Can cung trên lá số Tử Vi là gì?
Can cung là thiên can gắn vào từng ô địa chi trong mười hai cung của lá số Tử Vi. Mười hai cung địa chi Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi cố định trên mệnh bàn, không đổi theo người. Việc an can lên các cung ấy chỉ phụ thuộc vào can năm sinh. Sách Đẩu số tinh thành (tập 1, phần 1) trình bày mười hai địa chi chia âm dương theo vị trí lẻ chẵn: Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất thuộc dương, còn Sửu, Mão, Tị, Mùi, Dậu, Hợi thuộc âm. Cũng theo sách này, địa chi phối Ngũ hành theo nhóm: Dần Mão thuộc Mộc, Tị Ngọ thuộc Hỏa, Thân Dậu thuộc Kim, Tý Hợi thuộc Thủy, Thìn Tuất Sửu Mùi thuộc Thổ.
Khi đã có can cho từng cung, mỗi cung trở thành một cặp can chi, ví dụ năm sinh Giáp thì cung Dần là Bính Dần, cung Mão là Đinh Mão, cung Thìn là Mậu Thìn. Cặp can chi ấy là đầu vào cho nhiều phép tính tiếp theo trong lá số.
Phép Ngũ Hổ Độn tính can các cung như thế nào?
Phép Ngũ Hổ Độn lấy can năm sinh làm mốc, rồi đếm thuận từ cung Dần. Sách Đẩu số tinh thành (tập 1, phần 1) ghi khẩu quyết dùng cho tháng, gọi là Ngũ Hổ Độn khởi nguyệt quyết, với nội dung: năm Giáp hoặc Kỷ thì khởi Bính Dần, năm Ất hoặc Canh khởi Mậu Dần, năm Bính hoặc Tân khởi Canh Dần, năm Đinh hoặc Nhâm khởi Nhâm Dần, năm Mậu hoặc Quý khởi Giáp Dần. Từ cung Dần đếm thuận, mỗi cung tiếp theo cộng thêm một can theo vòng mười thiên can.
Sách Kỳ Môn Chỉ Quy (quyển 1) liệt Ngũ Hổ Độn trong danh mục các phép khởi lệ của Kỳ Môn, bên cạnh Ngũ Thử Độn, cho thấy phép này là một công cụ dùng chung cho nhiều môn, không riêng Tử Vi. Trong Tử Vi, cùng một công thức ấy được áp lên mười hai cung địa chi thay vì áp lên mười hai tháng.
Cơ chế đếm thuận có thể hình dung qua một ví dụ. Người sinh năm Giáp, khởi Bính Dần: cung Dần là Bính Dần, cung Mão là Đinh Mão, cung Thìn là Mậu Thìn, cung Tị là Kỷ Tị, cung Ngọ là Canh Ngọ, cung Mùi là Tân Mùi, cung Thân là Nhâm Thân, cung Dậu là Quý Dậu, cung Tuất là Giáp Tuất, cung Hợi là Ất Hợi. Đến đây vòng can đã đi hết mười bước kể từ Bính, nên cung Tý lặp lại Bính, tức Bính Tý, và cung Sửu lặp lại Đinh, tức Đinh Sửu. Cách đếm này cho ra kết quả giống nhau bất kể bắt đầu từ cung Dần hay đi vòng theo thứ tự Tý Sửu Dần Mão, vì cả hai đều là đếm thuận quanh vòng mười hai chi.
Vì sao Tý và Sửu lặp lại can của Dần và Mão?
Có mười thiên can nhưng có mười hai địa chi, nên khi trải mười can lên mười hai cung thì hai cung cuối vòng phải nhận lại can đã dùng. Trong cách an của Tử Vi, hai cung nhận lại ấy là Tý và Sửu. Cụ thể, can của Tý trùng can của Dần, can của Sửu trùng can của Mão. Có cách luận nói rõ hệ quả: cung có thiên can năm sinh, gọi là Lai Nhân Cung, không thể nằm ở Tý hoặc Sửu, vì hai địa chi này không có thiên can riêng trong vòng mười hai cung.
Đây là chỗ nhiều người đặt câu hỏi. Nếu Tý và Sửu không có can riêng thì việc phi hóa từ hai cung này dựa trên cơ sở nào, và khi nào thì dùng can lặp, khi nào thì không. Các tài liệu không thống nhất hoàn toàn ở điểm này, và mức độ ảnh hưởng của nó tùy phái.
Bảng can chi mười hai cung theo năm nhóm can năm sinh
Bảng dưới đây do lõi tính của hệ thống dựng tự động, không gõ tay. Cột dọc là năm nhóm can năm sinh, cột ngang là mười hai cung địa chi.

| Nhóm can năm sinh | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tị | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Giáp, Kỷ | Bính Tý | Đinh Sửu | Bính Dần | Đinh Mão | Mậu Thìn | Kỷ Tị | Canh Ngọ | Tân Mùi | Nhâm Thân | Quý Dậu | Giáp Tuất | Ất Hợi |
| Ất, Canh | Mậu Tý | Kỷ Sửu | Mậu Dần | Kỷ Mão | Canh Thìn | Tân Tị | Nhâm Ngọ | Quý Mùi | Giáp Thân | Ất Dậu | Bính Tuất | Đinh Hợi |
| Bính, Tân | Canh Tý | Tân Sửu | Canh Dần | Tân Mão | Nhâm Thìn | Quý Tị | Giáp Ngọ | Ất Mùi | Bính Thân | Đinh Dậu | Mậu Tuất | Kỷ Hợi |
| Đinh, Nhâm | Nhâm Tý | Quý Sửu | Nhâm Dần | Quý Mão | Giáp Thìn | Ất Tị | Bính Ngọ | Đinh Mùi | Mậu Thân | Kỷ Dậu | Canh Tuất | Tân Hợi |
| Mậu, Quý | Giáp Tý | Ất Sửu | Giáp Dần | Ất Mão | Bính Thìn | Đinh Tị | Mậu Ngọ | Kỷ Mùi | Canh Thân | Tân Dậu | Nhâm Tuất | Quý Hợi |
Nhìn bảng có thể thấy quy luật: cung Dần luôn mang can khởi đầu của nhóm, cung Tý luôn trùng can với cung Dần, cung Sửu luôn trùng can với cung Mão, đúng như đã nói ở trên.
Dùng can cung vào việc gì?
Can cung không phải chi tiết trang trí. Nó là đầu vào cho ba phép tính thường gặp.

Định Ngũ hành cục qua nạp âm can chi cung Mệnh
Khi đã có cặp can chi của cung Mệnh, người ta tra nạp âm của cặp ấy để ra Ngũ hành cục của lá số. Ví dụ năm sinh Giáp, cung Mệnh đóng tại Dần thì cặp can chi là Bính Dần, tra nạp âm cho ra một hành, từ đó xác định cục. Cục là tham số dùng để an Tử Vi và các sao chính tinh, nên can cung ở đây đóng vai trò trung gian bắt buộc: không có can cung thì không có cặp can chi, không tra được nạp âm, không ra cục.
Phi hóa Tứ Hóa theo can từng cung
Đây là chỗ can cung được dùng nhiều nhất trong phái Tứ Hóa và Khâm Thiên. Có cách luận nêu rằng thiên can dùng cho Tứ Hóa gồm can năm sinh, can mười hai cung, can cung đại hạn, can cung lưu niên. Từ mỗi can ấy phi xuất bốn hóa Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ rồi rơi vào các cung khác trên lá số. Sách này cũng phân biệt Hóa Nhập, Hóa Xuất và Tự Hóa, và cho rằng cát hung của Lộc hay Kỵ không thể kết luận chỉ bằng vài lời, phải đặt cùng cung vị mới luận được. Tuy nhiên sách cũng lưu ý Hóa Kỵ không hoàn toàn chỉ xấu, Hóa Lộc không hoàn toàn chỉ tốt.
Có ví dụ cụ thể về cách phối can cung với can lưu niên: nếu lưu niên là Canh Thìn mà cung Thìn trên mệnh bàn mang can Bính, thì phải dùng đồng thời cung Thìn, can Bính cố định và can Canh của lưu niên để hóa ra tứ tượng, từ đó suy động hướng và tượng nghĩa. Cách làm này biến can cung thành một lớp dữ liệu cố định, đối chiếu với lớp dữ liệu động của năm đang xem.
An can cho cung đại hạn
Khi bước vào một đại hạn, cung đại hạn cũng được gán một thiên can theo cùng nguyên tắc đếm thuận từ cung Dần dựa trên can của năm mở đại hạn. Can ấy lại được dùng để phi hóa cho giai đoạn mười năm, tạo ra lớp Tứ Hóa riêng của đại hạn. Ở đây can cung đóng vai trò mốc thời gian, không phải thuộc tính cố định của người.
Các phái dùng can cung khác nhau ra sao?
Mức độ sử dụng can cung không giống nhau giữa các phái, và đây là chỗ cần nói rõ thay vì gộp chung.
Phái Tam Hợp gần như chỉ dùng can cung để định cục. Can cung vào lá số, tra nạp âm ở cung Mệnh để ra Ngũ hành cục, rồi gần như dừng ở đó. Các phép luận chính của phái này chạy trên hệ sao, cung vị, tam phương tứ chính, không lấy can cung làm trục.
Phái Tứ Hóa và Khâm Thiên lấy can cung làm trục phi hóa. Can của từng cung được dùng để phi xuất Tứ Hóa, và mạng lưới phi hóa giữa các cung trở thành công cụ luận chính. Với phái này, can cung không chỉ để định cục mà còn là một phần của hệ thống luận giải.
Về can của hai cung Tý Sửu, có người đặt câu hỏi vì hai cung này không có can riêng. Hiện tượng này được gọi qua khái niệm Lai Nhân Cung, và cung này không thể ở Tý hoặc Sửu. Cách xử lý can lặp ở hai cung ấy khi phi hóa vẫn là điểm không hoàn toàn thống nhất giữa các tài liệu.
Có nên đọc can cung thành tốt xấu không?
Không nên. Can cung là một khâu tính, không tự nói lên cát hung. Nó là đầu vào của phép định cục, phép phi hóa và phép an can đại hạn, chứ bản thân nó không mang nội dung cát hung độc lập. Cùng một can cung, kết quả luận có thể khác nhau tùy cung vị, tùy hệ sao đi kèm, tùy phái đang dùng. Cũng có cách luận nhấn mạnh rằng định nghĩa cát hung của Lộc và Kỵ không thể tách khỏi cung vị, và mỗi hóa đều có mặt trái mặt phải. Vì vậy, gán cát hung cho từng can cung là bước nhảy vượt quá những gì phép tính này cung cấp.
Khi nào can cung không được dùng đến?
Trong nhiều cách luận thuần Tam Hợp, can cung sau khi đã định cục thì gần như không xuất hiện lại. Trong cách luận Tứ Hóa, can cung xuất hiện liên tục, nhưng giá trị luận giải của nó phụ thuộc vào cung khởi phi và cung nhận hóa. Có tài liệu còn dùng can cung để xét quan hệ với can năm sinh hoặc can lưu niên, như ví dụ Canh Thìn và Bính Thìn đã nêu. Những chỗ này cho thấy can cung là một lớp dữ liệu có thể khai thác ở nhiều mức, tùy phái và tùy mục đích luận.
