuế trên một lá số, có thể đi ba bước: tìm cung mang chi năm sinh để thấy Thái Tuế; đếm thuận từng cung để thấy 11 sao còn lại; rồi xem cung Mệnh và cung Thân rơi vào nhóm nào trong bốn nhóm tam hợp. Khi đọc lời luận, nên ghi rõ mình đang theo sách nào, vì ngay hành của Thái Tuế hai sách đã ghi khác nhau. Đây là cách tra cứu, không phải lời đoán về tài chính, sức khỏe hay vận mệnh của bất kỳ ai.
