Nhật Nguyệt

Tri thức / Đông phương

Bát Tự

Lập tứ trụ Bát Tự từ ngày giờ sinh: trụ năm đổi ở Lập Xuân, trụ tháng đổi ở tiết, trụ ngày theo vòng 60, can giờ suy từ can ngày

Chia sẻ:
Lập tứ trụ Bát Tự từ ngày giờ sinh: trụ năm đổi ở Lập Xuân, trụ tháng đổi ở tiết, trụ ngày theo vòng 60, can giờ suy từ can ngày
TL;DR: Lập tứ trụ Bát Tự gồm bốn bước: trụ năm lấy mốc tiết Lập Xuân chứ không lấy mùng 1 Tết Nguyên Đán, trụ tháng lấy mốc mười hai tiết khí chứ không theo tháng âm lịch, trụ ngày đếm liền theo vòng Lục Thập Hoa Giáp, còn can giờ suy từ can ngày bằng khẩu quyết Ngũ Thử Độn. Các phái còn khác nhau ở mốc đổi ngày cho giờ Tý (23h hay 0h) và ở việc có quy về giờ mặt trời thật theo kinh độ nơi sinh hay không; site chọn mốc 23h và dùng giờ đồng hồ UTC+7, kèm bước quy đổi cho người sinh ở miền Nam trước 1975.

Bốn trụ là gì và vì sao phải lập theo tiết khí?

Tứ trụ, còn gọi là Bát Tự, là bốn cặp can chi ghi lại năm, tháng, ngày, giờ sinh. Trụ của năm mang tên niên trụ, trụ của tháng mang tên nguyệt trụ, trụ của ngày mang tên nhật trụ, còn trụ của giờ mang tên thời trụ. Bốn trụ hợp lại đúng tám chữ, đó là lý do có danh xưng Bát Tự. Sách Đẩu số tinh thành trình bày rằng muốn có bốn trụ thường phải tra cứu lịch vạn niên, và riêng với Tử vi đẩu số thì cách lập tứ trụ cũng được các phái bàn luận theo nhiều hướng khác nhau.

Tứ trụ: bốn cặp can chi, can của trụ ngày là Nhật chủ.
Tứ trụ: bốn cặp can chi, can của trụ ngày là Nhật chủ.

Điều làm cho việc lập tứ trụ tách khỏi việc tra lịch thông thường nằm ở mốc thời gian: Bát Tự không lấy mốc hành chính, cũng không lấy mốc âm lịch, mà lấy mốc tiết khí. Vòng quay của Trái Đất quanh Mặt Trời được tiết khí cắt thành hai mươi bốn điểm, hai điểm liền nhau cách nhau mười lăm độ, và cứ ghép hai tiết lại thì thành một tháng khí. Khi lập tứ trụ, thời gian sinh phải được xác định thật chính xác và phân định dựa trên tiết khí, chứ không thể chỉ căn cứ vào lịch âm theo cách thông thường.

Trụ năm đổi ở Lập Xuân hay ở mùng 1 Tết?

Mốc đổi trụ năm là tiết Lập Xuân, chứ không phải mùng 1 Tết Nguyên Đán. Cách tính tuổi theo dân gian và cách an trụ năm trong Bát Tự khác nhau căn bản ở điểm này.

Mốc đánh dấu năm mới về mặt khí vận không phải là thời điểm chuyển giao năm cũ sang năm mới theo âm lịch, mà chính là Lập Xuân. Ai sinh trước thời khắc Lập Xuân thì trụ năm vẫn thuộc năm cũ, ai sinh sau thời khắc ấy thì trụ năm đã sang năm mới. Sách này đưa ra một thí dụ: giả sử Lập Xuân năm Đinh Hợi nhằm ngày 17 tháng Chạp âm lịch, thời điểm 3 giờ 30 phút sáng; khi đó người sinh cùng ngày lúc 3 giờ sáng vẫn giữ trụ năm Đinh Hợi, trong khi người sinh lúc 4 giờ sáng cùng ngày đã chuyển sang trụ năm Mậu Tý.

Cùng quy ước: năm âm lịch được tính bắt đầu từ ngày Lập Xuân, chứ không phải từ ngày mùng 1 Tết Nguyên Đán, cho nên người sinh trước Lập Xuân vẫn thuộc tuổi của năm âm lịch cũ. Hệ quả là hai người sinh cách nhau vài giờ đồng hồ, nhưng một người trước và một người sau thời khắc Lập Xuân, có thể mang hai trụ năm hoàn toàn khác nhau, kéo theo toàn bộ phần luận giải phía sau cũng khác.

Trụ tháng đổi ở tiết hay theo tháng âm lịch?

Mốc đổi trụ tháng là tiết khí, chứ không phải tháng âm lịch. Cụ thể, mười hai tháng trong Bát Tự được đánh dấu bằng mười hai tiết, mỗi tiết mở đầu một tháng khí:

Tháng khíTiết mở đầuĐịa chi của tháng
Tháng GiêngLập XuânDần
Tháng HaiKinh TrậpMão
Tháng BaThanh MinhThìn
Tháng TưLập HạTị
Tháng NămMang ChủngNgọ
Tháng SáuTiểu ThửMùi
Tháng BảyLập ThuThân
Tháng TámBạch LộDậu
Tháng ChínHàn LộTuất
Tháng MườiLập ĐôngHợi
Tháng Mười MộtĐại TuyếtTý
Tháng ChạpTiểu HànSửu

Địa chi của trụ tháng, vì vậy, cố định theo tiết: hễ qua Lập Xuân là sang chi Dần, hễ qua Kinh Trập là sang chi Mão, bất kể lúc đó là ngày mùng mấy âm lịch. Phần can của trụ tháng mới là chỗ cần suy, và cách suy dựa vào can của trụ năm.

Can tháng suy từ can năm bằng Ngũ Hổ Độn như thế nào?

Can tháng suy từ can năm bằng khẩu quyết Ngũ Hổ Độn, tức phép xác định can của tháng Dần, rồi từ đó đếm thuận ra các tháng còn lại.

Ngũ Hổ Độn gồm năm câu, mỗi câu ứng với một cặp can năm:

  • Năm Giáp hoặc Kỷ: khởi tháng Dần là Bính Dần.
  • Năm Ất hoặc Canh: khởi tháng Dần là Mậu Dần.
  • Năm Bính hoặc Tân: khởi tháng Dần là Canh Dần.
  • Năm Đinh hoặc Nhâm: khởi tháng Dần là Nhâm Dần.
  • Năm Mậu hoặc Quý: khởi tháng Dần là Giáp Dần.

Cơ sở của phép này là ngũ hành hóa hợp: Giáp và Kỷ hóa hợp thành Thổ, nên từ Bính Dần đếm thuận tới vị trí Thìn thì được Mậu Thìn, mà Mậu thuộc Thổ; Ất và Canh hóa hợp thành Kim, nên từ Mậu Dần đếm tới Thìn được Canh Thìn, mà Canh thuộc Kim; Bính và Tân hóa hợp thành Thủy, nên từ Canh Dần đếm tới Thìn được Nhâm Thìn, mà Nhâm thuộc Thủy. Cách lý giải này cho thấy Ngũ Hổ Độn không thuần túy là một phép đếm cơ học mà gắn với quan hệ hóa hợp của thiên can.

Dưới đây là bảng can tháng suy từ can năm, dựng trực tiếp từ lõi tính chứ không gõ tay:

Can nămDầnMãoThìnTịNgọMùiThânDậuTuấtHợiTýSửu
Giáp, KỷBínhĐinhMậuKỷCanhTânNhâmQuýGiápẤtBínhĐinh
Ất, CanhMậuKỷCanhTânNhâmQuýGiápẤtBínhĐinhMậuKỷ
Bính, TânCanhTânNhâmQuýGiápẤtBínhĐinhMậuKỷCanhTân
Đinh, NhâmNhâmQuýGiápẤtBínhĐinhMậuKỷCanhTânNhâmQuý
Mậu, QuýGiápẤtBínhĐinhMậuKỷCanhTânNhâmQuýGiápẤt

Đối chiếu từng ô của bảng này với bảng tháng can chi trong bài Sexagenary cycle của Wikipedia, ta thấy khớp: tháng Dần của năm Giáp hoặc Kỷ là Bính Dần, tháng Dần của năm Ất hoặc Canh là Mậu Dần, và cứ thế theo đúng vòng sáu mươi. Khẩu quyết "Giáp Kỷ hoàn gia Giáp" mà sách Uyên Hải Tử Bình Toàn Tập nhắc tới thuộc về phép Ngũ Thử Độn dùng cho giờ, không phải cho tháng, nên cần phân biệt rõ hai khẩu quyết: Ngũ Hổ Độn dùng cho tháng, Ngũ Thử Độn dùng cho giờ.

Trụ ngày đếm liền theo vòng sáu mươi ra sao?

Trụ ngày đếm liền theo vòng Lục Thập Hoa Giáp, không phụ thuộc vào can năm hay can tháng. Vòng sáu mươi là bội số chung nhỏ nhất của mười thiên can và mười hai địa chi, nên ghép can với chi theo thứ tự sẽ cho sáu mươi tổ hợp rồi trở về Giáp Tý. Vì mười và mười hai chỉ có ước chung là hai, chỉ những cặp can chi cùng tính chẵn lẻ mới ghép được với nhau, còn những cặp lệch tính như Giáp với Sửu thì không xuất hiện trong vòng. Bài Sexagenary cycle của Wikipedia trình bày rõ cấu trúc này.

Điều đáng lưu ý là trụ ngày chạy liên tục, không bị ngắt ở Lập Xuân hay ở bất kỳ tiết nào. Một ngày trong Bát Tự luôn là một tổ hợp can chi trong vòng sáu mươi, và ngày kế tiếp là tổ hợp liền sau đó. Việc xác định trụ ngày vì vậy cần một mốc gốc đã biết, rồi đếm tới hoặc đếm lui cho tới ngày cần tìm.

Can giờ suy từ can ngày bằng Ngũ Thử Độn như thế nào?

Can giờ suy từ can ngày bằng khẩu quyết Ngũ Thử Độn, tức phép xác định can của giờ Tý, rồi từ đó đếm thuận ra các giờ còn lại. Địa chi của giờ thì cố định: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, mỗi giờ hai tiếng đồng hồ.

Sách Đẩu số tinh thành chép khẩu quyết Ngũ Thử Độn rằng: "Giáp Kỷ hoàn gia Giáp, Ất Canh Bính tác sơ, Bính Tân thôi Mậu Tý, Đinh Nhâm Canh Tý cư, Mậu Quý khởi Mậu Tý". Ý nghĩa là: ngày Giáp hoặc Kỷ thì giờ Tý là Giáp Tý; ngày Ất hoặc Canh thì giờ Tý là Bính Tý; ngày Bính hoặc Tân thì giờ Tý là Mậu Tý; ngày Đinh hoặc Nhâm thì giờ Tý là Canh Tý; ngày Mậu hoặc Quý thì giờ Tý là Nhâm Tý. Sách này cũng lưu ý rằng trong cùng một ngày, khoảng 0h01 đến 1h và khoảng 23h01 đến 24h đều thuộc giờ Tý của ngày hôm đó, còn từ 24h01 trở đi mới là giờ Tý của ngày kế tiếp. Đây là quan điểm của sách, và như phần dưới sẽ thấy, không phải phái nào cũng theo.

Bảng can giờ suy từ can ngày, dựng từ lõi tính:

Can ngàyTýSửuDầnMãoThìnTịNgọMùiThânDậuTuấtHợi
Giáp, KỷGiápẤtBínhĐinhMậuKỷCanhTânNhâmQuýGiápẤt
Ất, CanhBínhĐinhMậuKỷCanhTânNhâmQuýGiápẤtBínhĐinh
Bính, TânMậuKỷCanhTânNhâmQuýGiápẤtBínhĐinhMậuKỷ
Đinh, NhâmCanhTânNhâmQuýGiápẤtBínhĐinhMậuKỷCanhTân
Mậu, QuýNhâmQuýGiápẤtBínhĐinhMậuKỷCanhTânNhâmQuý

Đối chiếu từng ô với bảng giờ can chi trong bài Sexagenary cycle của Wikipedia, ta thấy khớp hoàn toàn: giờ Tý của ngày Giáp là Giáp Tý, giờ Tý của ngày Ất là Bính Tý, và cứ thế. Có thể kiểm tra chéo một cách độc lập: bảng can giờ trên thực chất là bảng can tháng dịch đi hai cung, vì cả hai đều dựa trên cùng một nguyên lý ghép can theo vòng. Sự trùng khớp này là một cách tự kiểm khi lập trình hoặc khi tra tay.

Giờ Tý đổi ngày lúc 23h hay lúc 0h?

Đây là chỗ các phái không thống nhất. Có hai cách hiểu về giờ Tý, thường gọi là tảo Tý và vãn Tý.

Theo cách gọi tảo Tý, giờ Tý bắt đầu từ 23h đêm hôm trước, nghĩa là 23h đã sang ngày mới. Theo cách gọi vãn Tý, giờ Tý bắt đầu từ 0h, nghĩa là 23h đến 24h vẫn còn thuộc ngày cũ, và ngày chỉ đổi khi đồng hồ điểm 0h. Sách Đẩu số tinh thành chủ trương lấy 0h làm mốc đổi ngày, và nêu rõ rằng cách này khác với phương pháp suy tính tứ trụ mệnh lý. Như vậy chính sách ấy cũng thừa nhận rằng trong tứ trụ mệnh lý tồn tại cách tính khác.

Trên các diễn đàn lý số, câu hỏi này được đặt ra khá thường xuyên. Một thảo luận trên Lý số Việt Nam nêu trường hợp một bé sinh lúc 23h02, và người trả lời trình bày rằng theo khung giờ mặc định thì 23h đến 1h là giờ Tý của ngày hôm sau, tức 23h là khởi đầu ngày mới, nhưng đồng thời lưu ý đó là nói theo cách tính kỹ thuật và khung giờ mặc định, chứ không phải cứ 22h59 là thuộc giờ Hợi và 23h01 là thuộc giờ Tý một cách máy móc.

Với người lập lá số, đây là quyết định phải chốt trước khi tính. Lõi tính của site chọn mốc 23h: từ 23h trở đi đã tính sang ngày mới, nên giờ Tý thuộc về ngày hôm sau. Lựa chọn này cần được ghi nhớ khi đối chiếu kết quả với một công cụ khác đang dùng mốc 0h, vì cùng một thời điểm sinh có thể cho ra hai trụ ngày khác nhau, và do đó cho ra hai lá số khác nhau.

Có quy về giờ mặt trời thật theo kinh độ nơi sinh không?

Đây cũng là chỗ các phái không thống nhất, và là chỗ ảnh hưởng thực tế lớn hơn người mới học thường nghĩ.

Giờ đồng hồ là giờ hành chính, được chia đều theo múi. Giờ của người xưa được đo theo địa phương, dựa vào bóng mặt trời. Trong cùng một múi giờ, hai địa điểm chênh nhau về kinh độ sẽ có giờ mặt trời thật khác nhau: mỗi kinh độ ứng với bốn phút, nên hai nơi cách nhau bốn độ rưỡi kinh độ thì thời điểm giữa trưa thật lệch nhau khoảng mười tám phút, dù đồng hồ ở hai nơi chỉ cùng một con số. Một thảo luận trên Lý số Việt Nam nêu ví dụ Nha Trang và Hà Tiên cùng thuộc một múi giờ hành chính nhưng lệch nhau khoảng mười tám phút theo giờ mặt trời.

Hệ quả là với những người sinh gần ranh giới giữa hai giờ, việc dùng giờ đồng hồ hay dùng giờ mặt trời thật có thể dẫn tới hai trụ giờ khác nhau. Cũng có ý kiến cho rằng mốc khí tiết cũng nên quy về giờ địa phương, vì thời khắc Lập Xuân là một sự kiện thiên văn, không phải một quy định hành chính.

Lõi tính của site chọn dùng giờ đồng hồ UTC+7, không quy về giờ mặt trời thật theo kinh độ nơi sinh. Lý do là để kết quả lập trình được nhất quán và kiểm tra được, đồng thời vì phần lớn người dùng tra cứu bằng giờ ghi trên giấy khai sinh. Người dùng muốn thử cách quy về giờ mặt trời thật có thể tự trừ hoặc cộng số phút theo kinh độ, rồi lập lại lá số để so sánh.

Người sinh ở miền Nam trước 1975 phải quy đổi giờ thế nào?

Người sinh ở miền Nam trong giai đoạn trước 1975 phải quy đổi giờ, vì khi đó miền Nam dùng múi giờ UTC+8 trong khi miền Bắc dùng UTC+7. Một thảo luận trên Lý số Việt Nam ghi nhận đúng điểm này: giờ miền Nam trước miền Bắc một giờ, và đây là hệ quả của một quy định hành chính chứ không phải của tự nhiên.

Nghĩa là nếu giấy tờ ghi một giờ ở miền Nam trong giai đoạn ấy, muốn lập tứ trụ theo UTC+7 thì phải trừ đi một giờ. Một người sinh lúc 1h sáng theo giờ ghi trên giấy ở miền Nam có thể thực chất là 0h theo UTC+7, và nếu rơi vào vùng ranh giới thì việc trừ một giờ này có thể đẩy trụ giờ sang chi khác, thậm chí đẩy trụ ngày sang ngày khác nếu rơi sát mốc đổi ngày.

Vì vậy, trước khi lập lá số cho người sinh ở miền Nam trước 1975, cần kiểm tra mốc theo dữ liệu múi giờ Asia/Ho_Chi_Minh để xác định chính xác giai đoạn nào dùng múi nào, rồi quy đổi về UTC+7 trước khi đưa vào lõi tính. Đây là bước bắt buộc, không thể bỏ qua, vì sai một giờ có thể làm sai cả trụ giờ lẫn trụ ngày.

Một lá số mẫu sinh sát Lập Xuân

Để thấy rõ ảnh hưởng của mốc Lập Xuân, hãy lấy một trường hợp sinh sát thời khắc này. Giả sử thời khắc Lập Xuân của một năm rơi vào lúc 3 giờ 30 phút sáng ngày 17 tháng Chạp âm lịch. Một người sinh lúc 3 giờ sáng cùng ngày, tức trước Lập Xuân ba mươi phút, sẽ mang trụ năm của năm cũ. Một người sinh lúc 4 giờ sáng cùng ngày, tức sau Lập Xuân ba mươi phút, sẽ mang trụ năm của năm mới. Hai lá số này chỉ cách nhau một giờ đồng hồ nhưng khác nhau ở trụ năm, và vì can tháng suy từ can năm, trụ tháng cũng có thể khác theo.

Khi lập bằng LapBatTu, lá số của người sinh trước Lập Xuân sẽ cho ra cặp can chi năm cũ ở niên trụ, và tháng Dần hoặc tháng Sửu tùy theo thời điểm còn nằm trước hay sau tiết khởi đầu tháng khí. Lá số của người sinh sau Lập Xuân sẽ cho ra cặp can chi năm mới ở niên trụ, và chắc chắn tháng Dần ở nguyệt trụ. Đây là ví dụ cho thấy vì sao phải tra thời khắc tiết khí chứ không thể chỉ nhìn ngày âm lịch.

Sau khi lập đúng lá số thì đọc từng trụ ở đâu?

Bài này dừng ở chỗ lá số đã lập đúng: bốn cặp can chi đã được xác định theo đúng bốn bước, với các lựa chọn về mốc đổi ngày và múi giờ đã được nói rõ. Phần luận giải từng trụ không thuộc phạm vi bài này.

Mỗi trụ gắn với một nhóm khía cạnh riêng: trụ năm thường được gắn với tổ tiên, nguồn cội cùng môi trường sống thuở ban đầu; trụ tháng biểu thị sự nghiệp, cha mẹ và tính cách thời trưởng thành; trụ ngày nằm ở bản thân đương số, vợ hoặc chồng cùng những biến động cá nhân; còn trụ giờ đại diện cho con cái, sự nghiệp lúc cuối đời và các dự định, mong muốn. Bốn bài riêng về trụ năm, trụ tháng, trụ ngày và trụ giờ sẽ đi vào từng phần này.

Cần nhấn mạnh rằng việc lập đúng tứ trụ chỉ là điều kiện cần. Bản thân một lá số không nói lên cát hung tuyệt đối, và cùng một tổ hợp can chi có thể ứng với những hoàn cảnh rất khác nhau tùy đại vận, lưu niên và bối cảnh sống. Một mệnh cục nhìn có vẻ thiên lệch vẫn có thể đạt thành tựu nếu có yếu tố hóa giải, còn một mệnh cục trung hòa nhưng khí không lưu thông được cũng có thể gặp nhiều khó khăn.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Trụ năm trong Bát Tự tính theo Lập Xuân hay theo mùng 1 Tết Nguyên Đán?

Trụ năm tính theo tiết Lập Xuân. Người sinh trước thời khắc Lập Xuân thuộc trụ năm của năm trước, người sinh sau thời khắc ấy thuộc trụ năm của năm đó. Mùng 1 Tết Nguyên Đán là mốc của lịch âm dùng trong đời sống, không phải mốc an trụ năm trong Bát Tự.

Can của trụ tháng và trụ giờ được suy ra bằng cách nào?

Can của trụ tháng suy từ can của trụ năm bằng khẩu quyết Ngũ Hổ Độn, lấy can của tháng Dần làm gốc rồi đếm thuận. Can của trụ giờ suy từ can của trụ ngày bằng khẩu quyết Ngũ Thử Độn, lấy can của giờ Tý làm gốc rồi đếm thuận. Địa chi của tháng thì cố định theo tiết khí, địa chi của giờ thì cố định theo khung hai tiếng.

Giờ Tý nên tính từ 23h hay từ 0h, và người sinh ở miền Nam trước 1975 có phải đổi giờ không?

Các phái không thống nhất: cách tảo Tý lấy 23h làm mốc đổi ngày, cách vãn Tý lấy 0h làm mốc. Lõi tính của site chọn mốc 23h. Về múi giờ, người sinh ở miền Nam trước 1975 cần quy đổi vì giai đoạn đó miền Nam dùng UTC+8, phải trừ đi một giờ để về UTC+7 trước khi lập lá số.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Uyên Hải Tử Bình Toàn Tập
  2. Lý số Việt Nam: Ngày sinh tính theo Tiết khí, Giờ sinh có tính theo Tiết khí không?
  3. Lý số Việt Nam: Cách tính giờ Tý là của ngày hôm trước hay của ngày hôm sau
  4. Wikipedia: Sexagenary cycle
#BátTự#TứTrụ#LậpTứTrụ#LậpXuân#TiếtKhí#NgũHổĐộn#NgũThửĐộn#LụcThậpHoaGiáp#GiờTý#CanChi