Tới nội dung

Tri thức / Đông phương

Lịch âm

Tiết Đại Thử là gì, bắt đầu ngày nào và có tục lệ gì?

Lịch pháp và thiên văn Phép tính lịch pháp.

Tiết Đại Thử là gì, bắt đầu ngày nào và có tục lệ gì?

TL;DR: Đại Thử là tiết khí thứ 12 trong 24 tiết, trung khí của tháng sáu âm lịch, bắt đầu khi Mặt Trời tới 120 độ hoàng kinh, vào ngày 22 hoặc 23 tháng 7, và kéo dài tới khi Lập Thu bắt đầu ngày 7 hoặc 8 tháng 8. Đúng như tên gọi "nóng lớn", đây được coi là giai đoạn nóng nhất năm ở Bắc bán cầu. Ở Việt Nam tiết này không có lễ riêng; sách Tuế thời quảng ký chép ba hậu của tiết: cỏ mục hóa đom đóm, đất ẩm oi bức, mưa lớn theo mùa. Trong Bát Tự, Đại Thử không đổi tháng, người sinh trong tiết vẫn mang tháng Mùi.

Tiết Đại Thử là gì?

Đại Thử (大暑) là tiết khí thứ 12 trong hệ 24 tiết khí của lịch Đông Á. Chữ 大 nghĩa là lớn, 暑 nghĩa là nóng, nên tên tiết có nghĩa đen là "nóng lớn". Tiết này tiếp ngay sau Tiểu Thử và đứng trước Lập Thu, là trung khí cuối cùng của mùa hạ.

Trong sách cổ, Đại Thử là trung khí của tháng sáu âm lịch. Sách Tuế thời quảng ký (歲時廣記) dẫn sách Tam thống lịch (三統厯): "小暑為六月節大暑為六月中氣小暑大暑者就極熱之中分為小大月初為小月半為大"[3], nghĩa là Tiểu Thử là tiết của tháng sáu, Đại Thử là trung khí của tháng sáu; hai tên ấy chia cái nóng cực điểm thành nhỏ và lớn, đầu tháng là nhỏ, giữa tháng là lớn. Vì là trung khí chứ không phải tiết, Đại Thử không mở đầu một tháng mới trong cách chia tháng theo tiết khí.

Tiết Đại Thử bắt đầu ngày nào?

Đại Thử bắt đầu khi Mặt Trời tới kinh độ hoàng đạo 120 độ và kết thúc khi Mặt Trời tới 135 độ, lúc tiết Lập Thu bắt đầu. Tính theo giờ Việt Nam, từ năm 1900 tới 2100 Đại Thử bắt đầu ngày 22 hoặc 23 tháng 7; từ năm 1902 tới 1947 có năm rơi vào ngày 24. Lập Thu thường bắt đầu ngày 7 hoặc 8 tháng 8, nên ngày cuối của Đại Thử thường là 6 hoặc 7 tháng 8. Mốc giao tiết mấy năm tới:

NămNgày bắt đầu Đại ThửGiờ giao tiết (giờ Việt Nam)
202522/7/202520:27
202623/7/202602:12
202723/7/202707:58
202822/7/202813:45
202922/7/202919:32
203023/7/203001:21

Sách Mệnh lý tham nguyên của Viên Thụ San dẫn lời kinh: "五日谓之候,三候谓之气,六气谓之时,四时谓之岁"[2], nghĩa là năm ngày là một hậu, ba hậu là một khí, sáu khí là một mùa, bốn mùa là một năm; cùng đoạn ghi "三候成一气,即十五日也"[2], tức ba hậu thành một khí, là mười lăm ngày. Vì vậy mỗi tiết khí dài khoảng 15 ngày.

Bảng dưới đây cho thấy vị trí của Đại Thử trong chuỗi tiết khí mùa hạ, ngày dương lịch tính cho các năm 2000 tới 2050:

Tiết khíVị trí trong nămKinh độ Mặt TrờiNgày dương lịch
Lập HạTiết thứ 745 độ5 hoặc 6 tháng 5
Tiểu MãnTiết thứ 860 độ20 hoặc 21 tháng 5
Mang ChủngTiết thứ 975 độ5 hoặc 6 tháng 6
Hạ ChíTiết thứ 1090 độ20 tới 22 tháng 6, phần lớn là 21
Tiểu ThửTiết thứ 11105 độ6 hoặc 7 tháng 7
Đại ThửTiết thứ 12120 độ22 hoặc 23 tháng 7
Lập ThuTiết thứ 13135 độ7 hoặc 8 tháng 8

Đại Thử nằm cuối mùa hạ theo lịch tiết khí, sau Hạ Chí khoảng một tháng. Hạ Chí là lúc Mặt Trời lên cao nhất ở Bắc bán cầu, nhưng đất và nước cần thêm thời gian tích nhiệt, nên ở nhiều nơi đỉnh nóng đến muộn hơn, quanh giai đoạn Đại Thử.

Vì sao gọi là "đại"? Cách các sách xưa lý giải

Sách Mệnh lý tham nguyên, mục Nhị thập tứ tiết khí (二十四节气), dẫn lời Vạn Dục Ngô (万育吾) giải thích tên các tiết: "六月节小暑,六月中大暑,夏至后,暑已盛,不当又谓之小"[2], nghĩa là Tiểu Thử là tiết tháng sáu, Đại Thử là trung khí tháng sáu; sau Hạ Chí nóng đã thịnh, tưởng như không nên gọi là "tiểu" nữa. Ông dẫn Kinh Dịch để đáp: "寒往则暑来,暑往则寒来。寒暑相推,而岁成焉"[2], lạnh qua thì nóng tới, nóng qua thì lạnh tới, lạnh nóng đẩy nhau mà thành năm. Theo ông, cả nửa đầu năm đều có thể gọi là nóng, cả nửa sau đều có thể gọi là lạnh, nên hai chữ "tiểu thử", "đại thử" chỉ là lời nói trong nửa đầu năm; giữa tháng sáu là lúc nóng cực điểm nên gọi là "đại", chưa tới cực điểm thì còn là "tiểu".

Cách lý giải này dựa vào vòng nóng lạnh, âm dương trong năm, không dựa vào đo nhiệt độ.

Tiết Đại Thử có ba hậu gì theo sách xưa?

Sách Tuế thời quảng ký, mục tháng cuối hạ (季夏月), dẫn Hiếu kinh vĩ (孝經緯): "夏至後十五日斗指丁為小暑後十五日斗指未為大暑"[1], nghĩa là sau Hạ Chí mười lăm ngày, chuôi sao Bắc Đẩu chỉ phương Đinh là Tiểu Thử, mười lăm ngày sau nữa chỉ phương Mùi là Đại Thử. Cùng mục dẫn Chu thư thời huấn (周書時訓) về ba hậu của tiết: "大暑之日腐草為螢後五日土潤溽暑後五日大雨時行"[1]. Nghĩa là vào ngày Đại Thử, cỏ mục hóa thành đom đóm; năm ngày sau, đất ẩm và oi bức; năm ngày sau nữa, mưa lớn theo mùa mà tới.

Ba hậu này ghi lại cách người xưa quan sát thiên nhiên trong giai đoạn nóng ẩm. "Cỏ mục hóa thành đom đóm" là cách hiểu cổ; đom đóm là côn trùng nở từ ấu trùng, thấy nhiều vào mùa hè, không phải do cỏ biến thành.

Cùng mục dẫn Nguyệt lệnh (月令): "季夏行春令則穀實鮮落國多風欬民乃遷徙行秋令則丘隰水潦禾稼不熟乃多女災行冬令則風寒不時鷹隼蚤鷙四鄙入保"[1]. Đoạn này nói nếu tháng cuối hạ mà thi hành lệnh của mùa xuân, mùa thu hay mùa đông thì sinh tai họa tương ứng như lúa rụng sớm, ruộng ngập, lúa không chín, gió lạnh trái mùa. Đây là lời răn mang tính chính trị và triết lý của sách xưa, không phải dự báo thời tiết.

Tiết Đại Thử có tục lệ dân gian gì?

Ở Việt Nam, Đại Thử không có lễ riêng như Tết Nguyên Đán hay Tết Đoan Ngọ. Tiết này thường rơi vào tháng sáu âm lịch và được biết đến chủ yếu như một mốc in trong lịch tiết khí.

Trong dân gian, Đại Thử được coi là lúc nóng nhất trong năm, đúng như tên gọi "nóng lớn" của tiết.

Sách Tuế thời quảng ký là sách Trung Hoa đời Nam Tống; những gì sách chép về tháng sáu là tư liệu Trung Hoa, không phải tục Việt Nam.

Tiết Đại Thử được dùng thế nào trong các hệ thuật số?

Trong phong thủy và các môn thuật số Đông Á, 24 tiết khí là mốc để chọn ngày, an sao, xác định thời vận.

Trong Bát Tự, trụ tháng chỉ đổi ở 12 tiết; Đại Thử là trung khí nên không đổi tháng. Tháng Mùi bắt đầu từ lúc giao Tiểu Thử và kéo tới trước lúc giao Lập Thu, nên người sinh trong tiết Đại Thử vẫn mang tháng Mùi. Sách Sử dụng la bàn của Thanh Thủy có bảng phối 24 sơn với 24 tiết khí theo bàn Thái âm đáo sơn, trong đó tiết Đại Thử ứng với sơn Mùi[4]. Đây là quy tắc tra cứu của môn, không phải dữ kiện lịch pháp kiểm chứng được.

Đại Thử khác gì với các tiết khác?

Để định vị Đại Thử, có thể so sánh với các tiết lân cận:

Tiết khíÝ nghĩa tên gọiĐặc điểm thời tiết
Tiểu ThửNóng nhỏBắt đầu nắng gắt, chưa cực điểm
Đại ThửNóng lớnNắng gắt nhất, mưa lớn theo mùa
Lập ThuBắt đầu thuNắng dịu dần, có mưa ngâu
Xử ThửKết thúc nóngNóng còn nhưng đã giảm
Bạch LộMóc trắngMát hơn, sương xuất hiện

Cách so sánh này cho thấy Đại Thử là đỉnh của chuỗi tăng nhiệt trong mùa hạ. Sau Đại Thử, các tiết tiếp theo đánh dấu sự suy giảm dần của cái nóng: Lập Thu mở đầu mùa thu, Xử Thử kết thúc giai đoạn nóng, Bạch Lộ báo hiệu sương móc xuất hiện về đêm. Đây là chu kỳ tự nhiên của Bắc bán cầu, không phải quy luật áp dụng cho mọi vùng khí hậu.

Nên dùng tiết Đại Thử trong đời sống thế nào?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: ngày bắt đầu Đại Thử đổi giữa 22 và 23 tháng 7, nên muốn biết đúng năm nay thì xem giờ giao tiết theo giờ Việt Nam như bảng ở trên, đừng nhớ một ngày cố định. Nếu định sửa nhà, làm mái trong khoảng này, nên theo dõi dự báo mưa bão.

Người ta hay hỏi gì về tiết Đại Thử?

Đại Thử có phải là ngày nóng nhất trong năm không?

Theo cách hiểu dân gian, Đại Thử được xem là đỉnh điểm của mùa nóng. Tuy nhiên, nhiệt độ thực tế còn phụ thuộc vào vĩ độ, địa hình, gió mùa và nhiều yếu tố khí hậu khác. Ở một số vùng, đỉnh nóng có thể rơi vào Tiểu Thử hoặc sau Đại Thử vài ngày. Vì vậy, không nên coi Đại Thử là ngày nóng nhất một cách tuyệt đối cho mọi nơi.

Vì sao ngày bắt đầu Đại Thử lại thay đổi giữa các năm?

Vì lịch tiết khí tính theo vị trí thực của Mặt Trời trên hoàng đạo, không theo lịch cố định. Năm dương lịch dài 365 hoặc 366 ngày, không khớp trọn với thời gian Mặt Trời trở lại cùng một điểm trên hoàng đạo, nên ngày giao tiết lệch qua lại giữa 22 và 23 tháng 7.

Tiết Đại Thử có ảnh hưởng gì đến việc chọn ngày tốt xấu không?

Trong các hệ thuật số Đông Á, tiết khí là một yếu tố được dùng khi chọn ngày, an sao, xác định thời vận. Tuy nhiên, đây là quy ước của môn, không có bằng chứng khoa học xác nhận mối liên hệ giữa tiết khí và cát hung của con người. Nếu bạn dùng để tham khảo văn hóa thì nên biết rõ đây là niềm tin truyền thống, không phải kết luận đã được kiểm chứng.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Tiết Đại Thử kéo dài bao nhiêu ngày và kết thúc khi nào?

Đại Thử kéo dài khoảng 15 ngày, từ khi Mặt Trời tới 120 độ hoàng kinh (ngày 22 hoặc 23 tháng 7) đến khi Mặt Trời tới 135 độ, lúc tiết Lập Thu bắt đầu, thường vào ngày 7 hoặc 8 tháng 8. Con số 15 ngày là độ dài trung bình của một tiết khí khi chia một năm Mặt Trời thành 24 tiết.

Sinh vào tiết Đại Thử thì tháng sinh trong Bát Tự là tháng gì?

Là tháng Mùi. Trong Bát Tự, trụ tháng chỉ đổi ở 12 tiết, còn Đại Thử là trung khí, nên ai sinh từ lúc giao Tiểu Thử tới trước lúc giao Lập Thu đều mang tháng Mùi. Can của tháng tùy năm: năm 2026 Bính Ngọ có tháng Ất Mùi, năm 2027 Đinh Mùi có tháng Đinh Mùi.

Ở Việt Nam có tục lệ riêng nào vào tiết Đại Thử không?

Không. Ở Việt Nam, Đại Thử không có lễ riêng như Tết Nguyên Đán hay Tết Đoan Ngọ; tiết này chủ yếu là một mốc trong lịch tiết khí. Trong dân gian, nó được coi là lúc nóng nhất năm. Những gì sách Tuế thời quảng ký chép về tháng sáu là tư liệu Trung Hoa, không phải tục Việt Nam.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcTrần Nguyên Tịnh (không rõ năm). Tuế thời quảng ký (歲時廣記, bản Tứ khố toàn thư, 4 quyển), Quyển 2, mục Quý hạ nguyệt (季夏月), dẫn Hiếu kinh vĩ, Chu thư thời huấn, Nguyệt lệnh大暑之日腐草為螢後五日土潤溽暑後五日大雨時行
  2. ↑ abcdViên Thụ San (1915). Mệnh lý tham nguyên (命理探原, Viên Thụ San), Mục Nhị thập tứ tiết khí (二十四节气), dẫn lời Vạn Dục Ngô (万育吾)六月节小暑,六月中大暑,夏至后,暑已盛,不当又谓之小
  3. ↑Trần Nguyên Tịnh (không rõ năm). Tuế thời quảng ký (歲時廣記, bản Tứ khố toàn thư, 4 quyển), Quyển 2, mục Quý hạ nguyệt (季夏月), dẫn Tam thống lịch小暑為六月節大暑為六月中氣小暑大暑者就極熱之中分為小大月初為小月半為大
  4. ↑Thanh Thủy. Sử dụng la bàn, Chương VI, mục Bàn Thái âm đáo sơn, bảng 6-23 (24 sơn phối 24 tiết khí)đại thử đáo mùi sơn
#TiếtĐạiThử#24TiếtKhí#LịchÂm#TuếThờiQuảngKý#TiếtKhíMùaHạ#ĐạiThửLàGì