Nhật Nguyệt

Tri thức / Đông phương / Phong thuỷ

Phong thủy

Tràng sinh thủy pháp của phái Tam Hợp: thu nước ở cung tràng sinh, phóng nước ở cung tuyệt và Bát đại Hoàng Tuyền

Chia sẻ:
Tràng sinh thủy pháp của phái Tam Hợp: thu nước ở cung tràng sinh, phóng nước ở cung tuyệt và Bát đại Hoàng Tuyền
TL;DR: Tràng sinh thủy pháp là cách luận dòng nước theo mười hai cung tràng sinh của địa chi: nước đến và tụ ở các cung sinh vượng (Tràng sinh, Mộc dục, Quan đới, Lâm quan, Đế vượng) thì gọi là thu thủy, còn nước ở các cung suy bại (Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai) thì nên cho chảy đi, gọi là phóng thủy. Bốn cục thủy (Thủy, Mộc, Hỏa, Kim) an vòng tràng sinh theo tam hợp địa chi, và mỗi cục có những hướng phạm Hoàng Tuyền sát riêng. Các bản ca quyết Hoàng Tuyền lưu truyền không hoàn toàn khớp nhau, còn phái Tam Nguyên lại luận nước theo vận chính thần và linh thần nên có thể cho kết luận khác. Tam Hợp ở đây là cục thủy pháp, không phải hợp tuổi.

Tràng sinh thủy pháp là gì và vì sao nước được luận theo phương?

Tràng sinh thủy pháp là cách luận dòng nước chảy quanh một huyệt mộ hay một căn nhà dựa trên vòng mười hai cung tràng sinh của địa chi, thay vì chỉ nhìn hình dáng con nước. Theo sách Địa Lý Gia Truyền Bí Thư Đại Toàn được dẫn lại, thủy pháp đặt nền tảng trên vòng tràng sinh, gồm mười hai cung: Tràng sinh, Mộc dục, Quan đới, Lâm quan, Đế vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Trong đó, có những cung được xem là tốt và những cung được xem là xấu. Nước chảy đến hoặc tụ lại nên đặt ở cung tốt, còn cung xấu thì nên để nước thoát đi.

Đây là điểm khác biệt căn bản giữa hai lối tiếp cận. Loan đầu xét nước theo hình: nước cong hay thẳng, ôm hay xộc, tụ hay tán, có sa bàn khóa thủy khẩu hay không. Lý khí xét nước theo phương: nước tới từ đâu, đi ra ở đâu, rơi vào cung nào trong vòng tràng sinh. Một dòng nước có thể đẹp về hình nhưng phạm về phương, và ngược lại.

Cần nói rõ ngay: Tam Hợp ở đây là tên gọi của một hệ cục thủy pháp dựa trên tam hợp địa chi, hoàn toàn không phải chuyện hợp tuổi hay xung khắc tuổi tác giữa người với người.

Vòng tràng sinh mười hai cung được an thế nào?

Mỗi cục thủy có một địa chi khởi Tràng sinh, và từ đó đếm theo chiều thuận để an đủ mười hai cung. Bốn cục thủy thường gặp là Thủy cục, Mộc cục, Hỏa cục và Kim cục, mỗi cục gắn với một bộ tam hợp địa chi.

Cục thủyTam hợp địa chiTràng sinh khởi ởĐế vượngMộ khố
Thủy cụcThân, Tý, ThìnThânTýThìn
Mộc cụcHợi, Mão, MùiHợiMãoMùi
Hỏa cụcDần, Ngọ, TuấtDầnNgọTuất
Kim cụcTị, Dậu, SửuTịDậuSửu

Ví dụ với Thủy cục: Tràng sinh tại Thân, Mộc dục tại Dậu, Quan đới tại Tuất, Lâm quan tại Hợi, Đế vượng tại Tý, Suy tại Sửu, Bệnh tại Dần, Tử tại Mão, Mộ tại Thìn, Tuyệt tại Tị, Thai tại Ngọ, Dưỡng tại Mùi. Các cục còn lại suy ra theo cùng một cách đếm.

Thu thủy và phóng thủy khác nhau ở đâu?

Thu thủy là để nước chảy đến và tụ lại ở những cung được coi là sinh vượng: Tràng sinh, Mộc dục, Quan đới, Lâm quan, Đế vượng. Những cung này tượng trưng cho sinh sôi và phát triển, nên nước tụ ở đó được xem là có lợi cho tài lộc và danh vọng của gia tộc.

Phóng thủy là để nước chảy đi ở những cung suy bại: Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai. Những cung này tượng trưng cho suy thoái và suy kiệt, nên nước chảy đi ở đó được xem là giúp tiêu trừ tai họa. Cũng theo cách luận này, ngay cả một dòng nước bị mang tiếng là sát cũng có thể hóa giải nếu biết điều tiết cho nó thoát ra ở đúng cung vị.

Điều đáng lưu ý là ranh giới giữa "nên thu" và "nên phóng" không phải một đường cố định cho mọi cục, mà dịch chuyển theo cục thủy đang dùng. Cùng một hướng, với cục này là cung vượng, với cục khác lại có thể rơi vào cung tuyệt.

Bốn cục thủy theo tam hợp địa chi vận hành ra sao?

Bốn cục thủy chính là bốn vòng tràng sinh khác nhau, mỗi vòng khởi từ một địa chi riêng. Vì vậy khi luận một huyệt hay một căn nhà, việc đầu tiên là xác định cục thủy nào đang được áp dụng, rồi mới đối chiếu phương đến và phương đi của nước với mười hai cung của cục ấy.

Cách phân cục này dựa trên tam hợp địa chi, tức nhóm ba chi cách nhau bốn vị trí trên vòng địa bàn. Đây là lý do tên gọi Tam Hợp gắn với phép thủy pháp này. Cần nhấn mạnh lần nữa rằng đây là chuyện của cục thủy và địa bàn, không liên quan đến tam hợp tuổi của gia chủ.

Một số tài liệu còn đặt vòng tràng sinh này bên cạnh các phép khác như Tứ Long Thiên Tinh, với quan điểm rằng dòng nước có thể quanh co nhiều khúc nhưng điều cốt yếu là phải hòa hợp với long mạch. Nói cách khác, thủy pháp không đứng một mình mà phải đọc cùng sơn thế.

Hoàng Tuyền sát là gì?

Hoàng Tuyền sát là tên gọi chung cho những tổ hợp hướng và dòng nước bị xem là mang sát khí mạnh, có thể gây họa cho gia chủ nếu nước chảy vào minh đường hoặc nếu lập hướng phạm vào các cặp tương xung. Khái niệm này gắn với thủy khẩu, tức hướng nước chảy ra, và với hướng lập mộ hay lập trạch.

Có hai cách gọi thường gặp. Cách gọi Bát đại Hoàng Tuyền nhấn vào tám tổ hợp hướng và thủy. Cách gọi Tứ lộ Hoàng Tuyền nhấn vào bốn đường nước. Câu thơ cô đọng mà nhiều tài liệu nhắc lại là "Khứ lai thủy lộ bát đại hoàng tuyền".

Trong hệ thống này còn có một nhóm riêng gọi là Hoàng Tuyền sát thủy, gắn với bốn chi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, tức tứ mộ. Quan điểm được dẫn lại là nước ở nhóm này chảy lại thì hung, chảy đi thì tốt, phạm phải có thể dẫn tới yểu triết và phá bại.

Ca quyết Bát đại Hoàng Tuyền và bản dịch nghĩa

Một bản ca quyết Hoàng Tuyền lưu truyền có câu: "Đinh, Canh, Khôn thượng thị hoàng tuyền. Ất, Bính tu phòng Tốn thủy tiên. Giáp, Quý hướng lai hưu kiến Cấn. Tân, Nhâm thủy lộ phạ đương Kiền."

Dịch nghĩa: hướng Đinh, Canh và Khôn là chỗ hoàng tuyền; Ất và Bính phải phòng nước ở Tốn đến trước; Giáp và Quý là hướng tới thì chớ gặp Cấn; Tân và Nhâm mà có đường nước thì phạm vào Kiền.

Câu caHướng bị nhắcYếu tố phạm
1Đinh, Canh, KhônChính các hướng này là hoàng tuyền
2Ất, BínhNước đến từ Tốn
3Giáp, QuýGặp Cấn
4Tân, NhâmĐường nước phía Kiền

Cần lưu ý rằng ca quyết này chỉ là một bản. Các bản Hoàng Tuyền lưu truyền trong dân gian và trong các sách khác nhau không hoàn toàn khớp nhau về cặp hướng và cặp địa chi bị kể tên. Vì vậy khi tra cứu, người đọc nên biết bài đang dẫn bản nào thay vì coi đó là bản duy nhất đúng.

Vì sao các bản ca quyết Hoàng Tuyền không khớp nhau?

Có ít nhất ba lý do khiến các bản Hoàng Tuyền khác nhau. Thứ nhất là khác cục: cùng một cặp hướng nhưng áp vào Mộc cục hay Kim cục thì vị trí Thai, Mộ, Tuyệt dịch đi, nên hướng bị kể tên cũng đổi. Theo tài liệu của Cao Trung được dẫn lại, khi long thuộc Mộc cuộc mà nước được thu ở các vị trí Thai, Mộ, Tuyệt thì tương ứng với Canh, Đinh, Khôn; hoặc nếu lập hướng Đinh mà nước đến từ Canh, lập hướng Tốn mà nước đến từ Tốn, lập hướng Ất mà nước đến từ Bính, thì đều có khả năng phạm Hoàng Tuyền hướng hoặc thủy sát.

Thứ hai là khác cách đếm: có tài liệu đếm theo hướng nhà, có tài liệu đếm theo hướng nước đến, lại có tài liệu đếm theo hướng nước đi. Ba cách đếm này cho ra ba danh sách khác nhau.

Thứ ba là khác truyền bản. Cùng một phép nhưng qua nhiều đời sao chép, một vài chữ bị đổi, và chỉ một chữ đổi là cả cặp hướng đổi theo.

Vì vậy, cách dùng hợp lý là chọn một bản nhất quán, ghi rõ đang theo bản nào, và đối chiếu với thực địa trước khi kết luận.

Cách hóa giải Hoàng Tuyền sát được nêu ra sao?

Nguyên tắc cốt lõi được nêu trong các tài liệu là điều chỉnh dòng chảy của nước và chọn hướng phù hợp. Vì nguyên nhân chính gây họa được cho là việc thu nước vào minh đường tại vị trí phạm sát, nên giải pháp đầu tiên là để nước phạm Hoàng Tuyền thoát ra chứ không cho nhập cuộc lên minh đường.

Nói cách khác, phép này không đặt nặng chuyện trấn yểm bằng vật phẩm, mà đặt nặng chuyện dẫn nước đi đúng đường. Đây cũng là lý do vì sao thủy pháp được xem là phần khó của địa lý: sai một hướng thoát nước có thể đảo ngược kết quả của cả một cuộc đất.

Tam Nguyên luận nước theo vận khác Tam Hợp ở điểm nào?

Phái Tam Nguyên không luận nước theo vòng tràng sinh của địa chi, mà luận theo vận. Sách Nhập môn loan đầu: tầm long điểm huyệt có đoạn nói về phép Huyền Không phi tinh: phương nào có hướng bàn tinh sinh vượng thì gặp thủy càng tốt, còn phương nào có hướng bàn tinh suy tử thì không nên gặp thủy, nếu không thường bị thoái tài. Sách cũng nêu trường hợp phương có sơn bàn tinh sinh vượng chống nàn mà gặp thủy thì thường hao tổn nhân đinh, còn phương có sơn bàn tinh suy tử mà gặp thủy thì có thể hóa hung thành cát.

Theo sách này, thủy được gọi là linh thần, với câu "Thủy là linh thần, cát lợi. Thủy là Chính thần, hung họa". Sách cũng cho biết khi vận dụng cần kết hợp thêm 48 cục thuận tử và nghịch tử. Như vậy cùng một dòng nước, Tam Nguyên có thể kết luận tốt hay xấu tùy vận đang quản, trong khi Tam Hợp kết luận theo cung tràng sinh cố định của cục. Hai phái có thể cho hai kết luận trái nhau trên cùng một thực địa, và điều đó là bình thường trong phong thủy.

Sách Địa lý Nguyên Không Pháp Giám của Liên Trì tiên sinh đi theo lối khác nữa khi bàn thủy khẩu theo kim long và tiên thiên bát quái, phân ra bản nguyên thủy khẩu và ngoại nguyên thủy khẩu, kèm phân biệt thuận cục và nghịch cục theo tả thủy hay hữu thủy. Đây là một hệ quy chiếu thứ ba, không trùng với vòng tràng sinh lẫn với phi tinh.

Những điểm cần thận trọng khi đọc thủy pháp

Theo các tài liệu, người làm địa lý mà không nắm vững long thượng bát sát và Bát đại Hoàng Tuyền thì rất khó tạo phúc cho gia chủ. Tuy vậy, cũng chính các tài liệu này cho thấy mức độ bất đồng giữa các bản và các phái.

Vì vậy, khi gặp một lời khẳng định kiểu "phạm Hoàng Tuyền thì chắc chắn yểu triết, phá bại", người đọc nên xem đó là cách nói trong khuôn khổ một hệ phái cụ thể, không phải một kết luận tuyệt đối cho mọi trường hợp. Thủy pháp là một hệ quy chiếu để đọc địa thế, và giá trị của nó nằm ở chỗ buộc người ta quan sát kỹ nước đến, nước đi, nước tụ trước khi đưa ra bất cứ nhận định nào.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Tràng sinh thủy pháp có phải là xem tuổi tam hợp của gia chủ không?

Không. Tam Hợp trong tràng sinh thủy pháp là tên của cục thủy dựa trên tam hợp địa chi trên địa bàn, dùng để an vòng mười hai cung tràng sinh. Nó không liên quan đến tam hợp tuổi hay xung khắc tuổi giữa người với người.

Vì sao các bản ca quyết Hoàng Tuyền lại khác nhau?

Có ba nguyên nhân chính: khác cục thủy nên vị trí Thai, Mộ, Tuyệt dịch đi và hướng bị kể tên đổi theo; khác cách đếm, có bản đếm theo hướng nhà, có bản theo hướng nước đến, có bản theo hướng nước đi; và khác truyền bản qua nhiều đời sao chép. Vì vậy nên chọn một bản nhất quán và ghi rõ đang theo bản nào.

Tam Nguyên và Tam Hợp có luôn cho cùng một kết luận về dòng nước không?

Không. Tam Hợp luận nước theo cung tràng sinh cố định của cục, còn Tam Nguyên luận theo vận, dùng chính thần và linh thần, nên cùng một dòng nước có thể được phái này coi là lợi và phái kia coi là hại. Đây là bất đồng phương pháp đã có từ lâu, không phải sai sót của một bên.

Bài này thuộc chủ đề Phong thuỷ. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Phong thuỷ.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Nhập môn loan đầu: tầm long điểm huyệt
  2. Địa lý Nguyên Không Pháp Giám (Liên Trì tiên sinh)
#TràngSinhThủyPháp#ThủyPhápTamHợp#HoàngTuyềnSát#BátĐạiHoàngTuyền#ThuThủyPhóngThủy#PhongThủyLoanĐầu#TamNguyênPhongThủy