Tri thức / Việt Nam

Tín ngưỡng dân gian

Người Việt Nam có lịch sử văn hoá lâu đời như thế nào?

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

TL;DR: Lịch sử văn hoá người Việt Nam không nằm ở một mốc duy nhất mà ở nhiều tầng lớp chồng lên nhau: tín ngưỡng thờ thần làng, thờ Thành hoàng, thờ Mẫu, lễ hội cầu ngư, cùng kho văn bản Hán Nôm và thần tích. Các nghiên cứu gần đây cho thấy những thực hành ấy vừa được kế thừa, vừa biến đổi, vừa có nguy cơ mai một. Vì vậy, nói văn hoá Việt Nam lâu đời cần hiểu là một quá trình tích tụ và chuyển hoá liên tục, không phải một khối bất động.

Người Việt Nam có lịch sử văn hoá lâu đời như thế nào?

Người Việt Nam có lịch sử văn hoá lâu đời được nhìn nhận qua những dấu vết nào?

Nhiều người Việt Nam quen nghe câu "văn hoá Việt Nam lâu đời", nhưng "lâu đời" ở đây không phải một con số duy nhất. Nó được nhìn qua các dấu vết vật chất và phi vật chất còn lại: đình, đền, miếu, sắc phong, thần tích, lễ hội, và cả những thực hành tín ngưỡng còn sống trong đời thường. Các nhà nghiên cứu như Đinh Khắc Thuân (2014) nhấn mạnh rằng kho tàng văn bản thần làng là một di sản thành văn quý, giúp lý giải nhiều khía cạnh lịch sử, văn hoá và phong tục truyền thống của người Việt thời xa xưa.

Trong bài "Thờ cúng Thành hoàng ở Việt Nam qua tài liệu Hán Nôm", Đinh Khắc Thuân dẫn lại các tư liệu như sắc phong thời Hồng Đức, thời Lê Trung Hưng và thời Mạc, cho thấy việc thờ Thành hoàng đã có bề dày văn bản hoá từ khá sớm. Đây là loại dữ kiện giúp ta hình dung văn hoá làng xã không chỉ truyền miệng mà còn được ghi chép, ban cấp và lưu giữ qua nhiều triều đại.

Theo cách tiếp cận của Đinh Khắc Thuân, thần tích và sắc phong không chỉ là chuyện tín ngưỡng mà còn là nguồn sử liệu về làng xã, về cách người xưa tổ chức đời sống cộng đồng. Tuy nhiên, cần phân biệt: văn bản ấy chứng minh rằng việc thờ cúng đã tồn tại và được ghi nhận, chứ không tự động chứng minh mọi chi tiết trong thần tích là sự kiện lịch sử.

Tín ngưỡng thờ Thành hoàng và thờ thần làng phản ánh điều gì về văn hoá Việt Nam?

Tín ngưỡng thờ Thành hoàng và thờ thần làng cho thấy văn hoá Việt Nam gắn chặt với làng xã, với việc tôn vinh người có công và với nhu cầu cộng đồng về một chỗ dựa tinh thần. Đình làng không chỉ là nơi thờ tự mà còn là trung tâm sinh hoạt cộng đồng, nơi diễn ra lễ hội, xử kiện, họp bàn và giao tiếp giữa cõi tục với cõi thiêng.

Nghiên cứu của Đỗ Thị Hà Thơ (2018) về tín ngưỡng thờ thần ở đình làng Đồng Tháp ghi nhận hiện tượng cộng tồn văn hoá giữa người Việt, người Hoa, người Chiêm Thành và người Chân Lạp trong hệ thống thần linh được thờ[1]. Tác giả cũng lưu ý rằng việc trùng tu đình ở Đồng Tháp chủ yếu bắt đầu từ thế kỷ XXI, cho thấy đời sống tín ngưỡng có nhịp vận động riêng theo từng giai đoạn[1].

Cách tiếp cận của Đỗ Thị Hà Thơ nhấn mạnh rằng thần linh được thờ không thay đổi nhiều, nhưng nghi thức giao tiếp cõi tục và cõi thiêng có thể được tái hiện và điều chỉnh. Điều này giúp ta thấy văn hoá Việt Nam không phải một khối bất động mà là một hệ thống vừa bảo lưu vừa tiếp biến.

Khía cạnhBiểu hiện thường gặpÝ nghĩa văn hoá
Thờ Thành hoàngSắc phong, thần tích, đình làngGhi nhận người có công, củng cố cộng đồng làng xã
Thờ thần làngNghi lễ, lễ hội đìnhDuy trì ký ức tập thể và bản sắc địa phương
Cộng tồn văn hoáThờ chung thần của nhiều tộc ngườiPhản ánh giao lưu và tiếp biến văn hoá
Trùng tu đìnhBắt đầu mạnh từ thế kỷ XXICho thấy tín ngưỡng vận động theo thời đại

Lễ hội cầu ngư và đời sống tín ngưỡng cư dân ven biển có gì đáng chú ý?

Lễ hội cầu ngư là một lát cắt cho thấy văn hoá Việt Nam không chỉ gắn với làng nông nghiệp mà còn gắn với biển. Đây là loại lễ hội gắn với cư dân ven biển, cầu mong an toàn và thuận lợi trong nghề cá, đồng thời là dịp cộng đồng tụ họp và tái khẳng định bản sắc.

Nguyễn Thăng Long (2020) nghiên cứu đời sống tín ngưỡng, lễ hội của cư dân làng Thai Dương Hạ, ghi nhận rằng phần hội của lễ hội cầu ngư ngày nay được bổ sung nhiều trò chơi dân gian và đương đại như kéo co, đá bóng, bóng chuyền bãi biển[2]. Tác giả cũng cho biết phụ nữ ngày nay có thể tham gia làm trò, điều mà theo tác giả là không thể xảy ra trong quá khứ[2].

Chính quyền địa phương tham gia tổ chức lễ hội, và theo tác giả, mục đích là vừa bổ sung các hoạt động văn hoá, thể thao, vừa giữ gìn những thực hành mang giá trị truyền thống[2]. Đồng thời, tác giả cũng cảnh báo về sự phai nhạt niềm tin vào các vị thần được phụng thờ ở lớp trẻ, và sự thiếu kết nối giữa giới trẻ với giá trị văn hoá, tín ngưỡng truyền thống[2].

Bối cảnh chính sách cũng được tác giả nhắc tới: Nghị quyết Trung ương V khoá VIII năm 1998, bàn về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đã mở đường cho phong trào khôi phục và phát huy giá trị văn hoá truyền thống[2]. Đây là một mốc quan trọng giúp lý giải vì sao nhiều lễ hội được tổ chức quy mô hơn từ giai đoạn này.

Đạo Mẫu và tín ngưỡng thờ Mẫu đóng góp gì vào bức tranh văn hoá Việt Nam?

Đạo Mẫu và tín ngưỡng thờ Mẫu là một phần quan trọng của văn hoá tín ngưỡng Việt Nam, với hệ thống thần linh đa dạng và thực hành lên đồng, hầu đồng. Đây là loại tín ngưỡng vừa mang yếu tố tâm linh, vừa mang yếu tố trình diễn văn hoá, vừa gắn với nhu cầu hiện sinh về phúc, lộc, thọ.

Mai Thị Hạnh (2019) tìm hiểu vai trò của đồng thầy và bản hội đối với việc gìn giữ và lan toả thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu; bà ghi nhận rằng một số đồng thầy ở Hà Nội và các tỉnh thành khác, khi tham gia giao lưu văn hoá ở nước ngoài, đã trở thành những "đại sứ văn hoá"[3]. Tác giả dẫn lời một đồng thầy nổi tiếng ở Hà Nội nói về trách nhiệm của mình khi ra nước ngoài giới thiệu văn hoá Việt Nam[3].

Theo cách diễn giải của Mai Thị Hạnh, tín ngưỡng thờ Mẫu đáp ứng nhu cầu hiện sinh về một cuộc sống phúc, lộc, thọ, và thể hiện truyền thống "uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây" của người Việt Nam[3]. Tác giả cũng nhấn mạnh rằng các thần linh có nguồn gốc từ các tộc người khác nhau, thể hiện tinh thần chung sống hoà bình và lòng khoan dung giữa các tộc người[3].

Về thời điểm ra đời của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, hiện vẫn còn tranh luận. Cao Thế Trình (2020) trao đổi thêm về vấn đề này, cho thấy giới nghiên cứu chưa thống nhất hoàn toàn về niên đại[4]. Vì vậy, khi nói về nguồn gốc của thờ Mẫu, nên trình bày như một vấn đề còn mở thay vì một mốc cố định.

Kho văn bản Hán Nôm và thần tích có vai trò gì trong việc lưu giữ ký ức văn hoá?

Kho văn bản Hán Nôm và thần tích là một trong những nguồn quan trọng nhất giúp tái dựng đời sống văn hoá, tín ngưỡng của người Việt qua nhiều thế kỷ. Đây là loại di sản thành văn, không chỉ phục vụ tín ngưỡng mà còn cung cấp thông tin về địa danh, phong tục, nghi lễ và tổ chức làng xã.

Đinh Khắc Thuân (2014) đánh giá kho tàng văn bản thần làng là vô cùng đồ sộ, một di sản thành văn quý giá, qua đó có thể làm sáng tỏ nhiều phương diện lịch sử, văn hoá, phong tục truyền thống của dân tộc Việt Nam thuở xa xưa. Tác giả cũng dẫn lại các phát hiện sắc phong thời Hồng Đức, thời Lê Trung Hưng và thời Mạc, cho thấy việc ban cấp sắc phong đã diễn ra qua nhiều triều đại.

Trong "Việt Nam phong tục" (1915), Phan Kế Bính đã ghi chép nhiều phong tục, tín ngưỡng và cách sinh hoạt của người Việt đầu thế kỷ XX[5]. Đây là văn bản gốc có giá trị như một bản ghi đương thời, nhưng cần đọc như một tư liệu lịch sử, không phải như một bản tổng kết khoa học hiện đại.

Nguyễn Đăng Hựu (2016) nghiên cứu tâm linh và ma thuật trong giao thông ở Việt Nam đương đại, cho thấy nhu cầu tìm kiếm an ninh tinh thần vẫn hiện diện trong đời sống hiện đại. Điều này gợi ý rằng các thực hành tín ngưỡng không chỉ là di sản quá khứ mà còn là cách con người đương đại đối diện với bất định.

Vì sao nói văn hoá Việt Nam vừa lâu đời vừa đang biến đổi?

Văn hoá Việt Nam vừa lâu đời vừa đang biến đổi vì nó tồn tại trong đời sống thực tế, nơi con người vừa kế thừa vừa điều chỉnh. Các nghiên cứu gần đây cho thấy nhiều giá trị truyền thống được phục hồi và mở rộng quy mô, nhưng đồng thời cũng có những yếu tố bị mai một hoặc bị thay thế.

Theo ghi nhận của Nguyễn Thăng Long (2020), song song với việc nhiều giá trị văn hoá truyền thống được nối tiếp, khôi phục và duy trì ổn định, hệ thống tín ngưỡng, lễ hội của các làng quê cũng trải qua những thăng trầm, có xu hướng suy giảm và bị thay thế[2]. Tác giả lưu ý rằng nếu không khảo sát sâu, sẽ khó thấy sự phai nhạt, mai một các yếu tố văn hoá này[2].

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (Luật số 02/2016/QH14, hiệu lực từ 01/01/2018) là một khung pháp lý quan trọng điều chỉnh hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Văn bản này cho thấy Nhà nước có vai trò trong việc quản lý và tạo hành lang cho các thực hành tín ngưỡng diễn ra theo quy định.

Việc xác định niên đại của các hiện tượng tín ngưỡng như thờ Mẫu vẫn còn là vấn đề học thuật. Cao Thế Trình (2020) đặt vấn đề trao đổi thêm về thời điểm ra đời của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, cho thấy giới nghiên cứu chưa đạt được đồng thuận hoàn toàn[4]. Điều này nhắc ta rằng các mốc thời gian trong nghiên cứu văn hoá thường cần được đọc kèm với mức độ chắc chắn của bằng chứng.

Gợi ý của Nhật Nguyệt: đọc lịch sử văn hoá Việt Nam như thế nào cho hợp lý?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi tìm hiểu lịch sử văn hoá Việt Nam, nên đọc theo nhiều lớp thay vì tìm một mốc khởi đầu duy nhất. Các tầng lớp ấy gồm tín ngưỡng dân gian, văn bản Hán Nôm, lễ hội địa phương, chính sách quản lý và đời sống đương đại. Mỗi lớp có tốc độ biến đổi khác nhau, và việc hiểu đúng một hiện tượng thường cần đặt nó trong bối cảnh cụ thể của làng, vùng, thời kỳ.

Gợi ý của Nhật Nguyệt: với các thực hành tín ngưỡng, nên phân biệt giữa dữ kiện lịch sử, truyền thuyết và diễn giải huyền học. Điều này giúp tránh cả hai thái cực: phủ nhận toàn bộ giá trị văn hoá, hoặc biến mọi câu chuyện thần tích thành sự kiện có thật. Cách đọc cân bằng là ghi nhận vai trò của thực hành tín ngưỡng trong đời sống cộng đồng, đồng thời giữ khoảng cách phù hợp với các khẳng định vượt quá bằng chứng hiện có.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Lịch sử văn hoá người Việt Nam có từ bao giờ?

Không có một mốc duy nhất. Các dấu vết được ghi nhận qua nhiều tầng lớp như tín ngưỡng thờ thần làng, thờ Thành hoàng, thờ Mẫu và lễ hội cầu ngư. Đinh Khắc Thuân (2014) cho thấy kho văn bản thần làng là di sản thành văn quý, giúp lý giải nhiều khía cạnh lịch sử, văn hoá và phong tục truyền thống của người Việt thời xa xưa.

Vì sao tín ngưỡng thờ Thành hoàng quan trọng trong văn hoá Việt Nam?

Thờ Thành hoàng gắn với đình làng, nơi vừa thờ tự vừa là trung tâm sinh hoạt cộng đồng. Đỗ Thị Hà Thơ (2018) ghi nhận hiện tượng cộng tồn văn hoá giữa người Việt, người Hoa, người Chiêm Thành và người Chân Lạp trong hệ thống thần linh được thờ ở đình làng Đồng Tháp. Điều này cho thấy tín ngưỡng thờ thần làng vừa củng cố bản sắc địa phương, vừa phản ánh giao lưu văn hoá.

Văn hoá Việt Nam đang biến đổi như thế nào trong đời sống đương đại?

Nhiều giá trị truyền thống được phục hồi và mở rộng quy mô, nhưng cũng có yếu tố bị mai một. Nguyễn Thăng Long (2020) ghi nhận lễ hội cầu ngư ngày nay được bổ sung nhiều trò chơi dân gian và đương đại, phụ nữ có thể tham gia làm trò, nhưng đồng thời cảnh báo về sự phai nhạt niềm tin ở lớp trẻ và sự thiếu kết nối giữa giới trẻ với giá trị văn hoá, tín ngưỡng truyền thống.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abĐỗ Thị Hà Thơ (2018). Tín ngưỡng thờ thần ở đình làng Đồng Tháp. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ 54(4C): 126-136, trang 9Hệ thống thần linh được thờ ở tự tích đình trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp và các tỉnh miền Tây ghi nhận hiện tượng cộng tồn văn hoá của người Việt với người Hoa, người Chiêm Thành và người Chân Lạp.
  2. ↑ abcdefgNguyễn Thăng Long (2020). Đời sống tín ngưỡng, lễ hội của cư dân làng Thai Dương Hạ: giá trị truyền thống và xu hướng biến đổi trong giai đoạn hiện nay. Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Xã hội và Nhân văn 129(6C): 19-30, trang 9, 11-12phần hội ở Lễ hội cầu ngư ngày nay được bổ sung thêm nhiều trò chơi dân gian, đương đại như kéo co, đá bóng, bóng chuyền bãi biển, v.v.
  3. ↑ abcdMai Thị Hạnh (2019). Vai trò của đồng thầy và bản hội trong việc bảo tồn, phát huy các thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu. Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 7 (187), 2019, tr. 75 trở đi, trang 14một tín ngưỡng mà ở đó những người có công với dân với nước được thần thánh hóa và thờ phụng thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của người Việt Nam
  4. ↑ abCao Thế Trình (2020). Trao đổi thêm về thời điểm ra đời của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ. Tạp chí Khoa học Đại học Đà Lạt 10(1): 114-128, trang 15
  5. ↑Phan Kế Bính (1915). Việt Nam phong tục. Đăng trên Đông Dương tạp chí 1913-1914, in thành sách 1915; bản số hoá: Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, in lại 1973, trang 92

Đọc thêm

#LịchSửVănHoáViệtNam#TínNgưỡngThờThànhHoàng#ĐìnhLàng#LễHộiCầuNgư#ĐạoMẫu#VănBảnHánNôm