Tới nội dung

Tri thức / Đông phương / Kinh Dịch

Kinh Dịch

Hồi đầu sinh, hồi đầu khắc, hóa không, hóa mộ, hóa tuyệt trong Lục Hào là gì?

Thuật số truyền thống Hệ diễn giải cổ.

Hồi đầu sinh, hồi đầu khắc, hóa không, hóa mộ, hóa tuyệt trong Lục Hào là gì?

TL;DR: Hồi đầu sinh là hào động biến ra hào mới sinh lại chính nó; hồi đầu khắc là biến ra hào mới khắc lại chính nó. Hóa mộ, hóa tuyệt là hào động biến vào cung Mộ, cung Tuyệt của vòng Trường sinh; hóa không là biến vào tuần không. Sách Tăng san bốc dịch (Dã Hạc lão nhân) cho rằng cát hung không chỉ do tên gọi mà còn tùy hào động vượng suy và ngày tháng, nên hồi đầu khắc hay hóa mộ không phải lúc nào cũng là điềm dữ.

Hồi đầu sinh, hồi đầu khắc, hóa không, hóa mộ, hóa tuyệt là gì?

Trong Lục Hào, mỗi hào động đều biến thành một hào mới gọi là hào biến. Khi hào biến sinh lại hào động ban đầu, gọi là hồi đầu sinh (回頭生). Khi hào biến khắc lại hào động ban đầu, gọi là hồi đầu khắc (回頭剋). Khi hào động biến vào tuần không gọi là hóa không (化空); biến vào đất mộ của chính nó gọi là hóa mộ (化墓); biến vào cung Tuyệt của chính nó gọi là hóa tuyệt (化絕). Các quy tắc này được bàn kỹ trong sách Tăng san bốc dịch, do Dã Hạc lão nhân đời Thanh viết, Lý Văn Huy tăng san.

Các tên gọi này chỉ nói về quan hệ giữa hào động và hào biến của chính nó.

Cơ chế hào động biến ra hào mới rồi quay lại tác động lên hào cũ là gì?

Khi gieo quẻ, hào nào ba đồng xu cùng ngửa hoặc cùng sấp thì động và biến ra hào âm dương đối lập. Hào biến ấy mang một địa chi mới, có quan hệ Ngũ hành với hào động ban đầu. Bốn khả năng chính:

  • Hào biến sinh hào động: hồi đầu sinh, làm hào động mạnh thêm.
  • Hào biến khắc hào động: hồi đầu khắc, làm hào động suy đi.
  • Hào biến cùng hành với hào động: gọi là hóa tiến thần hoặc hóa thoái thần, tùy chiều.
  • Hào biến xung hoặc hợp hào động: gọi là hóa xung, hóa hợp.

Sách Tăng san bốc dịch nêu ví dụ hào Thế là Tuất thổ, nếu động biến ra Tị hỏa hoặc Ngọ hỏa thì gọi là hồi đầu sinh Thế; nếu biến ra Dần mộc hoặc Mão mộc thì gọi là hồi đầu khắc Thế; biến ra Thìn thổ là hồi đầu xung Thế, biến ra Mão mộc là hợp Thế[1]. Sách đọc bốn hướng tác động này chung với ba nguồn lực còn lại: Nguyệt kiến, Nhật thần, và hào động khác trong quẻ.

Vì sao hồi đầu khắc không phải lúc nào cũng là điềm dữ?

Đây là điểm sách Tăng san bốc dịch sửa lại so với các sách Lục Hào đời trước. Lời chú cũ mà sách dẫn lại viết: hễ hào Dụng động mà hóa mộ, hóa tuyệt, hóa không thì "bất luận công tư đại tiểu chi sự, giai chủ bất thành", tức mọi việc đều không thành, đoán bệnh thì chết[2]. Dã Hạc lão nhân phản bác khá mạnh: nếu hào động đang vượng tướng, hoặc được Nhật Nguyệt sinh trợ, thì hóa mộ, hóa tuyệt không đến mức đại hung. Cụ thể:

  • Hóa mộ: đợi ngày tháng xung mở mộ thì việc thành. Ví dụ hào động là Mộc, biến vào Mùi (mộc mộ tại Mùi), thì đến ngày tháng Sửu xung mở Mùi, việc mới ứng.
  • Hóa tuyệt: đợi ngày tháng sinh trợ cho hào ấy thì việc thành.
  • Hóa không: đợi ngày xuất không thì việc ứng. Sách ghi rõ đã kiểm nghiệm nhiều lần: đoán mưu sự thì ngày thực không việc tất thành; đoán bệnh gần thì ngày xuất không tất khỏi[2].

Ngược lại, hồi đầu sinh cũng không phải lúc nào cũng tốt. Nếu hào biến sinh lại là hào hung thần đang vượng, thì hồi đầu sinh chỉ làm hung thần mạnh thêm. Hào biến cũng có phạm vi riêng. Chương Động biến sinh khắc xung hợp của sách viết rằng hào biến chỉ sinh khắc xung hợp hào động ở chính vị của nó, không sinh khắc hào khác, và hào khác cũng không sinh khắc được hào biến; chỉ Nhật Nguyệt tác động được lên hào biến. Ví dụ của sách là quẻ Khôn biến Hỏa Địa Tấn: hào Thế Dậu kim động hóa Tị hỏa, Tị hồi đầu khắc Dậu mà không khắc hào nào khác; hào bốn Sửu thổ động sinh được Thế Dậu kim, nhưng không sinh được hào Dậu kim do chính nó biến ra[3].

Bảng tra nhanh mộ khố và tuyệt địa theo Ngũ hành

Bảng dưới đây lấy theo quy ước phổ biến trong Lục Hào và được sách Tăng san bốc dịch dùng để tra khi hào động biến. Đây là quy ước của môn, không phải dữ kiện thiên văn.

Ngũ hànhTrường sinhMộ khốTuyệt địaThaiDưỡng
KimTịSửuDầnMãoThìn
MộcHợiMùiThânDậuTuất
ThủyThânThìnTịNgọMùi
HỏaDầnTuấtHợiTýSửu
ThổThânThìnTịNgọMùi

Cách đọc bảng: hào động là Mộc, nếu biến ra Mùi thì gọi là hóa mộ; biến ra Thân thì gọi là hóa tuyệt; biến ra Hợi thì gọi là hóa trường sinh. Thủy và Thổ đồng cung Trường sinh tại Thân, đồng mộ tại Thìn, đồng tuyệt tại Tị. Đây là điểm khác biệt với Tử Bình, nơi Thổ thường được an Trường sinh tại Dần theo một số phái.

Hóa không và tuần không khác nhau thế nào?

Tuần không là hai địa chi vắng mặt trong một tuần mười ngày Can Chi, vì mười thiên can chỉ ghép được mười trong mười hai địa chi. Ví dụ tuần Giáp Tý thì Tuất Hợi không; tuần Giáp Tuất thì Thân Dậu không. Hào nào mang địa chi thuộc tuần không thì gọi là hào không vong.

Hóa không là hào động biến ra hào biến rơi vào tuần không. Trường hợp hào động vốn đã ở tuần không lại hóa ra hào cũng không, Bốc phệ toàn thư gọi là "không hóa không" và cho rằng tuy không mà không hẳn là không: trong tuần Giáp Thìn, hào Dần đang không mà động, hóa ra Mão cũng không, thì dùng được một nửa, vì Dần đã chịu không còn Mão không tính là không nữa; sách dẫn Kim tỏa huyền quan: "trùng không bất không"[4]. Tăng san bốc dịch đi xa hơn: không riêng không hóa không, hào đã động thì cũng không tính là không, họa hay phúc đều ứng vào tháng ngày xung không hoặc thực không[2].

Phân biệt này quan trọng vì nhiều người mới học thấy chữ "không" là gạt bỏ hào, dẫn đến đoán sai. Bốc phệ toàn thư phân biệt không vong thật (sáu hào yên tĩnh, hào Dụng tự nhiên rơi vào tuần không, việc gì cũng không thành) với không vong để lánh nạn (hào Dụng đang bị Nhật thần hay hào động hình xung khắc hại mà gặp không, thì chỉ tạm trở, qua tuần là thành)[5].

Hóa mộ, hóa tuyệt, hóa không: hung hay cát còn tùy hào nào?

Sách Bốc phệ toàn thư có một nguyên tắc gọn: hung thần nên vào mộ, cát thần không nên vào mộ[6]. Nghĩa là:

  • Hào Dụng thần, hào Thế, hào Tài, hào Quan đang cần thành sự mà hóa mộ, hóa tuyệt, hóa không thì việc hay bị đình trệ, chậm, hoặc phải đợi mới thành.
  • Hào Kỵ thần, hào Quỷ đang quấy phá mà hóa mộ, hóa tuyệt, hóa không thì cái xấu bị nhốt lại, lại là điều hay.

Sức của hào vẫn phải xét cùng Nhật Nguyệt. Tăng san bốc dịch dẫn một quẻ có hào Quỷ Dần mộc động khắc Thế, nhưng Thế là Thìn thổ được Nguyệt kiến trợ, lại có hào Sửu thổ động hóa hồi đầu sinh đến giúp, nên Thế vượng tướng, đủ sức chống đỡ, dù về sau người ấy vẫn có lúc suýt nguy rồi được giải cứu[2].

Đối chiếu với các sách khác

Sách Bốc phệ toàn thư (Diêu Tế Long biên, 1630) đứng trước Tăng san bốc dịch, giữ quan điểm khá nghiêm: hào Dụng động mà hóa mộ, hóa tuyệt, hóa không thì "bất luận công tư đại tiểu chi sự, giai chủ bất thành", đoán bệnh thì chết. Tăng san bốc dịch đời Thanh sửa lại: vẫn xem là dấu hiệu chậm trễ, nhưng nếu hào vượng tướng hoặc được Nhật Nguyệt sinh trợ thì vẫn có thể thành, chỉ ứng muộn hơn.

Sách Dịch mạo (Trình Lương Ngọc, 1664) thì nói hào biến theo Quỷ vào mộ phải phân mộ thật với mộ giả: lấy Quan quỷ hành Hỏa có mộ ở Tuất làm ví dụ, gặp ngày Thìn xung Tuất thì thành giả, gặp tháng Tuất làm mộ thực thì thành thật, Tuất gặp tuần không hay bị phá cũng không phải mộ thật[7]. Quan điểm này gần với Tăng san bốc dịch ở chỗ không xét riêng tên gọi mà xét cùng Nhật Nguyệt.

Ba sách không mâu thuẫn về cơ chế, chỉ khác nhau ở mức độ nghiêm khắc khi luận đoán. Người học nên biết cả ba để tránh áp dụng máy móc một cuốn.

Gợi ý áp dụng của Nhật Nguyệt

Khi gặp hào động hóa mộ, hóa tuyệt, hóa không trong một quẻ thực hành, nên đọc theo trình tự:

  • Xác định hào động là hào gì, biến ra hào gì, quan hệ Ngũ hành giữa chúng.
  • Tra bảng mộ khố, tuyệt địa để biết đây là hóa mộ thật hay chỉ là biến ra hào cùng hành khác chi.
  • Xem Nhật Nguyệt có sinh phù hào động không, có xung mở mộ không, có thực không không.
  • Xem hào động ấy là Dụng thần hay Kỵ thần, từ đó luận cát hung.

Cách đọc này không khẳng định tuyệt đối về kết quả, chỉ là khung phân tích của môn Lục Hào. Cùng một quẻ, người luận khác nhau có thể cho kết quả khác nhau, nên kết luận cuối cùng vẫn cần thận trọng.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Hồi đầu sinh và hồi đầu khắc khác nhau ở điểm nào?

Hồi đầu sinh là hào động biến ra hào mới có Ngũ hành sinh lại hào động ban đầu, làm hào ấy mạnh thêm. Hồi đầu khắc là hào động biến ra hào mới có Ngũ hành khắc lại hào động ban đầu, làm hào ấy yếu đi. Cả hai đều chỉ quan hệ giữa hào động và hào biến của chính nó, không nói đến hào khác trong quẻ.

Hào động hóa không có phải là hào mất tác dụng không?

Không hẳn. Tăng san bốc dịch cho rằng hào đã động thì không tính là không vong thật; việc ứng vào ngày tháng xung không hoặc thực không. Bốc phệ toàn thư còn coi hào đang bị khắc mà gặp không là tạm lánh nạn, qua tuần thì việc thành.

Hóa mộ và nhập mộ khác nhau thế nào?

Hóa mộ là hào động biến ra hào biến nằm ở cung Mộ của chính nó, ví dụ hào Mộc biến ra Mùi. Nhập mộ là hào (dù động hay tĩnh) gặp ngày, tháng hay hào động là cung Mộ của nó, ví dụ hào Mộc gặp ngày Mùi. Hai khái niệm thường được dùng chung khi luận, nhưng nguồn gốc khác nhau: một bên thuộc quan hệ hào động với hào biến, một bên thuộc quan hệ hào với Nhật Nguyệt và hào động khác.

Bài này thuộc chủ đề Kinh Dịch. Xem toàn bộ tiện ích và bài viết về Kinh Dịch.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑Dã Hạc lão nhân và Lý Văn Huy (tăng san) (không rõ năm). Tăng san Bốc Dịch (增刪卜易), Mục 世爻發動變出之爻能回頭生克沖合世爻發動,動而必變,變出巳午之火謂之回頭生世。變出寅卯之木謂之回頭克世。
  2. ↑ abcdDã Hạc lão nhân và Lý Văn Huy (tăng san) (không rõ năm). Tăng san Bốc Dịch (增刪卜易), Phần bình giải Hoàng kim sách, các câu 用爻變動忌遭死墓絕空 và 空化空雖空不空予得驗者,化墓化絕,若動爻旺相,或臨日月幫助,亦無大害,化墓者,沖開之日月而成,化絕者逢生旺之日月而就。
  3. ↑Dã Hạc lão nhân và Lý Văn Huy (tăng san) (không rõ năm). Tăng san Bốc Dịch (增刪卜易), Động biến sinh khắc xung hợp chương (動變生克沖合章)夫變出之爻能生克沖合本位之動爻,不能生克他爻,而他爻與本位之動爻,亦不能生克變爻。
  4. ↑Diêu Tế Long (biên) (1630). Bốc phệ toàn thư (卜筮全書, Diêu Tế Long biên), Phần chú Hoàng kim sách, câu 空化空,虽空弗空假如甲辰旬中占卦,卦中寅动空亡,而化出卯字亦空,谓之空化空 可作一半用
  5. ↑Diêu Tế Long (biên) (1630). Bốc phệ toàn thư (卜筮全書, Diêu Tế Long biên), Phần chú Hoàng kim sách, câu 卦遇凶星,避之则吉如六爻安靜,用爻無故自空,此為真空,萬事無成。若被日辰動爻刑沖克害於用爻,而用爻在空,此為避凶而空。
  6. ↑Diêu Tế Long (biên) (1630). Bốc phệ toàn thư (卜筮全書, Diêu Tế Long biên), Phần chú Hoàng kim sách, câu 墓多暗昧大抵凶爻要入墓,吉爻不要入墓。
  7. ↑Trình Lương Ngọc (1664). Dịch mạo (易冒, Trình Lương Ngọc), Phần bàn về tùy mộ (隨墓)化爻隨鬼入墓,與命墓世墓無差等,而有真偽,火官戌墓,辰日沖而成偽,戌月實而作真,戌空自偽,戌破非真。
#LụcHào#HồiĐầuSinh#HồiĐầuKhắc#HóaKhông#HóaMộ#HóaTuyệt#TăngSanBốcDịch#BốcPhệToànThư#KinhDịch#BóiDịch