Tri thức / Đông phương / Tử Vi Đẩu Số

Tử vi

Thiên La Địa Võng trong Tử Vi là gì? Hai cung Thìn Tuất và ý nghĩa khi sao đóng ở đó

Thuật số truyền thống Hệ diễn giải cổ.

Thiên La Địa Võng trong Tử Vi là gì? Hai cung Thìn Tuất và ý nghĩa khi sao đóng ở đó

TL;DR: Trong Tử Vi Việt Nam, Thiên La và Địa Võng là hai sao cố định ở cung Thìn và cung Tuất, nên cũng là tên gọi của hai cung này (La Võng). Tử Vi đẩu số tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang và Tử Vi áo bí biện chứng học của Việt Viêm Tử cùng ghi Thiên La an tại Thìn, Địa Võng an tại Tuất. Thiên Lương trong Tử Vi nghiệm lý có cách hiểu riêng: Thìn, Tuất chỉ là La Võng khi có Đà La đóng ở đó. Các sách mô tả đây là vị trí kìm hãm nhưng cũng nêu trường hợp được coi là tốt; đó là cách luận của môn Tử Vi, không phải kết luận về đời người.

Thiên La Địa Võng trong Tử Vi là gì?

Bài này trình bày Thiên La, Địa Võng theo Tử Vi Việt Nam, dựa trên Tử Vi đẩu số tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi áo bí biện chứng học của Việt Viêm Tử, Tử Vi nghiệm lý của Thiên Lương và Tử Vi tổng hợp của Nguyễn Phát Lộc. Thiên La và Địa Võng là hai sao có vị trí cố định: Vân Đằng Thái Thứ Lang ghi "Thiên La: Bao giờ cũng an ở cung Thìn" và "Địa Võng: Bao giờ cũng an ở cung Tuất"[1], không phụ thuộc năm sinh, tháng sinh, giờ sinh hay giới tính. Việt Viêm Tử viết rằng không cần thiết an hai sao này, vì môn Tử Vi thường gọi luôn hai cung Thìn, Tuất là "La Võng chi địa"[2]. Vì vậy "Mệnh ở La Võng" nghĩa là cung Mệnh đóng ở Thìn hoặc Tuất.

Về chữ, "La" là lưới bủa trên trời, "Võng" là lưới giăng dưới đất. Việt Viêm Tử viết: "Thiên-La Địa-Võng là cái lưới trên trời, hàng rào ở đất"[2]. Vân Đằng Thái Thứ Lang xếp cả hai sao vào hành Thổ và tóm nghĩa là kìm hãm, gây rắc rối, ngăn trở công việc, chủ sự bắt bớ, giam cầm[1]. Nguyễn Phát Lộc ghi nghĩa tương tự nhưng thêm hai giới hạn: nghĩa hình ngục, kiện tụng "chỉ có khi nào La Võng đi kèm với sát tinh hay hình tinh", và hai sao "chỉ dùng để xem hạn"[4].

Vì sao Thìn và Tuất lại được gọi là La Võng?

Để hiểu tên gọi, các sách đặt Thìn và Tuất vào nhóm tứ mộ của địa bàn. Việt Viêm Tử viết: "4 cung Thìn Tuất Sửu Mùi thường gọi là Tứ-Mộ"[2]. Thiên Lương viết: "Bốn mộ cung Thìn Tuất Sửu Mùi là nơi xuất phát và cũng là nơi tập trung của ngũ hành. Thìn Tuất là dương, Sửu Mùi là âm"[3].

Thiên Lương tự đặt câu hỏi: Thìn, Tuất đều là cung dương, gọi Thìn là Thiên La thì hợp, còn gọi Tuất là Địa Võng "có vẻ trái lý". Ông giải thích bằng thế lưỡng nghi trên địa bàn: từ Dần đến Thân thuộc phạm vi Thái dương, từ Thân đến Dần thuộc Thái âm; thuộc dương là Thiên, thuộc âm là Địa. Thìn nằm trong nửa Thái dương nên mang tên Thiên La, Tuất nằm trong nửa Thái âm nên mang tên Địa Võng. Cũng theo ông, Thìn, Tuất là hai cung xuất phát, Sửu, Mùi là hai cung tập trung[3].

Việt Viêm Tử đưa một cách giải thích khác: Sửu, Mùi là "thổ ngoại", thổ đã thành, còn Thìn, Tuất là nơi "thổ hư trung", thổ còn thu vào hoặc phát ra để thành các hành khác; theo sách, vì thế Thìn, Tuất mới gọi là La Võng chi địa[2].

Đà La và mối liên hệ với La Võng

Điểm riêng của Thiên Lương là gắn La Võng với sao Đà La. Ông viết: "Đà la ở Thìn là Thiên La, ở Tuất là Địa võng", và hai cung Thìn, Tuất chỉ được gọi là La Võng chi địa khi có Đà La đóng ở đó; ngoài trường hợp ấy, theo ông, Mệnh hay Thân ở Thìn, Tuất không phải là thế bó tay. Câu tóm của ông: "Tóm lại Thiên la địa võng là Đà la, Đà la đắc địa ở tứ sinh mà hãm địa ở tứ mộ"[3]. Ba sách còn lại không đặt điều kiện này: Tử Vi đẩu số tân biên, Tử Vi áo bí biện chứng học và Tử Vi tổng hợp coi Thìn, Tuất là La Võng ở mọi lá số.

Thiên Lương viết tiếp: "Hai cung Thìn Tuất là nơi phát xuất tất cả cái gì bạo ác của Đà la, không như 2 cung Sửu Mùi là nơi tập trung gò bó lại"[3]. Theo ông, Sửu, Mùi vẫn là "đất thao túng múa gậy trong vườn hoang", nhưng không bằng Thìn, Tuất.

Các sao đóng tại Thìn và Tuất được luận như thế nào?

Việt Viêm Tử lấy Tử Vi, Thiên Tướng làm thí dụ: hai sao này ở Thìn, Tuất cần Kình Dương hoặc một sao hung nhập miếu để phá lưới, phá rào thì mới "có đất mà tung hoành"; không có thì ví như vướng rào, mắc lưới, "anh hùng vô dụng võ chi địa". Ở phần phú, sách ví Tử Vi, Thiên Tướng ở Thìn, Tuất như cọp mắc lưới, vì Phá Quân hãm địa luôn ở cung xung chiếu, và gọi Kình Dương là thanh gươm phá hết rào lưới[2]. Tử Vi đẩu số tân biên chép câu phú "Cự, Đồng nhi phùng La, Võng, ngộ Khoa tinh, thoại thuyết Lịch Sinh" và giảng: cung Mệnh ở Thìn, Tuất có Cự Môn hay Thiên Đồng, gặp Hóa Khoa, là người có tài du thuyết[1].

Thiên Lương ghi lại một thuyết: "một khi Mệnh hay Thân ở La Võng thì phải có Hình Kình cắt lưới toang ra mới có phương kế thành công được"[3]. Ông không nhận thuyết này làm của mình mà kể nó trong số những cách nói "muôn hình vạn trạng" người học gặp phải.

Thiên Lương còn nêu một luật an sao liên quan tới bốn cung mộ: Văn Khúc so với Văn Xương "tán ở Thìn Tuất, tụ ở Sửu Mùi", Hữu Bật so với Tả Phù cũng vậy[3]. Tính theo cách an hai cặp sao này thì đúng như thế: Văn Xương, Văn Khúc đồng cung ở Mùi (sinh giờ Mão) hoặc ở Sửu (sinh giờ Dậu) và đứng đối nhau ở Thìn, Tuất (sinh giờ Tý, giờ Ngọ); Tả Phù, Hữu Bật đồng cung ở Mùi (sinh tháng Tư) hoặc ở Sửu (sinh tháng Mười) và đứng đối nhau ở Thìn, Tuất (sinh tháng Giêng, tháng Bảy).

Bảng đối chiếu bốn cung tứ mộ

CungÂm dương (Thiên Lương)Vai trò (Thiên Lương)Tên gọiThổ (Việt Viêm Tử)
ThìnDươngXuất phátThiên LaThổ hư trung
TuấtDươngXuất phátĐịa VõngThổ hư trung
SửuÂmTập trungKhông có tên riêngThổ ngoại
MùiÂmTập trungKhông có tên riêngThổ ngoại

Bảng trên xếp lại điều Thiên Lương ghi trong Tử Vi nghiệm lý[3] và Việt Viêm Tử ghi trong Tử Vi áo bí biện chứng học[2]; tên Thiên La, Địa Võng theo Tử Vi đẩu số tân biên[1].

Theo Thiên Lương, tuổi nào gặp La Võng?

Vì gắn La Võng với Đà La, Thiên Lương xét theo thiên can năm sinh, là yếu tố định vị trí Đà La: "Mười tuổi hàng Can, 5 tuổi Giáp Đinh Kỷ Canh Quí không tơ hào liên luỵ La Võng, còn lại Ất Bính Mậu phải để ý Thiên La, Tân Nhâm nên thận trọng ở Địa võng"[3]. Theo cách an thông dụng, cũng là cách Tử Vi đẩu số tân biên ghi (Đà La ở cung đằng sau cung an Lộc Tồn), Đà La đóng ở Thìn với tuổi Bính, tuổi Mậu và đóng ở Tuất với tuổi Nhâm. Thiên Lương kể thêm tuổi Ất và tuổi Tân vì ông an Kình Dương, Đà La đổi chỗ cho nhau tuỳ âm dương, nam nữ.

Thiên Lương nêu một trường hợp riêng: tuổi Nhâm Tuất mà Mệnh, Thân đồng cung thì ông coi là "sinh bất phùng thời"; cũng tuổi ấy mà Thân cư Phúc Đức thì ông viết là người "thành công phi thường vượt mức khi đến tuổi 45", lúc mà theo ông Triệt đã phá Đà La ở Mệnh và Tuần ở Thân được tháo gỡ[3]. Đây là nhận định riêng của Thiên Lương.

Có phải cứ ở Thìn Tuất là xấu?

Không hẳn, theo chính các sách. Việt Viêm Tử viết Thìn, Tuất còn có tên "xương long chi địa", và cung Tuất có Thiên Phủ gặp Hồng Loan, Hóa Quyền, Tả Phù, Hữu Bật cùng sao Mộ là "tối hảo"; sách cũng nhắc Thiên Cơ, Thiên Lương thuộc Mộc mà miếu địa ở Tuất, nhưng không giải thích vì sao ở đoạn này[2]. Thiên Lương nhận xét rằng một số danh nhân xưa nay có Mệnh, Thân ở chính hai cung này, và trong 14 chính tinh, nhóm Tử Phủ, Sát Phá Tham ngại La Võng hơn nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương[3].

Gợi ý của Nhật Nguyệt

Khi tra cứu, trước hết xem cung Mệnh, cung Thân hay cung hạn có nằm ở Thìn hoặc Tuất không. Kế đó xem Đà La có đóng ở cung ấy không, vì với Thiên Lương đó là điều kiện để gọi là La Võng, còn ba sách kia không đặt điều kiện này. Sau cùng đối chiếu chính tinh ở cung ấy với lời từng sách ở trên và ghi rõ đang đọc theo sách nào.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Thiên La Địa Võng trong Tử Vi có phải là hai sao không?

Đúng, Thiên La và Địa Võng là hai sao phụ tinh trong Tử Vi, nhưng vị trí của chúng cố định tuyệt đối: Thiên La luôn ở cung Thìn, Địa Võng luôn ở cung Tuất. Vì vậy nhiều thầy số không cần an hai sao này mà chỉ gọi tên hai cung là La Võng.

Mệnh ở cung Thìn hoặc Tuất có phải là xấu không?

Không hẳn, theo chính các sách. Tử Vi áo bí biện chứng học ví Tử Vi, Thiên Tướng ở Thìn, Tuất như vướng lưới nếu không có Kình Dương hay sao hung nhập miếu, nhưng cũng ghi cung Tuất có Thiên Phủ gặp Hồng Loan, Hóa Quyền, Tả Phù, Hữu Bật là rất tốt. Thiên Lương cho rằng Thìn, Tuất chỉ là La Võng khi có Đà La đóng ở đó.

Theo Thiên Lương, tuổi nào gặp La Võng?

Thiên Lương trong Tử Vi nghiệm lý gắn La Võng với sao Đà La nên xét theo can năm sinh: ông kể tuổi Ất, Bính, Mậu với Thiên La (cung Thìn), tuổi Tân, Nhâm với Địa Võng (cung Tuất), còn Giáp, Đinh, Kỷ, Canh, Quý thì không liên quan. Theo cách an Đà La thông dụng, chỉ tuổi Bính, Mậu có Đà La ở Thìn và tuổi Nhâm có Đà La ở Tuất. Đây là cách hiểu riêng của Thiên Lương.

Bài này thuộc chủ đề Tử Vi Đẩu Số. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Tử Vi Đẩu Số.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdVân Đằng Thái Thứ Lang (1956). Tử Vi đẩu số tân biên. Sài Gòn
  2. ↑ abcdefgViệt Viêm Tử (Hà Lạc Dã Phu). Tử Vi áo bí biện chứng học
  3. ↑ abcdefghijThiên Lương. Tử Vi nghiệm lý toàn thư (Tử Vi nghiệm lý, in lần đầu 1974)
  4. ↑Nguyễn Phát Lộc. Tử Vi tổng hợp
#ThiênLaĐịaVõng#TửVi#CungThìn#CungTuất#TứMộ#ĐàLa#TửViĐẩuSốTânBiên#TửViNghiệmLýToànThư