Tới nội dung

Tri thức / Việt Nam

Nghệ thuật truyền thống

Cồng và chiêng khác nhau thế nào trong không gian văn hoá Tây Nguyên

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.
Cồng và chiêng khác nhau thế nào trong không gian văn hoá Tây Nguyên

TL;DR: Cồng và chiêng đều là nhạc cụ gõ bằng đồng thau, nhưng cồng có núm ở giữa còn chiêng thì không. Chúng không tồn tại riêng lẻ mà hoà vào không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên, được UNESCO ghi danh năm 2005. Festival cồng chiêng Gia Lai 2026 là dịp để nhìn lại sự khác biệt ấy trong bối cảnh bảo tồn hôm nay.

Cồng và chiêng khác nhau ở đâu?

Cồng có núm ở giữa, chiêng không có núm. Đó là khác biệt cơ bản nhất về hình dáng. Cồng thường lớn hơn, mặt phẳng có một khối núm lồi lên ở tâm, tạo ra âm sắc khác với chiêng. Chiêng nhỏ hơn, mặt phẳng hoặc hơi lõm, không có núm[1].

Cả hai đều được đúc bằng đồng thau. Theo một số tài liệu, cồng chiêng do thợ người Kinh đúc ra rồi trao đổi với các dân tộc miền núi từ nhiều trăm năm trước[1]. Tự thân chiếc cồng hay chiếc chiêng có thể có giá trị cổ vật, nhưng giá trị thật nằm ở việc nó được sử dụng trong đời sống cộng đồng[1].

Đặc điểmCồngChiêng
Hình dángCó núm ở giữa, kích thước thường lớn hơnKhông có núm, kích thước thường nhỏ hơn
Chất liệuĐồng thauĐồng thau
Cách chơiĐánh vào núm hoặc mặtĐánh vào mặt phẳng

Bảng trên chỉ là khung phân biệt cơ bản. Trong thực tế, mỗi dân tộc có cách phiên chế riêng, nên vai trò cụ thể của từng chiếc trong dàn có thể khác nhau.

Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên là gì?

Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên là một di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại, được UNESCO ghi danh ngày 25 tháng 11 năm 2005. Đây không phải là một loại nhạc cụ đơn lẻ mà là tổng thể thực hành văn hoá gắn với cồng chiêng, gồm nghi lễ, kỹ thuật đánh, thang âm, không gian làng buôn và cộng đồng người thực hành[2].

Ngày 25 tháng 11 năm 2005, Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO ghi danh vào danh sách 43 kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại[2].

Theo nhà nghiên cứu âm nhạc Bùi Trọng Hiền, thang âm là yếu tố nền tảng làm nên tính đặc sắc trong âm thanh cồng chiêng Tây Nguyên. Ông từng ngỡ ngàng trước sự đa dạng của các hệ thang âm riêng biệt trong dàn cồng chiêng của người Ba Na, Gia Rai, Xơ Đăng[3].

Vì sao cồng và chiêng không thể tách rời khỏi nghi lễ?

Cồng chiêng là nhạc lễ, không chỉ là nhạc cụ. Trong đời sống các dân tộc Tây Nguyên, tiếng chiêng đi theo vòng đời cây lúa và hành trình của con người, từ lúc lọt lòng đến khi trở về với đất mẹ[2].

Già K'Nẻo, người Mạ ở Lâm Đồng, cho biết trong lễ hội, cồng chiêng là phương tiện để con người thông linh với Yàng, giao hoà cùng trời đất và kết nối cộng đồng[2].

Người Mạ phân biệt chiêng quý (có Yàng cing ngự) và chiêng thường. Chiêng quý chỉ dùng trong lễ trọng, nhất thiết phải có vật hiến sinh từ trâu trở lên mới được tấu[2].

Điều này lý giải vì sao việc bán cồng chiêng ra khỏi buôn làng bị xem là mất mát lớn. Khi chiếc cồng rời khỏi không gian nghi lễ, nó chỉ còn là đồ cổ trưng bày, không còn là "vật báu, hồn thiêng" của cộng đồng[4].

Các dân tộc Tây Nguyên dùng cồng chiêng khác nhau thế nào?

Mỗi dân tộc có phiên chế và thang âm riêng, không có một chuẩn chung cho toàn vùng. Sự khác biệt này là nội dung cốt lõi của di sản, không phải sai lệch cần sửa cho giống nhau.

Người Cơ Ho, Mạ, M'nông dùng bộ chiêng sáu, gọi theo thứ tự ching me, rơnul, ndơn, ndol, t'rơ, thêt. Mỗi vị trí có âm thanh và tiết tấu riêng; ching me giữ nhịp cho cả dàn.

Già làng K'Bát (người Cơ Ho) cho biết người Cơ Ho có 36 điệu chiêng cổ, nhưng hiện không còn ai nhớ đủ.

Nghệ nhân K'Breoh (người Mạ) mô tả: mỗi nghệ nhân chỉ chơi một nốt và một mô hình tiết tấu, kết hợp lại thành bè, thành giai điệu. Cồng chiêng bảo lưu hình thức diễn xướng cộng đồng, hợp tấu bằng cách nghe nhau[2].

Cách chơi này khác căn bản với dàn nhạc phương Tây, nơi mỗi nhạc công đọc chung một bản nhạc. Ở cồng chiêng, không có bản nhạc viết sẵn cho từng người; người đánh phải nghe và ứng vào nhau. Đó là lý do nghệ nhân K'Bon (người K'Ho) gọi không gian diễn xướng là "sân khấu dân gian", nơi cộng đồng gửi tiếng nói đến các thế lực siêu nhiên bên chóe rượu cần, quanh ngọn lửa thiêng[2].

Festival cồng chiêng Gia Lai 2026 có ý nghĩa gì?

Festival quốc tế cồng chiêng Gia Lai 2026 dự kiến diễn ra từ ngày 30/10 đến 8/11/2026 tại phường Pleiku, xã Biển Hồ và một số xã, phường lân cận, quy tụ khoảng 45 đoàn nghệ nhân trong nước và quốc tế[5].

Festival là dịp để các dân tộc giao lưu, trình diễn và trao đổi kinh nghiệm bảo tồn, đồng thời là cơ hội để công chúng nhận diện sự khác biệt giữa các dàn chiêng. Bài báo trên Nhân Dân gợi ý các tỉnh Tây Nguyên nên luân phiên tổ chức Festival cồng chiêng hai đến ba năm một lần[3].

Tuy nhiên, chính các nhà nghiên cứu cũng lưu ý mặt trái. Tại các điểm phát triển du lịch, cần tránh truyền dạy cồng chiêng chéo giữa các dân tộc, vì có thể gây nhầm lẫn giai điệu và làm mai một yếu tố gốc[3].

Năm 2024, lần đầu tiên nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền cùng đồng nghiệp phục dựng cả dàn cồng chiêng Xơ Đăng ở huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, nhờ thông số thang âm được đo cách đó 20 năm[3].

Tỉnh Kon Tum cũ (nay thuộc Quảng Ngãi) sưu tầm được 145 bài chiêng cổ và đặt mục tiêu 100% làng dân tộc thiểu số có bộ cồng chiêng để sinh hoạt cộng đồng[3].

Nguy cơ nào đe doạ sự khác biệt giữa cồng và chiêng?

Nguy cơ lớn nhất là sự pha trộn thang âm, khiến các dàn chiêng khác nhau trở nên giống nhau. Bà Đậu Ngọc Hoài Thu, Trưởng phòng Quản lý văn hoá Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Kon Tum, nhận định tính thiêng của cồng chiêng không còn đậm đặc như trước, và đáng lo nhất là sự hiện đại hoá trong dàn âm thanh: cồng chiêng bị đánh theo thang âm bình quân kiểu đồ, rê, mi[3].

Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền nhận thấy đến năm 2022, khi chấm thi Liên hoan cồng chiêng do Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Kon Tum tổ chức, hầu như các dàn cồng chiêng đều đánh sai thang âm; hiện tượng "lai âm" tràn lan, bộ chiêng của người Xơ Đăng đánh lên nghe giống của người Ba Na hay Gia Rai[3].

Ông cũng chỉ ra lỗi sai mang tính hệ thống: người đánh chiêng, chỉnh chiêng truyền dạy sai, kéo theo người học sai mà không biết[3]. Các nhạc cụ truyền thống khác như đàn tơ rưng, klong put, đàn đá cũng bị chơi cải tiến theo thang âm hiện đại[3].

Làm sao phân biệt cồng và chiêng khi xem trình diễn?

Nhìn vào giữa mặt nhạc cụ: có núm là cồng, không núm là chiêng[1].

Khi xem một dàn chiêng sáu, người nghe có thể nhận ra vai trò của từng chiếc qua âm sắc. Chiếc giữ nhịp thường trầm, đều; những chiếc còn lại đảm nhận các đường âm khác nhau trong tuyến giai điệu[2].

Nghệ nhân Touneh Ma Bio (người Chu Ru) cho rằng cái đẹp của cồng chiêng còn ở hình thể, ở động tác tay chân của người đánh và cả vũ điệu của những người múa xoang[2].

Gợi ý của Nhật Nguyệt

Khi tìm hiểu về cồng chiêng Tây Nguyên, nên bắt đầu từ sự khác biệt cụ thể giữa cồng và chiêng, sau đó mới đi vào không gian văn hoá rộng hơn. Điều này giúp tránh nhầm lẫn giữa một nhạc cụ với cả một di sản.

Việc bảo tồn cồng chiêng không chỉ là giữ lại những chiếc cồng trong bảo tàng, mà là giữ cho chúng được đánh lên trong không gian làng buôn, bên lửa và rượu cần, theo đúng cách mà các thế hệ trước đã làm.

Trong bài này8 mục

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Cồng và chiêng khác nhau ở điểm nào dễ nhận ra nhất?

Cồng có núm ở giữa mặt, chiêng không có núm. Cồng thường lớn hơn và được đánh vào núm, trong khi chiêng nhỏ hơn và đánh vào mặt phẳng.

Vì sao cồng chiêng Tây Nguyên được gọi là không gian văn hoá chứ không phải một loại nhạc cụ?

Vì di sản gồm cả nghi lễ, kỹ thuật đánh, thang âm, không gian làng buôn và cộng đồng thực hành, không chỉ là bản thân chiếc cồng hay chiếc chiêng. UNESCO ghi danh Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên năm 2005 ở dạng kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể.

Festival cồng chiêng Gia Lai 2026 có phải là dịp để so sánh các dàn chiêng không?

Không nên xem đó là cuộc so sánh hơn kém. Các nhà nghiên cứu lưu ý festival là dịp giao lưu và trao đổi kinh nghiệm bảo tồn, nhưng cần tránh truyền dạy chéo giữa các dân tộc vì có thể làm pha trộn thang âm và mai một yếu tố gốc.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdBáo Văn hoá: Cồng chiêng trôi dạt, Đoạn giải thích cấu tạo cồng và chiêngCồng là nhạc cụ thường có kích thước lớn, có núm ở giữa. Chiêng là nhạc cụ thường nhỏ hơn cồng, không có núm.
  2. ↑ abcdefghiTuổi Trẻ Online: Cồng chiêng Tây Nguyên, nhịp thở của đại ngàn, Phần về tính cộng đồng và mốc UNESCO 2005Ngày 25-11-2005 đánh dấu cột mốc quan trọng: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO ghi danh vào danh sách 43 kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại.
  3. ↑ abcdefghiNhân Dân: Khoảng lặng cồng chiêng (kỳ 3), Phần về thang âm và công tác bảo tồnThang âm là yếu tố nền tảng làm nên tính đặc sắc trong âm thanh cồng chiêng Tây Nguyên.
  4. ↑Nhân Dân: Đại ngàn mênh mang chiêng Mẹ, Phần về bộ chiêng sáu của người Cơ HoBộ chiêng sáu của người Cơ Ho, Mạ, M'nông có nhiều tên gọi, nhưng phổ biến theo thứ tự ching me, rơnul, ndơn, ndol, t'rơ, thêt.
  5. ↑VietnamPlus (19/08/2026). Gia Lai sắp tổ chức Festival quốc tế cồng chiêng năm 2026Sự kiện dự kiến diễn ra từ ngày 30/10 đến 8/11, quy tụ khoảng 45 đoàn nghệ nhân trong nước và quốc tế.
#CồngChiêngTâyNguyên#CồngVàChiêng#KhôngGianVănHoáCồngChiêng#FestivalCồngChiêngGiaLai#NhạcCụTruyềnThống#UNESCO2005