Nhật Nguyệt

Tri thức / Đông phương / Tử Vi Đẩu Số

Tử vi

Ba dòng đầu lá số Tử Vi: Âm Nam hay Dương Nữ, Thủy nhị cục hay Hỏa lục cục, bản mệnh nạp âm nghĩa là gì và được tính ra sao?

Chia sẻ:
Ba dòng đầu lá số Tử Vi: Âm Nam hay Dương Nữ, Thủy nhị cục hay Hỏa lục cục, bản mệnh nạp âm nghĩa là gì và được tính ra sao?
TL;DR: Ba dòng đầu lá số Tử Vi cho biết ba thứ khác nhau. Âm dương nam nữ là tính chất âm dương của năm sinh ghép với giới tính, quyết định chiều đi của đại hạn và các vòng Tràng Sinh, Bác Sĩ. Ngũ hành cục là hành nạp âm của can chi cung Mệnh, quyết định vị trí sao Tử Vi, chỗ khởi vòng Tràng Sinh và tuổi khởi đại hạn. Bản mệnh nạp âm là hành của can chi năm sinh, dùng để so sinh khắc với cục. Các phái không thống nhất ở cách lý giải con số cục, ở mức độ coi trọng phép so Mệnh Cục, và ở việc có dùng hay không khái niệm âm dương thuận lý.

Ba dòng đầu lá số Tử Vi gồm những gì?

Ba dòng đầu lá số Tử Vi ghi ba thông tin nền tảng khác nhau: tính chất âm dương nam nữ của đương số, ngũ hành cục của cung Mệnh, và bản mệnh nạp âm của năm sinh. Chúng không phải ba cách gọi khác nhau của cùng một thứ, mà là ba dữ liệu độc lập, mỗi thứ can thiệp vào một khâu khác nhau của việc lập và luận lá số. Hiểu sai một trong ba có thể kéo theo sai toàn bộ phần an sao phía sau.

Ba dòng này thường được in ngay dưới tên đương số và ngày giờ sinh. Người mới xem lá số hay bỏ qua chúng vì trông giống phần hành chính, trong khi thực ra chúng chính là chìa khoá để dựng phần còn lại của lá số.

Âm dương nam nữ là gì và quyết định điều gì?

Âm dương nam nữ là tính chất âm dương của năm sinh ghép với giới tính, và nó quyết định chiều đi của đại hạn cùng các vòng Tràng Sinh, Bác Sĩ. Đây là thông tin quyết định lá số được đọc theo chiều thuận hay chiều nghịch, nên nếu ghi nhầm, toàn bộ phần vận hạn sẽ lệch.

Có hai cách xác định tính chất âm dương của năm sinh đang cùng tồn tại. Cách phổ biến trong các trang lập lá số trực tuyến hiện nay là lấy chữ số cuối của năm sinh: số lẻ là năm Âm, số chẵn là năm Dương. Cách thứ hai, được sách Địa Lý Gia Truyền Bí Thư Đại Toàn nhắc tới, xét theo tương phối can chi của năm sinh: can Dương ghép chi Âm thì là Dương Nam hoặc Âm Nữ, can Âm ghép chi Dương thì là Âm Nam hoặc Dương Nữ. Hai cách này cho kết quả không phải lúc nào cũng trùng nhau, và đây là một trong những điểm các phái chưa thống nhất.

Về quy ước cung, các cung Dương là Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất; các cung Âm là Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi. Khi tính chất âm dương của năm sinh trùng với tính chất âm dương của cung an Mệnh, ta có âm dương thuận lý; khi lệch nhau, ta có âm dương nghịch lý.

Ngũ hành cục được tính từ đâu?

Ngũ hành cục được tính từ can của năm sinh ghép với chi của cung an Mệnh, tra theo hành nạp âm của cặp can chi đó. Sách Đẩu số tinh thành (Thiên Hỏa Đồng Nhân) trình bày phép này rất gọn: lấy can cung Mệnh làm hàng, lấy chi cung Mệnh làm cột, giao nhau cho ra ngũ hành cục. Ví dụ cung Mệnh can Giáp, chi Tý thì là Kim tứ cục; can Giáp, chi Dần thì là Thủy nhị cục.

Cần phân biệt rõ: can dùng để tra cục là can của cung Mệnh, không phải can của năm sinh. Can cung Mệnh lại được suy ra từ can năm sinh theo phép an cung Mệnh, nên trên thực tế cục vẫn gián tiếp phụ thuộc năm sinh, nhưng không phải cứ cùng năm sinh là cùng cục. Hai người sinh cùng năm, khác tháng và khác giờ, có thể có cung Mệnh ở hai chi khác nhau và do đó ra hai cục khác nhau.

Bảng tra cục theo can chi cung Mệnh, phục dựng theo bảng trong sách Đẩu số tinh thành:

Can cung MệnhTý, SửuDần, MãoThìn, TỵNgọ, MùiThân, DậuTuất, Hợi
Giáp, ẤtKim tứ cụcThủy nhị cụcHỏa lục cụcKim tứ cụcThủy nhị cụcHỏa lục cục
Bính, ĐinhThủy nhị cụcHỏa lục cụcThổ ngũ cụcThủy nhị cụcHỏa lục cụcThổ ngũ cục
Mậu, KỷHỏa lục cụcThổ ngũ cụcMộc tam cụcHỏa lục cụcThổ ngũ cụcMộc tam cục
Canh, TânThổ ngũ cụcMộc tam cụcKim tứ cụcThổ ngũ cụcMộc tam cụcKim tứ cục
Nhâm, QuýMộc tam cụcKim tứ cụcThủy nhị cụcMộc tam cụcKim tứ cụcThủy nhị cục

Bảng này cho thấy cục chỉ có năm giá trị: Thủy nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục, Hỏa lục cục. Con số kèm theo không phải số ngẫu nhiên, mà là số gắn với tuổi khởi đại hạn như trình bày ở phần dưới.

Cục quyết định vị trí sao Tử Vi như thế nào?

Theo sách Đẩu số tinh thành, sau khi đã có cục, người lập lá số lấy cục ghép với ngày sinh âm lịch để tra ra vị trí sao Tử Vi. Sách đưa ví dụ: người cục Thủy sinh mùng một thì Tử Vi ở Sửu, sinh mùng hai thì Tử Vi ở Dần, sinh mùng ba cũng ở Dần. Nói cách khác, cục và ngày sinh là hai toạ độ để định Tử Vi, chứ không phải chỉ ngày sinh.

Một số tài liệu diễn đàn còn đi xa hơn, cho rằng vị trí sao Tử Vi mới là cái quyết định bản chất của cục, còn con số ngũ hành chỉ là lớp biểu đạt bên ngoài. Quan điểm này không phải là cách hiểu phổ biến trong các sách giáo khoa tử vi, và cũng chưa được kiểm chứng rộng, nên người học nên biết để tham khảo chứ không nên lấy làm chuẩn thay cho bảng tra cục.

Cục quyết định tuổi khởi đại hạn và vòng Tràng Sinh ra sao?

Con số của cục chính là tuổi khởi đại hạn. Thủy nhị cục khởi đại hạn từ 2 tuổi, Mộc tam cục từ 3 tuổi, Kim tứ cục từ 4 tuổi, Thổ ngũ cục từ 5 tuổi, Hỏa lục cục từ 6 tuổi. Mỗi đại hạn kéo dài mười năm, và mười hai chặng đại hạn đi hết một vòng mười hai cung.

Vòng Tràng Sinh khởi theo cục, đi thuận hay nghịch theo âm dương nam nữ.
Vòng Tràng Sinh khởi theo cục, đi thuận hay nghịch theo âm dương nam nữ.

Bảng đối chiếu cục với tuổi khởi đại hạn và mười hai chặng:

CụcTuổi khởi đại hạnChặng 1Chặng 2Chặng 3Chặng 4Chặng 5Chặng 6
Thủy nhị cục22 đến 1112 đến 2122 đến 3132 đến 4142 đến 5152 đến 61
Mộc tam cục33 đến 1213 đến 2223 đến 3233 đến 4243 đến 5253 đến 62
Kim tứ cục44 đến 1314 đến 2324 đến 3334 đến 4344 đến 5354 đến 63
Thổ ngũ cục55 đến 1415 đến 2425 đến 3435 đến 4445 đến 5455 đến 64
Hỏa lục cục66 đến 1516 đến 2526 đến 3536 đến 4546 đến 5556 đến 65

Sáu chặng còn lại tiếp tục cộng thêm mười tuổi cho mỗi chặng, đi cho hết vòng mười hai cung. Chiều đi của các chặng này do âm dương nam nữ quyết định như đã nói ở trên.

Cục cũng là mốc để khởi vòng Tràng Sinh. Vòng Tràng Sinh gồm mười hai chặng: Tràng Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Chỗ khởi vòng này phụ thuộc cục, nên hai người khác cục sẽ có vòng Tràng Sinh đặt ở hai vị trí khác nhau dù cùng ngày sinh.

Bản mệnh nạp âm dùng để làm gì?

Bản mệnh nạp âm là hành của can chi năm sinh, tra theo Lục Thập Hoa Giáp, và nó khác với cục. Cục lấy can chi cung Mệnh, còn bản mệnh lấy can chi năm sinh. Mỗi hành trong nạp âm lại chia thành sáu loại, tổng cộng ba mươi loại cho cả năm hành, ví dụ hành Kim có Sa trung kim, Kim bạc kim, Hải trung kim, Kiếm phong kim, Bạch lạp kim, Thoa xuyến kim; hành Thủy có Thiên hà thủy, Đại khê thủy, Đại hải thủy, Giản hạ thủy, Tuyền trung thủy, Trường lưu thủy.

Theo cách hiểu phổ biến, bản mệnh là bản chất của đương số, còn cục là hoàn cảnh và môi trường sống mà đương số phải tiếp xúc thường xuyên. Ngũ hành cục cũng mang ý nghĩa định hướng: Thủy nhị cục thiên về trí, Mộc tam cục thiên về nhân, Kim tứ cục thiên về nghĩa, Thổ ngũ cục thiên về tín, Hỏa lục cục thiên về lễ. Đây là cách gán nghĩa truyền thống, không phải một kết luận khoa học đã được kiểm chứng.

Phép so Mệnh với Cục được các phái áp dụng khác nhau ra sao?

Phép so ngũ hành giữa bản mệnh và cục cho ra năm dạng: Mệnh cục bình hòa khi hai hành giống nhau, Cục sinh Mệnh, Mệnh sinh Cục, Cục khắc Mệnh, Mệnh khắc Cục. Cách xác định chiều sinh khắc theo đúng vòng ngũ hành: Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim; Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim.

Sách Thẩm Trúc Nhưng, Trạch vận tân án (Lê Việt Anh biên dịch) nhắc lại vòng sinh khắc này và lưu ý nó chỉ chạy một chiều: Mộc sinh Hỏa nhưng Hỏa không sinh Mộc, Kim khắc Mộc nhưng Mộc không khắc Kim. Hiểu sai chiều tác động là nguồn gốc của nhiều luận giải lệch.

Đây là chỗ các phái không thống nhất rõ nhất. Có phái coi Mệnh cục bình hòa và Cục sinh Mệnh là hai dạng tốt nhất, còn Mệnh sinh Cục là dạng phải hy sinh để nuôi dưỡng hoàn cảnh, và hai dạng khắc là sái cách. Nhưng cũng có phái cho rằng phép so này chỉ là một lớp thông tin phụ, mức độ nặng nhẹ còn tuỳ Mệnh cường hay nhược. Có tài liệu lấy ví dụ người tuổi Bính Tý, mệnh Giang Hà Thủy, cục Thổ, tức Cục khắc Mệnh, nhưng nếu Mệnh cường và Cục nhược thì vẫn có thể luận theo hướng cát. Nói cách khác, không có công thức cố định biến một cặp Mệnh Cục thành một kết luận cát hung tuyệt đối.

Vì sao con số của cục lại lệch với số ngũ hành trong Lạc Thư?

Đây là câu hỏi được đặt ra từ lâu trên các diễn đàn lý số, và đến nay vẫn chưa có lời giải được mọi phái chấp nhận. Theo Lạc Thư, số của Thủy là 1 và 6, số của Hỏa là 2 và 7. Nhưng trong tử vi, Thủy lại là nhị cục (2) và Hỏa lại là lục cục (6). Ba hành còn lại thì khớp: Mộc là 3, Kim là 4, Thổ là 5.

Lạc Thư: mọi hàng, cột và đường chéo đều cộng lại bằng 15.
Lạc Thư: mọi hàng, cột và đường chéo đều cộng lại bằng 15.

Có ít nhất ba hướng lý giải đang lưu hành. Hướng thứ nhất cho rằng đây chỉ là quy ước, và quy ước thì phụ thuộc gốc toạ độ, không nhất thiết phải trùng với Lạc Thư. Hướng thứ hai cho rằng có sự nhầm lẫn trong quá trình truyền bản và đề nghị đổi chỗ Thủy với Hỏa, nhưng nếu đổi thì phải đổi luôn cả bảng nạp âm Lục Thập Hoa Giáp, và điều đó lại phá vỡ tính logic giữa phối can với phối chi. Hướng thứ ba tìm cách lý giải bằng một hệ quy chiếu khác, chẳng hạn các nghiên cứu về Hà Đồ, nhưng chưa đưa ra được kết luận được đông đảo người hành nghề chấp nhận.

Điều đáng lưu ý là các sách giáo khoa tử vi như Đẩu số tinh thành chỉ trình bày bảng tra cục như một dữ kiện có sẵn, không kèm chứng minh. Người học nên biết đây là điểm mở của hệ thống, không phải chỗ đã ngã ngũ.

Âm dương thuận lý có phải là yếu tố quyết định?

Các trang lập lá số trực tuyến hiện nay thường ghi rõ tính chất thuận lý hay nghịch lý ở phần thiên bàn. Nhưng mức độ coi trọng yếu tố này rất khác nhau giữa các phái. Có phái xem âm dương thuận lý là dấu hiệu của sự nhất quán giữa bản chất bên trong và biểu hiện bên ngoài, từ đó ít mâu thuẫn và dễ thuận lợi hơn. Cũng có phái hầu như không dùng khái niệm này khi luận giải, coi nó là thông tin mô tả chứ không phải yếu tố định lượng.

Ngay cả trong nhóm coi trọng, nhiều tài liệu cũng thừa nhận đây chỉ là ảnh hưởng tương đối. Có người âm dương thuận lý nhưng thiếu quyết đoán nên bỏ lỡ cơ hội, và ngược lại có người nghịch lý nhưng bù lại bằng ý chí và nghị lực. Vì vậy, đọc ba dòng đầu lá số nên được coi là bước xác lập khung, không phải bước kết luận về vận mệnh.

Kết hợp ba yếu tố thì đọc theo thứ tự nào?

Trình tự hợp lý là: xác định âm dương nam nữ trước để biết chiều đi; tra cục từ can chi cung Mệnh để biết vị trí sao Tử Vi, chỗ khởi vòng Tràng Sinh và tuổi khởi đại hạn; sau đó mới tra bản mệnh nạp âm để so sinh khắc với cục. Ba bước này độc lập về dữ liệu nhưng nối tiếp nhau về logic, và bước sau không thay thế được bước trước.

Một điểm cần nhớ là cả ba yếu tố đều chỉ là khung. Chúng không nói thay phần an sao, không nói thay phần luận cung, và càng không cho phép kết luận tuyệt đối về tài chính, sức khoẻ hay vận hạn của một người.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Ngũ hành cục trong lá số Tử Vi được tính từ can năm sinh hay can cung Mệnh?

Cục được tra từ can của cung Mệnh ghép với chi của cung Mệnh, theo hành nạp âm của cặp can chi đó. Can cung Mệnh lại được suy ra từ can năm sinh theo phép an cung Mệnh, nên cục gián tiếp phụ thuộc năm sinh nhưng không phải cứ cùng năm sinh là cùng cục. Sách Đẩu số tinh thành trình bày phép này dưới dạng bảng tra, ví dụ can cung Mệnh là Giáp, chi là Tý thì ra Kim tứ cục.

Con số của cục quyết định điều gì trong lá số?

Con số của cục chính là tuổi khởi đại hạn: Thủy nhị cục từ 2 tuổi, Mộc tam cục từ 3 tuổi, Kim tứ cục từ 4 tuổi, Thổ ngũ cục từ 5 tuổi, Hỏa lục cục từ 6 tuổi. Mỗi đại hạn kéo dài mười năm và đi hết một vòng mười hai cung. Cục cũng là mốc để khởi vòng Tràng Sinh, và cùng với ngày sinh âm lịch, cục dùng để tra ra vị trí sao Tử Vi.

Vì sao Thủy nhị cục và Hỏa lục cục lại lệch với số ngũ hành trong Lạc Thư?

Theo Lạc Thư, số của Thủy là 1 và 6, số của Hỏa là 2 và 7, nhưng trong tử vi Thủy lại là nhị cục và Hỏa lại là lục cục, trong khi Mộc 3, Kim 4, Thổ 5 thì khớp. Hiện có ít nhất ba hướng lý giải: coi đây chỉ là quy ước phụ thuộc gốc toạ độ, cho rằng có nhầm lẫn truyền bản và đề nghị đổi chỗ Thủy với Hỏa nhưng phải đổi cả bảng nạp âm, hoặc tìm một hệ quy chiếu khác. Các sách giáo khoa tử vi chỉ trình bày bảng tra cục như dữ kiện có sẵn, không kèm chứng minh, nên đây vẫn là điểm mở của hệ thống.

Bài này thuộc chủ đề Tử Vi Đẩu Số. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Tử Vi Đẩu Số.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Thẩm Trúc Nhưng, Trạch vận tân án (Lê Việt Anh biên dịch)
  2. Tracuutuvi.com, Âm dương thuận lý
  3. Lý số Việt Nam, Tại sao lại là Thủy nhị cục
#TửVi#LáSốTửVi#NgũHànhCục#ThủyNhịCục#HỏaLụcCục#ÂmDươngNamNữ#BảnMệnhNạpÂm#ĐạiHạnTửVi#VòngTràngSinh#ÂmDươngThuậnLý