Tới nội dung

Tri thức / Đông phương

Lịch âm

Tiết Lập Thu là gì, bắt đầu ngày nào và có tục lệ gì?

Lịch pháp và thiên văn Phép tính lịch pháp.

Tiết Lập Thu là gì, bắt đầu ngày nào và có tục lệ gì?

TL;DR: Lập Thu là tiết khí thứ 13 trong 24 tiết, mở đầu mùa thu theo lịch tiết khí, thường rơi vào khoảng 7 hoặc 8 tháng 8 dương lịch, khi Mặt Trời tới kinh độ 135 độ. Đây là mốc tính theo vị trí Mặt Trời chứ không theo tuần trăng, nên ngày Lập Thu không cố định ở ngày 1 tháng 7 âm lịch. Sách Tuế thời quảng ký của Trần Nguyên Tịnh dẫn Chu thư chép ba hậu Lập Thu là gió mát đến, móc trắng xuống, ve lạnh kêu, mỗi hậu cách nhau năm ngày.

Tiết Lập Thu là gì?

Tiết Lập Thu là tiết khí thứ 13 trong hệ 24 tiết khí, mở đầu mùa thu theo cách chia thời gian của lịch tiết khí. Chữ Lập nghĩa là bắt đầu, chữ Thu nghĩa là mùa thu, nên tên tiết nói thẳng điều nó đánh dấu: thời điểm được xem là khởi đầu của mùa thu.

Cần phân biệt hai cách nói "mùa thu". Cách nói theo tiết khí lấy Lập Thu làm mốc mở đầu. Cách nói theo khí tượng học ở Bắc bán cầu lấy ngày 1 tháng 9, gồm ba tháng 9, 10 và 11. Hai cách không mâu thuẫn, chỉ là hai hệ quy chiếu khác nhau.

Tiết Lập Thu bắt đầu ngày nào?

Lập Thu bắt đầu khi Mặt Trời tới kinh độ hoàng đạo 135 độ, thường vào ngày 7 hoặc 8 tháng 8 dương lịch theo giờ Việt Nam. Trong khoảng 1900 tới 2100 có năm sớm tới ngày 6 tháng 8 (như 2060) và năm muộn tới ngày 9 tháng 8 (1903, 1907). Ngày dương lịch xê dịch vì độ dài năm không phải số nguyên.

Mốc giao tiết Lập Thu những năm gần đây, theo giờ Việt Nam:

NămNgày dương lịchGiờ giao tiết
20257/8/202512 giờ 53 phút
20267/8/202618 giờ 39 phút
20278/8/20270 giờ 25 phút
20287/8/20286 giờ 12 phút
20297/8/202912 giờ 00 phút
20307/8/203017 giờ 48 phút

Mỗi tháng có hai tiết khí, tiết thứ nhất trong tháng gọi là tiết, tiết thứ hai gọi là khí[2]. Bảng dưới đây đối chiếu vị trí của Lập Thu trong các hệ đếm:

Hệ đếmVị trí của Lập ThuGhi chú
24 tiết khíTiết thứ 13Sau Đại Thử, trước Xử Thử
12 tiết (tiết khí đầu tháng)Tiết thứ 7Mở đầu tháng Thân, tức tháng 7 theo tiết khí
12 trung khíKhông thuộc nhóm nàyTrung khí cùng tháng là Xử Thử
Kinh độ Mặt Trời135 độTính từ điểm xuân phân
Dương lịchThường 7 hoặc 8 tháng 8Từ 6 tới 9 tháng 8 trong khoảng 1900 tới 2100

Ba hậu của tiết Lập Thu là gì?

Ba hậu là ba dấu hiệu thiên nhiên mà người xưa ghi nhận trong khoảng thời gian của mỗi tiết, mỗi hậu khoảng năm ngày. Sách Hiệp kỷ biện phương thư (bản Tứ khố toàn thư, quyển 12, mục Khí hậu) chép ba hậu Lập Thu là "凉風至 白露降 寒蟬鳴", nghĩa là gió mát đến, móc trắng xuống, ve lạnh kêu[1]. Mục ấy chép đủ 72 hậu cho 24 tiết, mỗi tiết ba hậu[1].

Đây là cách quan sát thiên nhiên bằng mắt thường của người làm nông, không phải số liệu khí tượng đo đạc. Ba hậu ấy phản ánh kinh nghiệm vùng Hoa Bắc, nơi hệ tiết khí hình thành. Ở Việt Nam, thời điểm gió mát và móc trắng xuất hiện thường lệch so với ba hậu ghi trong sách, tùy vùng miền.

Tuế thời quảng ký chép gì về tiết Lập Thu?

Mục tháng Mạnh thu (tháng 7) ở quyển 3 của Tuế thời quảng ký dẫn ba sách cũ về Lập Thu[3]. Hiếu kinh vĩ chép sau Đại Thử mười lăm ngày, chuôi sao Bắc Đẩu chỉ hướng Khôn là Lập Thu. Tam thống lịch chép Lập Thu là tiết của tháng 7, Xử Thử là trung khí. Chu thư, thiên Thời huấn, chép "立秋之日涼風至後五日白露降後五日寒蜩鳴", tức ngày Lập Thu gió mát đến, năm ngày sau móc trắng xuống, năm ngày sau nữa ve lạnh kêu, rồi đọc mỗi hậu thành một điềm: gió mát không đến thì nước không có chính lệnh nghiêm, móc trắng không xuống thì dân nhiều người ho, ve lạnh không kêu thì bề tôi ra sức tranh giành[3].

Sách còn dẫn Yếu lãm của Lục Cơ kể chuyện Liệt Tử cưỡi gió: ngày Lập Xuân về tám phương, ngày Lập Thu vào chơi hang gió; gió đến thì cây cỏ sinh, gió đi thì cây cỏ rụng, gọi là gió ly hợp[3].

Trần Nguyên Tịnh, người đời Nam Tống, soạn Tuế thời quảng ký bằng cách lấy Nguyệt lệnh, Hiếu kinh vĩ, Tam thống lịch làm cương rồi xếp các ghi chép tản mạn về tiết trong năm theo tháng; phần mùa thu có 32 điều[3]. Sách soạn chủ yếu để dùng khi viết thư từ, nên dẫn nhiều sách tạp ký[3]. Những gì nó chép là điển cố và phong tục Trung Hoa, không phải phong tục Việt Nam.

Lập Thu có phải là ngày 1 tháng 7 âm lịch không?

Không. Lập Thu và ngày 1 tháng 7 âm lịch là hai mốc khác nhau, tính theo hai hệ khác nhau. Lập Thu tính theo vị trí Mặt Trời, còn ngày 1 tháng 7 âm lịch tính theo tuần trăng. Hai mốc chỉ trùng nhau trong một số năm, và khi trùng thì đó là sự trùng hợp, không phải quy luật.

Sách Sử dụng la bàn giải thích sự khác biệt: lịch theo tuần trăng mỗi năm chỉ có 354 ngày, ngắn hơn năm dương lịch 11 ngày, nên không phản ánh chính xác mùa vụ; âm lịch thời Hán chia năm thành 24 tiết khí, mỗi tiết hơn 15 ngày[2]. Vì vậy Lập Thu rơi vào nhiều ngày khác nhau của lịch âm, có năm vào tháng 6, có năm vào tháng 7.

Năm 2025, Lập Thu rơi vào ngày 14 tháng 6 nhuận âm lịch; năm 2026 vào ngày 25 tháng 6; năm 2027 vào ngày 7 tháng 7.

Tục lệ dân gian quanh tiết Lập Thu

Trong dân gian Việt Nam, có quan niệm xem Lập Thu là dịp cúng tổ tiên và lên chùa cầu bình an[4]. Đây là quan niệm, không phải quy tắc lịch pháp, và bản thân ngày Lập Thu không có tác dụng chữa bệnh hay trừ tà.

Tiết Lập Thu trong các hệ thuật số

Trong phép chọn ngày, tiết khí là mốc để định tháng và tính thần sát. Hiệp kỷ biện phương thư xếp ngày liền trước Lập Thu vào hạng Tứ tuyệt, và ngày thứ chín sau Lập Thu, đếm từ ngày giao tiết, vào hạng Vãng vong[1]. Sách cũng bàn tới "bình khí", tức cách chia đều năm thành 24 tiết, mỗi tiết hơn 15 ngày một chút[5].

Trong Lục Nhâm, ngày lập tiết khí được dùng làm mốc để đo thời gian ứng nghiệm của quẻ. Sách Lục Nhâm, quyển 1: Nhập môn giải thích: nếu quẻ có Sơ truyền là Can thần hay Chi thần của ngày lập tiết khí hiện tại, thì việc ứng nơi quẻ sẽ xảy ra trong thời gian của tiết khí ấy hoặc không quá 15 ngày[6]. Đây là quy ước của môn Lục Nhâm, không phải dự báo khoa học.

Trong Kỳ Môn Độn Giáp, mỗi tiết khí quản ba nguyên thượng, trung, hạ, mỗi nguyên năm ngày; vì độn giáp chú trọng đến nguyên, mỗi nguyên có 60 giờ, vừa đúng một hoa giáp[7]. Hiệp kỷ biện phương thư chép Lập Thu thuộc cung Khôn, dùng âm độn cục 2[1]. Cách chia này thuộc quy ước của môn Kỳ Môn, không phải lịch pháp chính thức.

Vì sao Lập Thu quan trọng trong nông nghiệp?

Vì Lập Thu tính theo vị trí Mặt Trời, nó đến vào gần cùng một ngày dương lịch mỗi năm, nên người làm ruộng dựa vào nó để canh mùa vụ chắc hơn ngày âm, vốn xê dịch theo tuần trăng.

Sách Sử dụng la bàn cho biết tên gọi 24 tiết khí thấy sớm nhất trong sách Hoài Nam Tử, thiên Thiên văn huấn, và các tên ấy phản ánh sự thay đổi tiết khí cùng trạng thái sinh trưởng của cây trồng[2].

Gợi ý của Nhật Nguyệt

Lập Thu là mốc lịch pháp, không phải ngày tốt xấu. Người đọc tra cứu ngày Lập Thu nên xem đó là thông tin về vị trí Mặt Trời và mùa vụ, không nên coi đó là ngày có năng lực đặc biệt. Nếu muốn dùng Lập Thu để chọn ngày làm việc, nên nhớ rằng các phép chọn ngày theo tiết khí là quy ước của thuật số, không phải quy luật khoa học.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Tiết Lập Thu năm 2026 rơi vào ngày nào dương lịch và âm lịch?

Năm 2026, Lập Thu giao lúc 18 giờ 39 phút ngày 7 tháng 8 dương lịch theo giờ Việt Nam, tức ngày 25 tháng 6 âm lịch. Năm 2027 Lập Thu sang ngày 8 tháng 8, lúc 0 giờ 25 phút, vì tiết khí tính theo vị trí Mặt Trời chứ không theo lịch cố định.

Lập Thu có phải là ngày 1 tháng 7 âm lịch không?

Không. Lập Thu tính theo vị trí Mặt Trời trên hoàng đạo, còn ngày 1 tháng 7 âm lịch tính theo tuần trăng. Hai mốc này chỉ trùng nhau trong một số năm, và ngay cả khi trùng thì đó là sự trùng hợp. Năm 2026, Lập Thu rơi vào ngày 25 tháng 6 âm lịch, cách ngày 1 tháng 7 khá xa.

Ba hậu của tiết Lập Thu là gì?

Ba hậu Lập Thu được sách Hiệp kỷ biện phương thư chép là: gió mát tới, móc trắng giáng xuống, ve lạnh cất tiếng. Đây là cách quan sát thiên nhiên bằng mắt thường của người nông nghiệp vùng Hoa Bắc, không phải số liệu khí tượng đo đạc, nên thời điểm xuất hiện ở Việt Nam thường lệch so với sách.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdDoãn Lộc (Trang thân vương, phụng sắc) và cộng sự (1741). Hiệp kỷ biện phương thư (欽定協紀辨方書, Khâm định, bản Tứ khố toàn thư, 36 quyển), Quyển 12 (Công quy 1, mục Khí hậu 氣候); quyển 6 (mục Khí vãng vong, Tứ tuyệt); quyển 8 (mục Tam kỳ)立秋 凉風至 白露降 寒蟬鳴
  2. ↑ abcThanh Thủy. Sử dụng la bàn, Trang 14, bảng 6-20Âm lịch thời Hán chia năm Nhật hồi qui (một loại âm lịch) thành 24 tiết khí, mỗi tiết khí kéo dài hơn 15 ngày, đó là nguyên nhân hình thành 24 tiết khi.
  3. ↑ abcdeTrần Nguyên Tịnh (không rõ năm). Tuế thời quảng ký (歲時廣記, bản Tứ khố toàn thư, 4 quyển), Đề yếu (đầu sách); quyển 3, mục Mạnh thu nguyệt (孟秋月) và Ly hợp phong (離合風)周書時訓曰立秋之日涼風至後五日白露降後五日寒蜩鳴
  4. ↑VietNamNet: Những việc nên làm trong tiết Lập Thu để đón may mắn, bình an, Đoạn mở đầuNăm nay, tiết Lập Thu bắt đầu vào thứ Sáu, ngày 7/8 dương lịch, tức ngày 25/6 âm lịch.
  5. ↑Mai Cốc Thành (chủ biên) và cộng sự. Hiệp kỷ biện phương thư (bản dịch Vũ Hoàng, Lân Bình, hai tập), Trang 298, mục Bình khíBình khí: tức là khi thưởng ngày. Đởi cễ hoạch phân tiết khí cũng là một loại phương pháp. tức là lấy chu kỳ đều nhau của năm phản làm 24 tiết.
  6. ↑Lục Nhâm, quyển 1: Nhập môn, Trang 105, mục Khí độngKhí là nói chung 24 tiết khí. Động là được dùng làm Sơ truyền. Thiểm phân thể là một nửa tháng tức là 15 ngày.
  7. ↑Bạch Huyết và cộng sự. Thiên thời, địa lợi, nhân hòa (Bạch Huyết), Trang 164Như vậy một năm có 24 tiết, khí, một tiết quản tam nguyên : thượng, trung, hạ, mỗi nguyên có năm ngày.

Đọc thêm

  • Quốc sử quán triều Nguyễn và cộng sự. Đại Nam nhất thống chí (bản dịch Phạm Trọng Điềm, Đào Duy Anh hiệu đính), Trang 28, mục Phong tục tỉnh Hà TĩnhĐến như tục lệ về việc quan hôn, tang tế và lễ nghi về các tiết nguyên đán, đoan dương thì cũng giống như Nghệ An.
  • Hoàng Đạo Chu (không rõ năm). Dịch tượng chính (易象正, Hoàng Đạo Chu, bản Tứ khố toàn thư, 16 quyển)
#TiếtLậpThu#24TiếtKhí#LậpThuLàGì#LịchÂm#TuếThờiQuảngKý#TiếtKhíMùaThu