
TL;DR: Tín ngưỡng thờ Cá Ông (cá voi) là tín ngưỡng đặc trưng của ngư dân vùng duyên hải từ Thanh Hóa đến các tỉnh ven biển Nam Bộ, xem cá voi là hiện thân của thần Nam Hải, vị thần cứu giúp tàu thuyền gặp nạn giữa Biển Đông. Tín ngưỡng có nguồn gốc từ tục thờ thần biển Po Riyak của người Chăm, sau được người Việt tiếp nhận, gắn với hệ thống lăng Ông thờ xương cá voi dọc bờ biển và lễ hội Nghinh Ông, Cầu Ngư hằng năm, kèm những kiêng kỵ khi đi biển. Nghi lễ thờ Cá Ông ở Lý Sơn còn được Edyta Roszko khảo sát trong cuốn Fishers, Monks and Cadres (2020).
Cá Ông là gì?
"Cá Ông" là tên gọi dân gian, đầy tôn kính mà ngư dân vùng duyên hải miền Trung và miền Nam Việt Nam dùng để gọi cá voi (và đôi khi cả cá heo lớn), loài sinh vật khổng lồ được xem là hiện thân của một vị thần biển, thường gọi là thần Nam Hải hay Nam Hải Đại tướng quân. Đây là một trong những tín ngưỡng đặc trưng, gắn bó sâu sắc với đời sống của cư dân vùng biển, trải dài từ Thanh Hóa vào đến các tỉnh ven biển Nam Bộ như Bến Tre, Trà Vinh, Kiên Giang.
Trong tâm thức ngư dân, cá voi không phải là một loài vật bình thường mà là vị thần hộ mệnh, thường xuất hiện cứu giúp tàu thuyền gặp bão tố, sóng to gió lớn giữa biển khơi, bằng cách nâng đỡ thuyền bị chìm, dẫn đường cho tàu lạc hướng tìm về bờ, hoặc xua đuổi các loài thủy quái gây hại. Chính vì niềm tin này, khi phát hiện xác cá voi trôi dạt vào bờ (ngư dân gọi là "Ông lụy" hay "Ông vào"), cộng đồng làng chài sẽ tổ chức tang lễ trọng thể như với một bậc tiền bối, thậm chí người phát hiện đầu tiên còn được coi là "trưởng nam", để tang như với cha mẹ.
Những lời kể cụ thể về việc được cá Ông cứu giúp vẫn được lưu truyền ở các làng chài. Báo Dân trí ghi lại lời kể của cụ Lê Căng (80 tuổi, xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu cũ, Nghệ An): năm 1982, bè của hai cha con cụ gặp gió lớn, chân vịt vẫn quay mà bè không sao vào được bờ, rồi bè bỗng cân bằng trở lại và về được tới bờ, và cụ nhìn thấy một con cá voi chừng 8 m bơi bên cạnh bè . Đây là lời kể của ngư dân được báo ghi lại, không phải một sự việc đã được kiểm chứng.
Bảng tóm tắt các lăng Ông và lễ hội Nghinh Ông được nhắc trong bài.
| Tên gọi | Địa điểm | Thông tin khác |
|---|---|---|
| Lăng Ông Thủy tướng | Vũng Tàu | |
| Lăng Tân | đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi | lưu giữ bộ xương cá Ông có niên đại gần 200 năm |
| Lăng Ông | Phan Thiết | |
| Lăng Ông | Cần Giờ | |
| Lăng Ông | Bến Tre | |
| Lễ hội Nghinh Ông Cần Giờ | Cần Giờ | di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia; tổ chức tháng 8 âm lịch |
| Nghinh Ông Vàm Láng | Tiền Giang | di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia |
| Lễ hội Cầu Ngư | Đà Nẵng | di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia |
| Lễ hội Nghinh Ông Trần Đề | Trần Đề, Sóc Trăng cũ (nay thuộc thành phố Cần Thơ) | di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2019; tổ chức từ 21 đến 23 tháng 3 âm lịch |
| Lễ hội Nghinh Ông Sông Đốc | Cà Mau | lịch sử hơn 100 năm |
Nguồn gốc tín ngưỡng thờ Cá Ông từ đâu?
Theo nhiều nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, tục thờ Cá Ông của người Việt có nguồn gốc từ tín ngưỡng thờ thần biển Po Riyak (còn gọi là Poriak, thần Sóng Biển) của người Chăm, cư dân bản địa lâu đời ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Truyền thuyết Chăm kể rằng cá voi là hóa thân của vị thần Cha–Aih–Va: sau một thời gian tu luyện phép thuật, vì nôn nóng muốn trở về quê nhà nên đã trái lời thầy dạy, tự ý biến thành cá voi để bơi ra biển lớn, từ đó trở thành vị thần bảo hộ cho những người đi biển. Khi người Việt tiến vào khai phá vùng đất Nam Trung Bộ (khoảng thế kỷ 17–18), tín ngưỡng này được tiếp nhận, Việt hóa và lồng ghép thêm nhiều truyền thuyết, nghi lễ dân gian riêng của người Việt, có ghi nhận và tôn phong dưới thời các vua Nguyễn (như sắc phong "Nam Hải Đại tướng quân").
Lăng Ông là gì và thờ tự ra sao?
Dọc theo bờ biển miền Trung và miền Nam, hầu như làng chài nào cũng có một cơ sở thờ tự dành riêng cho Cá Ông, thường gọi là Lăng Ông, Lăng Cá Ông, hoặc Dinh Ông Nam Hải. Bên trong lăng thường lưu giữ, thờ phụng bộ xương cá voi (được gọi tôn kính là "Ngọc cốt") thu được từ những lần "Ông lụy" trôi dạt vào bờ qua nhiều thế hệ, có nơi lưu giữ hàng chục bộ xương lớn nhỏ. Một số lăng nổi tiếng và có lịch sử lâu đời như Lăng Ông Thủy tướng ở Vũng Tàu, Lăng Tân trên đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi, nơi lưu giữ bộ xương cá Ông có niên đại gần 200 năm), hay các lăng Ông tại Phan Thiết, Cần Giờ, Bến Tre.
Ở Bắc Trung Bộ cũng có những cụm mộ và lăng Ông đáng chú ý. Ven biển huyện Diễn Châu cũ (Nghệ An, trước 7/2025) có khoảng 10 mộ cá Ông lớn nhỏ. Cụ Hoàng Nguyên (85 tuổi) kể rằng tháng 2/1997, một con cá voi dài 7 m, nặng khoảng 5 tấn dạt vào bờ xóm 9 cũ (nay là xóm 5, xã Diễn Trung), và được ngư dân chôn cất, thờ cúng.
Về hình dáng, mộ cá Ông ở Diễn Châu thường được xây theo hình mũi thuyền hướng ra biển; tại xã Diễn Thành có một cặp mộ như vậy, trong đó một mộ dài 4 m. Cụ Hoàng Nguyên giải thích cách hiểu của người dân địa phương rằng mộ hướng ra biển để "Ông được hướng về biển khơi như con người hướng về cội nguồn". Đây là lời giải thích của người dân ở một vùng biển cụ thể, không phải quy tắc chung bắt buộc cho mọi làng biển.
Bên cạnh lễ hội hằng năm, việc thờ cúng còn diễn ra trong sinh hoạt thường ngày. Ngư dân thường thắp hương ở lăng hay mộ cá Ông trước chuyến ra khơi. Ông Phạm Văn Hải (72 tuổi, xã Diễn Thịnh), người trông coi mộ cá Ông hàng chục năm, kể rằng gia đình ông mỗi lần xuống thuyền đầu năm hay đóng thuyền mới đều ra đặt lễ để cầu thuận buồm xuôi gió.
Lễ hội Nghinh Ông - Cầu Ngư diễn ra như thế nào?
Gắn liền với tín ngưỡng thờ Cá Ông là lễ hội Nghinh Ông (còn gọi là lễ hội Cầu Ngư), được tổ chức hằng năm tại nhiều làng chài, thường vào các tháng đầu hoặc giữa năm âm lịch (thời điểm cụ thể khác nhau tùy địa phương). Lễ hội thường gồm hai phần: phần lễ với nghi thức rước kiệu ra biển "nghinh" (đón rước) thần Nam Hải về lăng, tế lễ trang trọng cầu cho mưa thuận gió hòa, tôm cá đầy khoang, ngư dân đi biển bình an; và phần hội với các trò diễn dân gian, hát bả trạo (một loại hình diễn xướng đặc trưng của ngư dân miền Trung mô phỏng động tác chèo thuyền), đua thuyền, hát bội. Nhiều lễ hội Nghinh Ông đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, như lễ hội Nghinh Ông Cần Giờ, Nghinh Ông Vàm Láng (Tiền Giang), lễ hội Cầu Ngư Đà Nẵng.
Trình tự nghi lễ cụ thể có thể khác nhau giữa các địa phương. Ghi nhận ở lăng Ông Nam Hải Trần Đề (Trần Đề thuộc tỉnh Sóc Trăng cũ, nay thuộc thành phố Cần Thơ theo Nghị quyết 202/2025/QH15), lễ hội bắt nguồn từ năm 1955 khi người dân thấy xác một con cá Ông lớn dạt vào Bãi Giá và lập miếu thờ bằng tre lá; lễ được tổ chức từ ngày 21 đến 23 tháng 3 âm lịch, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2019, và lăng Ông Nam Hải tại đây hiện lưu giữ hơn 10 bộ xương cá Ông. Theo nguồn về lễ hội này, đoàn thuyền được trang hoàng ra cửa biển làm lễ rước Ông vào bờ vào sáng sớm, có trống chiêng; tại lăng có các lễ thỉnh Bà, cúng Chánh tế, cúng Tiền vãng và lễ Tôn vương; phần hội có đờn ca tài tử và hát bội. Đây là trình tự ở Trần Đề, nơi khác có thể có trình tự khác.
Về thời điểm, ngoài các mốc phổ biến vào đầu hoặc giữa năm, lễ Nghinh Ông Cần Giờ được tổ chức vào tháng 8 âm lịch, còn lễ Nghinh Ông Sông Đốc (Cà Mau) có lịch sử hơn 100 năm. Bạn đọc có thể xem thêm Lễ hội Nghinh Ông Sông Đốc và Lễ hội Nghinh Ông Lai Sơn.
Ngư dân kiêng gì với cá Ông?
Trong quan niệm của ngư dân, cá Ông là bậc bề trên nên có những điều phải kiêng. Trước hết là không săn bắt, không làm hại cá voi. Gặp cá Ông trên biển thì tránh xa, không gây tiếng động lớn, và khấn vái. Khi ở trên biển, ngư dân kiêng nói những lời xui xẻo, những lời liên quan đến chết chóc. Và nếu cá Ông chết dạt vào bờ thì phải chôn cất, không được bỏ mặc.
Tín ngưỡng thờ Cá Ông có ý nghĩa gì?
Tín ngưỡng thờ Cá Ông không chỉ là một tín ngưỡng tôn giáo đơn thuần mà còn phản ánh sâu sắc mối quan hệ gắn bó, phụ thuộc của cư dân biển vào tự nhiên, đồng thời hàm chứa một hình thức "bảo vệ sinh thái" mộc mạc: việc tôn thờ cá voi như một vị thần khiến ngư dân từ xưa không săn bắt, làm hại loài vật này, một dạng ý thức bảo tồn tự phát trước khi khái niệm bảo tồn động vật biển hiện đại ra đời. Tín ngưỡng cũng là sợi dây gắn kết cộng đồng làng chài, hun đúc tinh thần đoàn kết, tương trợ giữa những người mưu sinh trên biển cả đầy bất trắc.
Cần tách niềm tin khỏi hiểu biết sinh học: chưa có căn cứ khoa học cho việc cá voi chủ ý cứu người ; những cách giải thích như cá voi tò mò tiến lại gần thuyền hay bơi theo dòng chảy cũng chỉ là phỏng đoán.
Mộ cá Ông và lăng Ông khác nhau thế nào?
Mộ cá Ông là nơi chôn xác cá Ông khi dạt vào bờ. Sau một thời gian, ngư dân cải táng, rước xương (gọi là ngọc cốt) vào lăng để thờ. Vì vậy lăng thường là nơi lưu giữ nhiều bộ xương qua nhiều đời, còn mộ là nơi chôn cất ban đầu.
Nghi lễ thờ Cá Ông ở Lý Sơn được nhìn nhận thế nào?
Nhà nhân học Edyta Roszko, trong cuốn Fishers, Monks and Cadres (2020), khảo sát cư dân ven biển Quảng Ngãi, trong đó có đảo Lý Sơn, qua các thực hành thờ cá Ông, lễ khao lề thế lính, và quan hệ giữa ngư dân với nhà chùa cùng chính quyền trong việc định nghĩa lại nghi lễ. Ghi nhận này cho thấy tín ngưỡng thờ Cá Ông ở Lý Sơn không chỉ là chuyện riêng của làng chài, mà còn nằm trong tương tác giữa nhiều chủ thể, và nghi lễ có thể được nhìn nhận, diễn giải lại theo thời gian.
Lưu ý về sự đa dạng
Cần nhấn mạnh rằng tín ngưỡng thờ Cá Ông là đặc trưng của cư dân vùng biển miền Trung và miền Nam, không phổ biến ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Ngoài ra, mức độ, hình thức thờ cúng, tên gọi thần linh (Nam Hải, Đại tướng quân, Ông Nam Hải...) và chi tiết lễ hội cũng có sự khác biệt nhất định giữa các địa phương, phản ánh tính đa dạng vùng miền phong phú của tín ngưỡng dân gian Việt Nam.
Bài tổng quan chủ đề: Tín ngưỡng dân gian Việt Nam gồm những gì?
