
TL;DR: Sương Giáng (霜降) là tiết khí thứ 18 trong 24 tiết và là tiết cuối của mùa thu, bắt đầu khi Mặt Trời tới kinh độ hoàng đạo 210 độ. Năm 2026, Sương Giáng giao tiết lúc 16 giờ 39 phút ngày 23 tháng 10 theo giờ Việt Nam; từ 2020 tới 2051 năm nào cũng rơi vào ngày 23 tháng 10. Đây là trung khí của tháng chín âm lịch nên không đổi trụ tháng trong Bát Tự. Hiệp kỷ biện phương thư ghi ba hậu: loài sài bày thú săn như tế, cây cỏ vàng rụng, sâu bọ ngủ đông nằm yên. Ở Việt Nam, Sương Giáng không phải lễ lớn; tiết này nằm trong tháng chín âm lịch, tháng mà Gia lễ giản yếu dặn làm tết cơm mới.
Tiết Sương Giáng là gì?
Sương Giáng là tiết khí thứ 18 trong 24 tiết khí (tính từ Lập Xuân), đứng sau Hàn Lộ và trước Lập Đông, là tiết cuối của mùa thu. Tên chữ Hán 霜降 nghĩa là "sương xuống", chỉ quãng khí trời đã đủ lạnh để hơi nước đọng thành sương giá trên cỏ cây. Tiết bắt đầu khi Mặt Trời tới kinh độ hoàng đạo 210 độ.
Sương Giáng là trung khí, không phải tiết mở đầu tháng. Hiệp kỷ biện phương thư chép "寒露九月節" và "霜降九月中", tức Hàn Lộ mở đầu tháng chín, còn Sương Giáng là trung khí của tháng chín[1]. Sách cũng phân biệt "月建視節氣斗杓也月將視中氣太陽也": nguyệt kiến (tháng theo chuôi sao Bắc Đẩu) xem theo tiết, nguyệt tướng (theo Mặt Trời) xem theo trung khí[1]. Vì vậy trong Bát Tự, người sinh trước hay sau giờ giao Sương Giáng đều thuộc tháng Tuất; trụ tháng chỉ sang tháng Hợi khi tới Lập Đông.
Tiết Sương Giáng bắt đầu ngày nào?
Năm 2026, Sương Giáng giao tiết lúc 16 giờ 39 phút ngày 23 tháng 10 dương lịch theo giờ Việt Nam (UTC+7), tức ngày 14 tháng Chín âm lịch. Giờ giao tiết mỗi năm muộn hơn năm trước gần 6 tiếng, rồi lùi lại một ngày vào năm nhuận, nên ngày dương xê dịch trong khoảng 22 tới 24 tháng 10: từ năm 1900 tới 2100 có 113 năm rơi vào ngày 23, 72 năm vào ngày 24 (lần cuối là năm 2019) và 16 năm vào ngày 22 (bắt đầu từ năm 2052); từ 2020 tới 2051 năm nào cũng là ngày 23 tháng 10.
| Năm | Ngày dương | Giờ giao tiết (UTC+7) |
|---|---|---|
| 2025 | 23/10 | 10:53 |
| 2026 | 23/10 | 16:39 |
| 2027 | 23/10 | 22:26 |
| 2028 | 23/10 | 04:15 |
| 2029 | 23/10 | 10:03 |
| 2030 | 23/10 | 15:52 |
Lịch in theo giờ Trung Quốc (UTC+8) có năm ghi muộn hơn lịch Việt Nam một ngày. Năm 2023, Sương Giáng giao lúc 23 giờ 19 phút ngày 23 tháng 10 theo giờ Việt Nam, tức đã là 0 giờ 19 phút ngày 24 tháng 10 theo giờ Bắc Kinh.
Hiệp kỷ biện phương thư chép "霜降日躔卯宮初度是為大火之次": tới Sương Giáng, Mặt Trời vào độ đầu cung Mão, gọi là thứ Đại Hỏa trong mười hai thứ của thiên văn cổ[1].
Sương Giáng có phải ngày lễ, ngày Tết không?
Sương Giáng không phải một lễ lớn trong văn hóa Việt Nam mà là một mốc tiết khí cuối thu. Theo nếp cấy hai vụ xưa, lúa vụ mùa cấy tháng năm, tháng sáu và gặt tháng tám, tháng chín âm lịch, nên Sương Giáng rơi vào quãng gặt vụ mùa.
Gia lễ giản yếu của Dương Bá Trạc (1932) chỉ giữ ba tết làm lễ với tổ tiên là tết nguyên đán, tết Thanh minh và "tết cơm mới (trong tháng chín ngày nào tùy tiện cũng được)"[2]. Sách không gắn tết cơm mới với ngày tiết khí.
Sương Giáng là trung khí của tháng chín, nên từ năm 1900 tới 2100 ngày giao tiết đều nằm trong tháng chín âm lịch, trừ năm 2033 rơi vào mùng 1 tháng mười.
Ba hậu của tiết Sương Giáng trong sách cổ là gì?
Mỗi tiết khí chia làm ba hậu, mỗi hậu khoảng năm ngày. Ở mục Khí hậu (氣候), Hiệp kỷ biện phương thư chép ba hậu của Sương Giáng là:
- Sơ hậu: 豺乃祭獸 (sài nãi tế thú), loài sài (chó rừng) bày con thú săn được ra như làm lễ tế.
- Trung hậu: 草木黄落 (thảo mộc hoàng lạc), cây cỏ ngả vàng và rụng lá.
- Mạt hậu: 蟄蟲咸俯 (trập trùng hàm phủ), sâu bọ ngủ đông đều cúi mình nằm yên[1].
Bảng 24 tiết khí và vị trí của Sương Giáng
Để thấy Sương Giáng nằm ở đâu trong hệ thống, có thể đối chiếu bảng sau. Các tiết khí được chia theo mùa, mỗi mùa sáu tiết, Sương Giáng là tiết thứ sáu, tức tiết cuối của mùa thu:
| Mùa | Tiết 1 | Tiết 2 | Tiết 3 | Tiết 4 | Tiết 5 | Tiết 6 |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Xuân | Lập Xuân | Vũ Thủy | Kinh Trập | Xuân Phân | Thanh Minh | Cốc Vũ |
| Hạ | Lập Hạ | Tiểu Mãn | Mang Chủng | Hạ Chí | Tiểu Thử | Đại Thử |
| Thu | Lập Thu | Xử Thử | Bạch Lộ | Thu Phân | Hàn Lộ | Sương Giáng |
| Đông | Lập Đông | Tiểu Tuyết | Đại Tuyết | Đông Chí | Tiểu Hàn | Đại Hàn |
Bảng này khớp với bài vè 24 tiết khí: "Xuân vũ kinh xuân thanh cốc thiên / Hạ mãn mang hạ thử tương liên / Thu xử lộ thu hàn sương giáng / Đông tuyết tuyết đông tiểu đại hàn". Câu thứ ba của bài vè liệt kê đúng sáu tiết mùa thu, trong đó Sương Giáng đứng cuối cùng.
Sương Giáng trong các hệ thuật số
Trong các hệ thuật số Đông phương, tiết khí nói chung và Sương Giáng nói riêng được dùng làm mốc để tính toán. Sách Trạch vận tân án ghi các khoảng ngày trong tiết Hàn Lộ Sương Giáng khi bàn về sao niên, nguyệt[3]. Đây là cách dùng tiết khí như một đơn vị thời gian trong phong thủy trạch vận, không phải một khẳng định về vận mệnh con người.
Trong Kỳ Môn Độn Giáp, sách Kỳ Môn Chỉ Quy bàn về cách tính siêu thần, tiếp khí, trí nhuận dựa trên tiết khí: "kì môn chuyên trọng tiết khí", nghĩa là môn này đặc biệt coi trọng mốc tiết khí[4]. Trong Lục Nhâm, nguyệt tướng đổi ở trung khí: Hiệp kỷ biện phương thư ghi "霜降九月中日躔在卯宫為九月將", tức từ Sương Giáng nguyệt tướng của tháng chín ở cung Mão[1]. Đại Lục Nhâm bí bản gọi cung Mão là Thái Xung (太冲) và xếp hai sao Phòng, Tâm vào cung ấy trong bảng "二十八宿周天度位"[5]. Việc dùng tiết khí trong các môn này là quy ước của từng phái, không phải dữ kiện khoa học tự nhiên.
Gợi ý của Nhật Nguyệt cho người tra cứu
Gợi ý của Nhật Nguyệt: muốn biết đúng lúc giao Sương Giáng của một năm, nên tra giờ giao tiết theo giờ Việt Nam (UTC+7), không chỉ tra ngày. Giờ ấy không đổi trụ tháng trong Bát Tự, nhưng là lúc nguyệt tướng của Lục Nhâm chuyển sang cung Mão. Gia đình làm lễ cơm mới có thể chọn một ngày bất kỳ trong tháng chín âm lịch, không cần đúng ngày tiết khí.
Vì sao Sương Giáng hay bị nhầm với Lập Đông?
Sương Giáng và Lập Đông chỉ cách nhau khoảng 15 ngày, và cả hai đều gắn với chuyển mùa thu sang đông. Nhiều người nhầm Sương Giáng là "bắt đầu mùa đông" trong khi thực tế Lập Đông mới là tiết mở đầu mùa đông theo lịch tiết khí. Sương Giáng vẫn thuộc mùa thu, là tiết cuối của mùa thu. Hiệp kỷ biện phương thư chép Sương Giáng là trung khí tháng chín ("霜降九月中"), còn Lập Đông là tiết mở đầu tháng mười ("立冬十月節")[1].
Cuối thu có tục tảo mộ theo tiết Sương Giáng không?
Tảo mộ không phải lệ của tiết Sương Giáng. Gia lễ giản yếu đặt việc tảo mộ vào tết Thanh minh, "trong tháng ba ngày nào tạnh ráo đi tảo mộ cũng được", còn tết cơm mới trong tháng chín là ngày làm lễ với tổ tiên, sách không nói tới việc ra mộ[2].
