Nhật Nguyệt

Tri thức / Tây phương

Tâm lý học

Thứ Sáu ngày 13 có làm chứng khoán giảm không, và người Việt có "ngày xấu" tương tự không?

Chia sẻ:
西
TL;DR: Các nghiên cứu về lợi suất chứng khoán ngày thứ Sáu 13 cho kết quả trái ngược nhau. Trên thị trường Mỹ, Kolb và Rodriguez (1987) công bố mức lợi suất thấp hơn đáng kể về mặt thống kê; tuy nhiên, khi dùng chuỗi dữ liệu dài hơn, Dyl và Maberly (1988) nhận thấy hiệu ứng này biến mất, thậm chí lợi suất có phần cao hơn. Lucey (2000) khảo sát trên phạm vi quốc tế rộng và liên hệ kết quả với giả định thị trường hiệu quả. Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu ảnh hưởng của ngày xấu âm lịch (tam nương, nguyệt kỵ) lên thị trường chứng khoán Việt Nam. Nếu tồn tại hiệu ứng thực sự, nó cũng rất nhỏ, không ổn định, và cần tách bạch với việc hệ tâm linh "đoán đúng".

Nhãn trong bài:Tư liệu lịch sửQuan niệm dân gianChưa đủ bằng chứngCách đọc nhãn

Câu trả lời ngắn: có hay không?

Không có bằng chứng ổn định cho thấy thứ Sáu ngày 13 làm chứng khoán giảm. Các nghiên cứu về chủ đề này cho kết quả trái ngược nhau, và hiệu ứng, nếu có, rất nhỏ, không lặp lại được trên các chuỗi dữ liệu khác nhau. Đây là một câu hỏi kinh điển của tài chính hành vi: nếu niềm tin đủ phổ biến để đổi hành vi giao dịch, giá có phản ánh niềm tin ấy không?

Ba nghiên cứu thường được trích dẫn nhất là Kolb và Rodriguez (1987)2, Dyl và Maberly (1988)3, và Lucey (2000)1. Hai bài đầu đối chọi trực tiếp: bài sau phản biện bài trước bằng dữ liệu dài hơn. Bài thứ ba mở rộng ra nhiều thị trường quốc tế. Kết quả không thống nhất, và chính sự không thống nhất ấy là câu trả lời.

Bảng: các nghiên cứu về thứ Sáu ngày 13

Nghiên cứuThị trườngGiai đoạn dữ liệuKết quả chính
Kolb và Rodriguez (1987)2Cổ phiếu MỹLợi suất thứ Sáu 13 thấp hơn có ý nghĩa so với các thứ Sáu khác
Dyl và Maberly (1988)3Chỉ số S&P 5001940-1987Lợi suất thứ Sáu 13 không thấp hơn, còn nhỉnh hơn các thứ Sáu khác; tác giả kết luận dị thường không tồn tại
Lucey (2000)1Nhiều thị trường chứng khoán quốc tếKiểm tra lợi suất thứ Sáu 13 và bàn về ý nghĩa đối với giả định thị trường hiệu quả

Các ô trống là chỗ thẻ thư mục của nguồn không nêu con số cụ thể. Bài viết này không suy diễn thêm những gì nguồn không nói.

Loại tri thức: Tư liệuTư liệu lịch sử. Có văn bản, niên đại và nguồn; số chú thích đi kèm trỏ tới nguồn ấy. Năm loại nhãnTheo báo cáo của Kolb và Rodriguez (1987), lợi suất cổ phiếu Mỹ vào thứ Sáu ngày 13 thấp hơn một cách có ý nghĩa so với các thứ Sáu khác2. Đây là kết quả mức B: nó từng được công bố trên một tạp chí bình duyệt, nhưng chưa được lặp lại ổn định trên các chuỗi dữ liệu khác, và chính nó đã bị phản biện ngay sau đó.

Dyl và Maberly (1988) dùng chỉ số S&P 500 giai đoạn 1940-1987 và thấy lợi suất ngày thứ Sáu 13 không thấp hơn, thậm chí còn nhỉnh hơn các thứ Sáu khác. Hai tác giả kết luận đây là một dị thường không có thật3. Đây là kết quả mức A trong phạm vi dữ liệu và phương pháp của họ: chỉ số S&P 500, giai đoạn 1940-1987. Kết quả này không tự động đúng cho mọi thị trường khác.

Lucey (2000) đã khảo sát lợi suất ngày thứ Sáu 13 tại nhiều thị trường chứng khoán quốc tế, đồng thời thảo luận hàm ý của các kết quả thu được đối với giả định thị trường hiệu quả1. Đây là mức A trong phạm vi các thị trường mà tác giả khảo sát. Bài viết này chỉ dẫn điều tóm tắt của nguồn nói, không thêm con số hay cỡ mẫu mà nguồn không cung cấp.

Vì sao câu hỏi này quan trọng với giả định thị trường hiệu quả?

Giả định thị trường hiệu quả nói rằng giá đã phản ánh mọi thông tin sẵn có. Nếu một ngày trong lịch dương lịch, chỉ vì nó rơi vào ngày 13 và là thứ Sáu, mà lợi suất trung bình thấp hơn một cách hệ thống, thì đó là một mảnh thông tin công khai, miễn phí, ai cũng biết, mà giá chưa phản ánh hết. Một nhà đầu tư có thể bán khống vào thứ Năm và mua lại vào thứ Sáu để hưởng chênh lệch. Nếu ai cũng làm vậy, chênh lệch biến mất.

Đó là lý do câu hỏi này không chỉ là chuyện mê tín. Nó là một phép thử nhỏ, sạch, dễ kiểm chứng cho một giả định lớn của kinh tế tài chính. Lucey (2000) đặt vấn đề đúng ở tầng ấy: kết quả về thứ Sáu 13 có ý nghĩa gì đối với nền tảng triết học của kinh tế tài chính1.

Khi kết quả không ổn định, có hai cách đọc. Cách thứ nhất: hiệu ứng có thật nhưng nhỏ đến mức bị nhiễu bởi các yếu tố khác, nên nghiên cứu này thấy, nghiên cứu kia không. Cách thứ hai: hiệu ứng không có thật, và kết quả dương tính ban đầu chỉ là sản phẩm của việc chọn dữ liệu, chọn giai đoạn, hoặc chọn cách kiểm định. Cả hai cách đọc đều hợp lý với dữ liệu hiện có. Bài viết này không chọn một bên.

Nếu niềm tin đổi hành vi, kết quả có thể đổi theo

Có một khả năng nằm giữa hai cực "có thật" và "không có thật": hiệu ứng có thể sinh ra từ chính niềm tin. Nếu đủ nhiều người tin rằng thứ Sáu 13 là ngày xấu và chủ động bán ra hoặc không mua vào, thì áp lực bán ấy có thể đẩy giá xuống trong ngắn hạn. Khi ấy, hiệu ứng là thật, nhưng nó không phải bằng chứng cho việc ngày ấy vốn dĩ xấu. Nó là bằng chứng cho việc niềm tin đã đổi hành vi, và hành vi đã đổi kết quả.

Nói cách khác: nếu thấy hiệu ứng, ta không được gọi đó là "hệ tâm linh đoán đúng". Và nếu không thấy hiệu ứng, ta cũng không được phủ nhận rằng niềm tin ấy có ảnh hưởng tới hành vi của một số người. Hai chuyện khác nhau. Bài viết này bàn về phép thử và dữ liệu, không bàn về việc ai đúng ai sai trong đời sống riêng của họ.

Ngày xấu của lịch Việt có được kiểm tra chưa?

Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnChưa có nghiên cứu nào trong danh mục nguồn của bài này về ảnh hưởng của ngày xấu âm lịch (tam nương, nguyệt kỵ) tới lợi suất chứng khoán Việt Nam. Đây là một chỗ trống của tài liệu, không phải một kết quả. Không có nghĩa là không có hiệu ứng; cũng không có nghĩa là có. Chỉ đơn giản là chưa ai công bố nghiên cứu mà bài này tra được.

Loại tri thức: Dân gianQuan niệm dân gian. Điều người ta tin, kiêng hay truyền miệng, ghi lại như một niềm tin chứ không như một sự thật đã kiểm. Năm loại nhãnTrong dân gian Việt Nam, một số ngày âm lịch được xem là ngày xấu để khởi sự, ký kết, mua bán lớn. Các khái niệm như tam nương, nguyệt kỵ thuộc lớp quan niệm này: người ta kiêng, truyền miệng, và đôi khi dịch chuyển lịch làm ăn theo đó. Nhưng niềm tin ấy có đổi hành vi giao dịch trên thị trường chứng khoán hay không, và nếu có thì đổi bao nhiêu, là câu hỏi chưa có dữ liệu.

Việc thiếu nghiên cứu ở Việt Nam không cho phép suy từ kết quả nước ngoài ra. Các nghiên cứu về thứ Sáu 13 được làm trên thị trường Mỹ và một số thị trường quốc tế, với cấu trúc nhà đầu tư, khung pháp lý, và thành phần tôn giáo tín ngưỡng khác. Kết quả ở Mỹ không tự động đúng cho Việt Nam, và ngược lại. Quy tắc đơn giản: kết quả làm ở nước nào, trên nhóm người nào, thì chỉ nói về nước ấy, nhóm ấy, cho tới khi có nghiên cứu lặp lại ở nơi khác.

Cùng họ với những niềm tin số học khác

Thứ Sáu 13 không phải niềm tin duy nhất có thể kiểm tra bằng dữ liệu giá. Cùng họ với nó là niềm tin vào con số may mắn trong giao dịch: một số nhà đầu tư ưa những mã cổ phiếu, con số, hoặc ngày có chữ số mang ý nghĩa tốt theo văn hóa của họ. Câu hỏi đặt ra giống hệt: nếu niềm tin ấy đủ phổ biến và đủ mạnh, nó có để lại dấu vết trong lợi suất không? Chúng tôi đã bàn kỹ câu hỏi ấy trong bài Nhà đầu tư chuộng số 8 có lãi hơn không.

Điểm chung của các phép thử loại này là: chúng kiểm tra được, và kết quả thường nhỏ, nhạy với cách chọn mẫu, và không ổn định qua thời gian. Điều đó không làm niềm tin trở nên vô nghĩa trong đời sống của người tin. Nó chỉ có nghĩa là, khi đã đưa lên bàn cân dữ liệu giá, ta phải chấp nhận rằng cây cân ấy có thể trả về kết quả khác với điều ta mong.

Đọc kết quả nghiên cứu cho đúng

Một kết quả "có ý nghĩa thống kê" không đồng nghĩa với "lớn" hay "lặp lại được". Trong tài chính, một hiệu ứng có ý nghĩa thống kê nhưng chỉ vài phần nghìn phần trăm mỗi ngày thì gần như không dùng được để giao dịch sau khi trừ phí và trượt giá. Và một hiệu ứng thấy trên một giai đoạn có thể biến mất khi kéo dài chuỗi, đúng như trường hợp Kolb và Rodriguez (1987)2 bị Dyl và Maberly (1988)3 phản biện bằng dữ liệu 1940-1987.

Khi đọc một bài báo về dị thường lịch, nên hỏi bốn câu. Dữ liệu từ thị trường nào, giai đoạn nào? Cách định nghĩa "ngày thứ Sáu 13" và nhóm so sánh là gì? Có kiểm tra trên nhiều thị trường, nhiều giai đoạn con không? Và kết quả có lặp lại ở nghiên cứu độc lập khác không? Với thứ Sáu 13, câu trả lời cho câu hỏi cuối cùng là: chưa, hoặc lặp lại theo hướng ngược lại.

Kết luận: không có hiệu ứng ổn định, nguồn còn tranh luận

Tính đến các nghiên cứu trong danh mục này, không có hiệu ứng ổn định của thứ Sáu ngày 13 lên lợi suất chứng khoán. Kolb và Rodriguez (1987) từng báo cáo một hiệu ứng âm2, Dyl và Maberly (1988) phản biện và thấy hiệu ứng không tồn tại trên S&P 500 giai đoạn 1940-19873, Lucey (2000) mở rộng ra nhiều thị trường quốc tế và đặt vấn đề ở tầng giả định thị trường hiệu quả1. Nguồn còn tranh luận, và bài viết này giữ nguyên sự tranh luận ấy thay vì chọn một bên.

Chỗ bằng chứng còn thiếu thì nói rõ: không có nghiên cứu nào trong danh mục này về ngày xấu âm lịch trên thị trường Việt Nam. Đó là một khoảng trống để ngỏ, không phải một kết luận. Nếu ai đó muốn kiểm tra, dữ liệu giá của thị trường Việt Nam là dữ liệu công khai, và câu hỏi đủ cụ thể để trả lời bằng phương pháp chuẩn. Cho tới khi có kết quả ấy, điều trung thực nhất là nói: chưa biết.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Thứ Sáu ngày 13 có thật sự làm chứng khoán giảm không?

Không có bằng chứng ổn định. Kolb và Rodriguez (1987) từng báo cáo lợi suất thứ Sáu 13 trên thị trường Mỹ thấp hơn có ý nghĩa, nhưng Dyl và Maberly (1988) dùng chuỗi S&P 500 giai đoạn 1940-1987 và thấy hiệu ứng không tồn tại, thậm chí lợi suất còn nhỉnh hơn. Lucey (2000) kiểm tra nhiều thị trường quốc tế và bàn về ý nghĩa đối với giả định thị trường hiệu quả. Kết quả không thống nhất, hiệu ứng nếu có thì nhỏ và không lặp lại được.

Người Việt có "ngày xấu" tương tự thứ Sáu 13 không, và nó có ảnh hưởng tới chứng khoán không?

Trong dân gian Việt Nam có những ngày âm lịch được xem là ngày xấu để khởi sự, như tam nương và nguyệt kỵ. Tuy nhiên, trong danh mục nguồn của bài này chưa có nghiên cứu nào kiểm tra ảnh hưởng của các ngày ấy lên lợi suất chứng khoán Việt Nam. Đây là chỗ trống của tài liệu, không phải một kết quả, và không thể suy từ nghiên cứu nước ngoài ra cho thị trường Việt Nam.

Nếu hiệu ứng thứ Sáu 13 sinh ra từ chính niềm tin thì gọi là gì?

Đó là trường hợp niềm tin đổi hành vi và hành vi đổi kết quả: nếu đủ nhiều người tin ngày ấy xấu và chủ động bán ra hoặc không mua vào, áp lực bán có thể đẩy giá xuống trong ngắn hạn. Khi ấy hiệu ứng là thật, nhưng nó không phải bằng chứng cho việc ngày ấy vốn dĩ xấu. Cần phân biệt rõ hai chuyện: hiệu ứng tâm lý đám đông, và tính đúng đắn của niềm tin tâm linh.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdeBrian M. Lucey (2000). Friday the 13th and the philosophical basis of financial economics. Journal of Economics and Finance 24(3): 294-301, Journal of Economics and Finance 24(3): 294-301Kiểm tra lợi suất ngày thứ Sáu 13 trên nhiều thị trường chứng khoán quốc tế và bàn về ý nghĩa của kết quả đối với giả định thị trường hiệu quả.
  2. ↑ abcdeROBERT W. KOLB và RICARDO J. RODRIGUEZ (1987). Friday the Thirteenth: ‘Part VII’: A Note. The Journal of Finance 42(5): 1385-1387, The Journal of Finance 42(5): 1385-1387Báo cáo lợi suất cổ phiếu Mỹ vào thứ Sáu ngày 13 thấp hơn có ý nghĩa so với các thứ Sáu khác. Dyl và Maberly (1988) dùng chuỗi dài hơn và thấy hiệu ứng không tồn tại.
  3. ↑ abcdeEDWARD A. DYL và EDWIN D. MABERLY (1988). The Anomaly That Isn't There: A Comment on Friday the Thirteenth. The Journal of Finance 43(5): 1285-1286, The Journal of Finance 43(5): 1285-1286Phản hồi Kolb và Rodriguez bằng chỉ số S&P 500 giai đoạn 1940-1987: lợi suất ngày thứ Sáu 13 không thấp hơn, còn nhỉnh hơn các thứ Sáu khác. Tác giả kết luận đây là dị thường không có thật.
#ThứSáuNgày13#TâmLýHọcTàiChính#TàiChínhHànhVi#NgàyXấuChứngKhoán#TamNương#NguyệtKỵ#ThịTrườngHiệuQuả