'Tâm linh' và 'du lịch tâm linh' có nghĩa gì khác trước?
Trong tiếng Việt hôm nay, "tâm linh" thường được dùng để chỉ những gì thuộc đời sống tinh thần, niềm tin vào thế lực siêu nhiên, hoặc các hoạt động liên quan đến tôn giáo và tín ngưỡng. Loại tri thức: Trường phái: Đinh Hồng HảiDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnNhưng theo Đinh Hồng Hải (2021), đây là một từ dùng mới xuất hiện gần đây, và nghĩa hiện nay của nó khác hẳn nghĩa ghi trong các từ điển thế kỷ 20. Ông truy từ nguyên của "tâm linh" và "du lịch tâm linh", rồi đặt chúng vào bối cảnh ra đời và tồn tại trong xã hội Việt Nam đương đại, từ thời kỳ Đổi mới đến nay.
Theo tác giả, đây là hai từ ngữ chỉ mới xuất hiện trong xã hội Việt Nam ở giai đoạn gần đây, dùng để nói về những sinh hoạt nằm ở giao điểm giữa tôn giáo, tín ngưỡng với kinh tế và du lịch. Nghiên cứu sử dụng quan điểm lý thuyết hàng hoá hoá của K. Marx và hành vi học của Ludwig v. Mises để xem xét các vấn đề liên quan trong khoảng thời gian từ Đổi mới đến nay.
Công trình của Đinh Hồng Hải (2021) đặt hai khái niệm này bên cạnh các thuật ngữ phương Tây để so sánh: "spirituality" gắn với thuyết duy linh, còn "pilgrimage" (hành hương) gắn với những tôn giáo lớn như Kitô giáo hay Islam giáo. Loại tri thức: Trường phái: Đinh Hồng HảiDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnỞ Việt Nam, theo tác giả, "tâm linh" và "du lịch tâm linh" lại nảy sinh từ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng làn sóng du lịch bùng nổ sau Đổi mới.
Điều này có nghĩa là khi dùng chữ "tâm linh" trong tiếng Việt hôm nay, người nói thường không còn dùng nó với nghĩa cũ trong từ điển, mà dùng nó như một khái niệm gắn với thị trường và tiêu dùng. Đây là điểm cần lưu ý khi đọc bất kỳ bài viết nào về chủ đề này.
Festival Huế tái dựng tế Nam Giao như thế nào?
Oscar Salemink (2007) nghiên cứu Festival Huế và cho thấy nghi lễ cung đình được tái dựng như một sản phẩm di sản phục vụ du lịch. Nghiên cứu này có tiêu đề "The emperor's new clothes: Re-fashioning ritual in the Huế Festival", đăng trên Journal of Southeast Asian Studies.
Loại tri thức: Trường phái: SaleminkDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnSalemink (2007) mô tả Festival Huế như một sự kiện văn hoá định kỳ, tại đó những nghi lễ cung đình, tiêu biểu là tế Nam Giao, được dàn dựng lại và tái tạo theo dạng một sản phẩm di sản phục vụ du khách. Tác giả gọi quá trình đó là "re-fashioning": nghi lễ được định hình lại cho phù hợp với nhu cầu của thị trường du lịch.
Điều đáng chú ý là việc tái dựng này không chỉ đơn thuần là phục hồi một nghi lễ cổ, mà còn là một hoạt động có chủ đích nhằm tạo ra sản phẩm văn hoá thu hút du khách. Nghiên cứu của Salemink (2007) cho thấy nghi lễ trong bối cảnh này vừa mang tính biểu tượng văn hoá, vừa mang tính kinh tế, và hai khía cạnh này không tách rời nhau.
Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam và du lịch An Giang
Công trình của Hồ Thị Đào và Nguyễn Quốc Bình (2021) bàn về giá trị văn hoá mà tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ Núi Sam đóng góp cho ngành du lịch An Giang.
Hồ Thị Đào và Nguyễn Quốc Bình (2021) lập luận rằng tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ Núi Sam cùng lễ hội Vía Bà vừa là một sản phẩm văn hoá mang nét riêng, vừa là thành tố không thể thiếu trong đời sống tâm linh của cư dân An Giang. Sang giai đoạn gần đây, khi du lịch phát triển, chính quyền, nhà quản lý và doanh nghiệp đã đưa tín ngưỡng ấy trở thành một sản phẩm du lịch đặc trưng của địa phương.
Theo hai tác giả này, truyền thuyết về Bà Chúa Xứ tại Núi Sam (An Giang) đã tồn tại qua nhiều thế kỷ; cư dân địa phương hết mực tôn kính Bà, và lòng tôn kính ấy bộc lộ qua nhiều hình thức: dựng cơ sở thờ tự, bài trí tượng thờ, may mặc trang phục, dâng lễ vật, và đặc biệt là nghi thức cúng cùng việc tổ chức long trọng lễ hội Vía Bà mỗi năm.
Về phần hội, hai tác giả Hồ Thị Đào và Nguyễn Quốc Bình (2021) liệt kê nhiều hình thức sinh hoạt: văn nghệ gắn với bốn dân tộc, thi đấu thể thao, vui chơi giải trí, triển lãm tranh nghệ thuật và các cuộc thi ẩm thực. Những hoạt động này kéo đông đảo du khách tới tham gia, và được tổ chức đáo lệ hằng năm.
Xét từ góc độ khai thác, công trình này khẳng định rằng tại An Giang, Núi Sam cùng miếu Bà Chúa Xứ và lễ hội Vía Bà đã quy tụ đầy đủ những yếu tố làm nên một điểm đến lôi cuốn du khách bốn phương, đồng thời là nguồn tài nguyên du lịch văn hoá đáng quý cho ngành du lịch của tỉnh.
Loại tri thức: Dân gianQuan niệm dân gian. Điều người ta tin, kiêng hay truyền miệng, ghi lại như một niềm tin chứ không như một sự thật đã kiểm. Năm loại nhãnTrong dân gian, người dân địa phương tin vào sự linh thiêng của Bà Chúa Xứ, và niềm tin này thể hiện qua các nghi thức cúng bái, lễ vật dâng cúng.
Loại tri thức: Trường phái: Hồ Thị Đào và Nguyễn Quốc BìnhDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnHồ Thị Đào và Nguyễn Quốc Bình (2021) đồng thời nêu lên khía cạnh trái chiều: niềm tin của người dân vào Bà Chúa Xứ vốn chỉ là tín ngưỡng, nhưng có lúc bị biến thành mê tín dị đoan, và điều đó gián tiếp tạo lợi ích cho những ai sống quanh miếu Bà, những người muốn trục lợi từ lòng tin của khách hành hương và du khách vào sự linh thiêng của Bà.
Cũng theo công trình này, du lịch là hiện tượng có hai mặt: một mặt nó thúc đẩy kinh tế, văn hoá, xã hội phát triển; mặt khác, chính nó lại gây suy thoái môi trường tự nhiên, môi trường văn hoá, xã hội, và việc khai thác du lịch dễ khiến bản sắc văn hoá của từng địa phương, từng dân tộc bị mai một dần.
Làng biển Thai Dương Hạ: lễ cầu ngư dưới tác động du lịch
Nguyễn Thăng Long (2020) nghiên cứu đời sống tín ngưỡng, lễ hội của cư dân làng Thai Dương Hạ, chỉ ra những giá trị truyền thống và xu hướng biến đổi trong giai đoạn hiện nay.
Theo Nguyễn Thăng Long (2020), Thai Dương Hạ là ngôi làng ven biển có lịch sử hình thành lâu đời trên vùng đất Thuận Hoá xưa. Toạ lạc ở sinh cảnh một bên là biển, một bên là đầm phá và ruộng đồng, cư dân Thai Dương Hạ đã sáng tạo nên những nét văn hoá đa dạng vừa mang đậm yếu tố của cư dân biển, đầm phá và vùng nội đồng.
Loại tri thức: Tư liệuTư liệu lịch sử. Có văn bản, niên đại và nguồn; số chú thích đi kèm trỏ tới nguồn ấy. Năm loại nhãnNghiên cứu chỉ ra rằng trong hoạt động khai thác kinh tế biển với điều kiện bấp bênh, nguy hiểm, bất trắc, từ đó hình thành nên hệ thống niềm tin vào các thế lực siêu nhiên trong đời sống tín ngưỡng của họ1.
Qua khảo sát của Nguyễn Thăng Long (2020), thực hành tín ngưỡng và lễ hội ở Thai Dương Hạ hiện nay đã có nhiều thay đổi, từ khung thời gian, quy mô cho tới các lễ tiết. Trước kia, vào những năm đúng kỳ hạn "tam niên đáo lệ", dân làng tổ chức lễ hội cầu ngư kéo dài 3 đến 5 ngày; còn ngày nay, lễ hội chỉ diễn ra trong 1 đến 2 ngày. Tương tự, tục thờ cúng cá Ông hiện chỉ còn giữ lại lễ cúng vào ngày kỵ Ông ngư tại lăng Ông, lễ vật vẫn theo truyền thống nhưng đã giản lược phần nào.
Cũng theo công trình này, đời sống ngày càng sung túc hơn, và nhờ cách thức xã hội hoá, cộng đồng tổ chức tín ngưỡng, lễ hội với quy mô lớn hơn trước. Kinh tế tăng trưởng cũng là một lợi thế, đóng vai trò bệ đỡ giúp gìn giữ và khôi phục các sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội không chỉ ở làng Thai Dương Hạ mà còn ở nhiều địa phương khác trong cả nước.
Tuy vậy, công trình cũng chỉ ra mặt trái của tăng trưởng kinh tế: người dân dễ bị cuốn vào guồng mưu sinh, có khi lãng quên những giá trị văn hoá tinh thần cùng nhu cầu đời sống tâm linh; họ sẵn sàng bỏ tiền thay vì trực tiếp góp công vào các hoạt động tín ngưỡng, lễ hội.
Bàn về quá trình đô thị hoá, theo Nguyễn Thăng Long (2020), hiện nay làng Thai Dương Hạ giữ vai trò hạt nhân của thị trấn Thuận An. Việc đô thị Thuận An hình thành và phát triển từ năm 1999 trở đi nằm trong số những nguyên nhân chủ chốt khiến nhiều giá trị văn hoá của cư dân làng biển Thai Dương Hạ biến đổi. Nằm cách trung tâm thành phố Huế chỉ 12 km, thị trấn Thuận An chứng kiến hoạt động du lịch biển ngày một mạnh mẽ. Nhờ lợi thế ấy, hàng loạt khu du lịch nghỉ dưỡng đã và đang mọc lên, che khuất tầm nhìn, thu hẹp và làm biến dạng các di tích cùng không gian sinh hoạt tín ngưỡng của người dân.
Nghiên cứu cũng dẫn số liệu về kinh phí tổ chức lễ hội: theo tư liệu do ông P.B.M., 82 tuổi, người Thai Dương Hạ cung cấp, tổng số tiền mà các tổ chức và cá nhân trong nước lẫn ngoài nước đóng góp để chuẩn bị cho lễ hội đã chạm mức gần 600 triệu đồng. Con số này cho thấy quy mô lễ hội cầu ngư đang ngày càng lớn hơn nhờ sự hỗ trợ và đóng góp của đông đảo dân làng.
Loại tri thức: Dân gianQuan niệm dân gian. Điều người ta tin, kiêng hay truyền miệng, ghi lại như một niềm tin chứ không như một sự thật đã kiểm. Năm loại nhãnĐược hỏi về vị thần thờ trong miếu Thai Dương phu nhân, một cư dân 22 tuổi ở tổ dân phố Hải Tiến đáp: "không biết rõ thờ ai, chỉ nghe ông bà nói là trong miếu này thờ bà".
Nguyễn Thăng Long (2020) nhận định rằng nếu nhìn theo chiều hướng phát triển, các hình thái tín ngưỡng và giá trị lễ hội ở Thai Dương Hạ không hề bị đánh mất niềm tin, mà chỉ chuyển hoá và thay đổi trong hành vi. Dù vậy, trước những thách thức mới, câu hỏi đặt ra là phải làm thế nào để tín ngưỡng và lễ hội dân gian truyền thống không bị biến dạng.
Vì sao site dùng chữ 'tâm linh' dè dặt
Như đã trình bày, "tâm linh" trong tiếng Việt hôm nay là một từ mới, nghĩa hiện nay khác hẳn nghĩa trong từ điển thế kỷ 20. Khi site dùng chữ này, cần phân biệt rõ hai bình diện: một là niềm tin, tín ngưỡng của người thực hành; hai là sản phẩm du lịch mang tên "tâm linh" do thị trường tạo ra. Loại tri thức: Trường phái: Đinh Hồng HảiDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnĐinh Hồng Hải (2021) cho thấy "tâm linh" và "du lịch tâm linh" ra đời trong nền kinh tế thị trường và trào lưu du lịch bùng nổ sau Đổi mới, và được phân tích qua lý thuyết hàng hoá hoá tôn giáo.
Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnHiện chưa có số liệu thống kê đầy đủ về lượng khách du lịch tâm linh ở Việt Nam. Các nghiên cứu hiện có chủ yếu là nghiên cứu định tính, trường hợp cụ thể, chưa có khảo sát toàn quốc. Đây là khoảng trống cần được bổ sung trong tương lai.
Bảng đối chiếu các nghiên cứu
| Nghiên cứu | Đối tượng | Phương pháp | Kết quả chính |
|---|---|---|---|
| Đinh Hồng Hải (2021) | Từ nguyên và nghĩa mới của "tâm linh", "du lịch tâm linh" | Phân tích từ nguyên, lý thuyết hàng hoá hoá của Marx và hành vi học của Mises | Từ mới xuất hiện gần đây, nghĩa khác từ điển thế kỷ 20; ra đời trong kinh tế thị trường và du lịch bùng nổ sau Đổi mới |
| Salemink (2007) | Festival Huế, tái dựng tế Nam Giao | Nghiên cứu trường hợp | Nghi lễ cung đình được tái dựng như sản phẩm di sản phục vụ du lịch |
| Hồ Thị Đào và Nguyễn Quốc Bình (2021) | Tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ Núi Sam, An Giang | Nghiên cứu trường hợp | Tín ngưỡng được khai thác như sản phẩm du lịch; có mặt trái là nguy cơ mê tín dị đoan và khai thác quá mức |
| Nguyễn Thăng Long (2020) | Làng biển Thai Dương Hạ, Thừa Thiên Huế | Nghiên cứu trường hợp | Lễ hội cầu ngư biến đổi về thời gian, quy mô; kinh tế và du lịch tác động đến sinh hoạt tín ngưỡng |
Kết luận
Bài viết này giải thích một chữ mà site dùng hằng ngày, giúp người đọc tách tín ngưỡng khỏi sản phẩm du lịch mang tên nó. Theo Đinh Hồng Hải (2021), "tâm linh" và "du lịch tâm linh" là những từ mới, nghĩa hiện nay khác hẳn nghĩa trong từ điển thế kỷ 20. Các nghiên cứu về Festival Huế, miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam và làng biển Thai Dương Hạ cho thấy tín ngưỡng có thể được tái dựng, khai thác như sản phẩm du lịch, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc đánh giá tính linh nghiệm của tín ngưỡng. Chỗ bằng chứng còn thiếu là số liệu lượng khách du lịch tâm linh, hiện chưa có thống kê đầy đủ.
