Tới nội dung

Tri thức / Việt Nam

Tín ngưỡng dân tộc thiểu số

Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Bộ cồng chiêng đồng truyền thống treo ngoài trời, Tây Nguyên

TL;DR: Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên trải rộng qua các tỉnh Quảng Ngãi (trước 7/2025 là Kon Tum), Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng và Đắk Lắk, nơi hơn chục tộc người bản địa dùng cồng chiêng làm phương tiện giao tiếp với thần linh. UNESCO công nhận di sản này là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại vào ngày 25/11/2005. Với mỗi dân tộc, tiếng chiêng đi cùng con người từ khi lọt lòng đến lúc về với tổ tiên, đồng thời gắn chặt với chu kỳ canh tác nương rẫy. Cồng chiêng Tây Nguyên chơi theo dàn, mỗi người giữ một chiếc, mỗi chiếc một âm, nên bài chiêng chỉ thành khi cả dàn phối hợp; di sản đang đối mặt với nguy cơ mai một, sân khấu hóa và thiếu nghệ nhân chỉnh chiêng.

Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên trải rộng ở đâu?

Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên không phải tên gọi của một lễ hội hay một loại nhạc cụ đơn lẻ. Đó là toàn bộ hệ sinh thái văn hóa bao gồm bản thân những chiếc cồng chiêng bằng đồng, các bài chiêng, người chơi chiêng, những lễ hội sử dụng chiêng và cả không gian diễn ra các lễ hội ấy, từ nhà dài, nhà rông đến bến nước và nương rẫy. Di sản này trải trên bốn tỉnh Quảng Ngãi (trước 7/2025 có Kon Tum), Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng (trước 7/2025 có Đắk Nông), gắn với đời sống của khoảng mười bảy tộc người thuộc hai ngữ hệ Nam Á và Nam Đảo, trong đó chủ nhân tiêu biểu là các dân tộc Ê Đê, Gia Rai, Ba Na, Xơ Đăng, M'Nông, Cơ Ho và Rơ Măm.

Ngày 25 tháng 11 năm 2005, UNESCO công nhận Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên là Kiệt tác truyền khẩu và Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, chỉ sau Nhã nhạc cung đình Huế trong danh sách di sản phi vật thể của Việt Nam. Đến năm 2008, khi UNESCO chuyển đổi hệ thống danh hiệu, di sản này được chuyển vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Bảng tóm tắt các mốc gắn bó của cồng chiêng Tây Nguyên với đời sống cộng đồng theo bài viết.

Bối cảnh xuất hiệnNghi lễ hoặc sự kiệnÝ nghĩa với cộng đồng
Vòng đời con ngườiLễ thổi taiCông nhận đứa trẻ là thành viên chính thức của cộng đồng
Vòng đời con ngườiLễ cưới, lễ trao vòngNhắc nhở đôi vợ chồng trẻ giữ gìn nền nếp cha ông
Vòng đời con ngườiLễ bỏ mả, còn gọi lễ pơ thi ở người Gia RaiTiễn đưa linh hồn người chết về với thế giới tổ tiên
Sinh hoạt cộng đồngLễ mừng nhà rông mớiGắn với sinh hoạt nhà rông
Sinh hoạt cộng đồngLễ cúng bến nướcGắn với không gian bến nước
Chu kỳ canh tác nương rẫyLễ cúng cơm mới, mừng lúa mớiTạ ơn thần lúa Yang Sri đã ban cho mùa màng no đủ
Chu kỳ canh tác nương rẫyLễ đâm trâu, còn gọi lễ ăn trâuTạ ơn thần linh sau mùa vụ thuận lợi hoặc chiến thắng

Cồng chiêng có phải nhạc cụ thuần túy không?

Không. Với các tộc người Tây Nguyên, cồng chiêng vừa là nhạc cụ, vừa là vật thiêng, vừa là tiếng nói để con người giao tiếp với thần linh. Điều khiến cồng chiêng khác với một loại nhạc cụ thông thường nằm ở quan niệm tâm linh của các tộc người Tây Nguyên. Theo tín ngưỡng vạn vật hữu linh của họ, đằng sau mỗi chiếc chiêng đều ẩn chứa một vị thần (Yang), và chiêng càng lâu đời thì vị thần trú ngụ càng linh thiêng. Mỗi gia đình sở hữu ít nhất một bộ chiêng, số lượng và chất lượng chiêng phản ánh sự giàu có, uy tín và vị thế trong buôn làng, đồng thời được xem là vật hộ mệnh cho cả nhà. Tiếng chiêng vang lên được coi là ngôn ngữ để con người giao tiếp với thần linh và thế giới siêu nhiên, truyền tải những ước nguyện của cộng đồng lên các đấng bề trên.

Về mặt nhạc cụ, cần phân biệt cồng và chiêng. Cồng là chiếc có núm ở giữa mặt, còn chiêng là chiếc mặt phẳng, không có núm. Sách Les symboles, les emblèmes et les accessoires du culte chez les Annamites của Gustave Dumoutier (1891) mô tả chiêng là một đĩa đồng vàng được gõ thành hình, giữa mặt có một khối u lồi hình bán cầu để đánh bằng dùi gỗ bọc vải, vành ngoài có gờ dày, gọi là thanh chiêng, mặt đĩa gọi là mặt chiêng, khối u giữa gọi là núm. Cũng theo Dumoutier, việc làm cồng chiêng từng là nghề chuyên biệt của một khu phố ở Hà Nội, sản phẩm xuất đi cả sang Trung Quốc, Lào và tới tận Xiêm, và cồng Hà Nội nổi tiếng khắp Viễn Đông.

Cồng chiêng Tây Nguyên được chơi theo dàn, mỗi người giữ một chiếc, mỗi chiếc chỉ đảm nhận một âm trong tổng thể. Vì vậy một bài chiêng chỉ thành hình khi cả dàn phối hợp ăn ý với nhau, chứ không ai đánh trọn bài một mình. Giá trị của một bộ chiêng xưa thường được tính bằng trâu, bò, có khi bằng voi, nên sở hữu được một bộ chiêng đẹp là dấu hiệu của sự giàu có và uy tín trong buôn làng.

Chính vì vậy, cồng chiêng hiện diện trong hầu như mọi nghi lễ quan trọng của đời người và của cộng đồng, từ chế độ nhà dài, vai trò già làng, sinh hoạt nhà rông cho đến việc cưới hỏi, ma chay, lễ bỏ mả hay các tục phạt vạ trong luật tục.

Cồng chiêng gắn với vòng đời con người như thế nào?

Một đứa trẻ Ê Đê hay Gia Rai vừa chào đời đã được nghe tiếng chiêng trong lễ thổi tai, nghi thức công nhận em là thành viên chính thức của cộng đồng, mang theo cả nghĩa vụ lẫn quyền lợi như mọi người khác. Khi trưởng thành và bước vào lễ cưới, tiếng chiêng trong lễ trao vòng vang lên như lời nhắc nhở đôi vợ chồng trẻ phải giữ gìn nền nếp mà cha ông để lại. Chiêng cũng đồng hành trong lễ mừng nhà rông mới, lễ cúng bến nước, lễ đóng cửa kho lúa và đặc biệt là lễ bỏ mả (còn gọi là lễ pơ thi ở người Gia Rai), nghi lễ tiễn đưa linh hồn người chết rời khỏi mối ràng buộc với người sống để về hẳn với thế giới tổ tiên. Trong lễ bỏ mả, tiếng chiêng có thể vang suốt nhiều ngày đêm, hòa cùng điệu múa xoang quanh nhà mồ.

Cồng chiêng và nhịp mùa nương rẫy có ý nghĩa gì?

Bên cạnh vòng đời con người, cồng chiêng còn gắn chặt với chu kỳ canh tác nương rẫy, vốn là sinh kế truyền thống của các tộc người Tây Nguyên. Lễ cúng cơm mới (mừng lúa mới) sau mỗi vụ thu hoạch là dịp cả buôn làng tạ ơn thần lúa (Yang Sri) đã ban cho mùa màng no đủ, và cồng chiêng là nhạc cụ không thể thiếu trong nghi lễ này. Trước đây, một số cộng đồng còn tổ chức lễ đâm trâu (còn gọi là lễ ăn trâu) để tạ ơn thần linh sau một mùa vụ thuận lợi hay một chiến thắng, với tiếng chiêng trống dồn dập làm nền cho nghi thức hiến sinh. Ngày nay lễ đâm trâu được thực hành hạn chế hơn do những cân nhắc về phúc lợi động vật, nhưng vai trò của cồng chiêng trong đời sống tâm linh và cộng đồng vẫn được gìn giữ.

Bảo tồn cồng chiêng trong đời sống hiện đại gặp thách thức gì?

Sau khi được UNESCO vinh danh, cồng chiêng Tây Nguyên trở thành điểm nhấn văn hóa và du lịch, góp phần vào phát triển kinh tế xã hội của vùng cao nguyên. Nhưng chính di sản sống này cũng đối mặt với nguy cơ mai một: nhiều bộ chiêng cổ đã bị bán ra ngoài cộng đồng, lớp trẻ ít mặn mà học đánh chiêng và các bài chiêng cổ đang dần thất truyền theo các nghệ nhân lớn tuổi. Từ đó, nhiều địa phương ở Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk đã mở các lớp truyền dạy cồng chiêng cho thanh thiếu niên, đưa cồng chiêng vào sinh hoạt lễ hội cộng đồng và trường học, với mục tiêu giữ cho tiếng chiêng không chỉ còn vang lên trên sân khấu biểu diễn mà vẫn tiếp tục là tiếng nói tâm linh sống động của các buôn làng Tây Nguyên.

Một nguyên nhân sâu xa khiến việc truyền dạy khó khăn là đội ngũ nghệ nhân. Đa số nghệ nhân đều đã cao tuổi, sức yếu, lại có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn, nên việc truyền dạy cho lớp trẻ gặp nhiều trở ngại. Trong khi đó lớp trẻ ít có cơ hội tiếp cận và cũng không mấy mặn mà với những kỹ năng truyền thống. Sự giao thoa văn hóa, quá trình đô thị hóa và các loại hình giải trí hiện đại càng làm thu hẹp không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng, khiến môi trường thực hành di sản bị thay đổi.

Một thách thức khác là nguy cơ sân khấu hóa. Khi cồng chiêng bị đưa lên sân khấu phục vụ du lịch một cách tràn lan, tách rời khỏi bối cảnh nghi lễ và tâm linh vốn có, các bài chiêng mất đi chức năng nghi lễ vốn có của chúng. Cách truyền dạy truyền thống là truyền trực tiếp từ người già sang người trẻ, qua sinh hoạt hằng ngày và qua các dịp lễ hội, nên khi diễn xướng bị tách khỏi đời sống thì cả cách học lẫn cách hành nghề cũng bị đứt gãy. Việc cân bằng giữa bảo tồn giá trị gốc và phát triển du lịch bền vững là bài toán khó, cần sự chung tay của chính quyền, nhà nghiên cứu và quan trọng nhất là chính cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên.

Một điểm đặc biệt dễ thất truyền là kỹ năng chỉnh chiêng. Chỉnh chiêng là việc riêng, không giống đánh chiêng: người chỉnh chiêng phải có tai nghe tinh để lên lại âm cho từng chiếc trong dàn, sao cho mỗi chiếc giữ đúng âm của mình và cả dàn ăn khớp với nhau. Vì đòi hỏi thẩm âm và kinh nghiệm, đây là khâu dễ mất nhất khi lớp nghệ nhân cao tuổi qua đi.

Theo VOV4, riêng tỉnh Đắk Lắk (trước 7/2025, tức chưa gộp Phú Yên) có 2.089 bộ chiêng, 3.855 nghệ nhân diễn tấu và 393 nghệ nhân chỉnh chiêng. Tỉnh đã xây dựng kế hoạch bảo tồn và phát huy văn hóa cồng chiêng giai đoạn 2022 tới 2025 với kinh phí hơn 20 tỷ đồng, hướng tới mục tiêu đến năm 2025 mọi buôn đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn đều có đội chiêng, và mọi đơn vị cấp huyện thời điểm đó đều mở lớp truyền dạy đánh chiêng và chỉnh chiêng. Kế hoạch này nay đã hết hạn.

Các giải pháp cụ thể được triển khai ở Đắk Lắk gồm cấp chiêng và trang phục truyền thống cho các buôn, phục dựng các nghi lễ và lễ hội gắn với diễn tấu cồng chiêng, xét tặng danh hiệu và vinh danh các nghệ nhân dân gian, xây dựng mô hình điểm buôn văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng, và tổ chức các lớp truyền dạy cồng chiêng, hát kể sử thi, dân ca, dân vũ, chế tác nhạc cụ dân tộc ngay trong các trường dân tộc nội trú. Việc gắn bảo tồn với du lịch cộng đồng được xem là cách tạo sinh kế cho nghệ nhân, từ đó nâng cao ý thức giữ gìn của chính cộng đồng.

Bên cạnh các lớp truyền dạy trong buôn và trong trường học, hoạt động giao lưu giữa các dân tộc cũng được đẩy mạnh. Các lễ hội văn hóa cồng chiêng cấp vùng, như Festival Cồng chiêng Tây Nguyên, là dịp để nghệ nhân các dân tộc khác nhau gặp gỡ, giao lưu và học hỏi lẫn nhau, đồng thời quảng bá di sản tới du khách trong và ngoài nước, góp phần củng cố niềm tự hào về bản sắc văn hóa của cộng đồng.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận vào năm nào?

Ngày 25 tháng 11 năm 2005, UNESCO công nhận đây là Kiệt tác truyền khẩu và Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đến năm 2008, di sản được chuyển vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại theo hệ thống danh hiệu mới của UNESCO.

Những dân tộc nào là chủ nhân của không gian văn hóa cồng chiêng?

Di sản gắn với khoảng mười bảy tộc người ở năm tỉnh Tây Nguyên, trong đó chủ nhân tiêu biểu gồm người Ê Đê, Gia Rai, Ba Na, Xơ Đăng, M'Nông, Cơ Ho và Rơ Măm.

Vì sao cồng chiêng được xem là có ý nghĩa tâm linh chứ không chỉ là nhạc cụ?

Theo tín ngưỡng vạn vật hữu linh của các tộc người Tây Nguyên, mỗi chiếc chiêng được cho là có một vị thần (Yang) trú ngụ, chiêng càng cổ thì thần càng linh thiêng. Tiếng chiêng được xem là phương tiện giao tiếp giữa con người với thần linh, nên xuất hiện trong hầu hết các nghi lễ vòng đời và nghi lễ nông nghiệp.

Đọc tiếp

Nghệ thuật và di sản truyền thống · Diễn xướng dân gian và âm nhạc truyền thống

Bài chòi miền Trung: trò chơi ngày Tết và diễn xướng dân gian, cách chơi, các con bài và câu hô thai
Nghệ thuật truyền thống

Bài chòi miền Trung: trò chơi ngày Tết và diễn xướng dân gian, cách chơi, các con bài và câu hô thai

Ca trù là gì: đào nương, kép đàn, quan viên cầm chầu, cách một buổi hát diễn ra và vì sao di sản này từng suýt mất
Nghệ thuật truyền thống

Ca trù là gì: đào nương, kép đàn, quan viên cầm chầu, cách một buổi hát diễn ra và vì sao di sản này từng suýt mất

Hát Xoan Phú Thọ: hát thờ Vua Hùng ở cửa đình, bốn phường xoan gốc, và hành trình từ di sản cần bảo vệ khẩn cấp tới di sản đại diện
Nghệ thuật truyền thống

Hát Xoan Phú Thọ: hát thờ Vua Hùng ở cửa đình, bốn phường xoan gốc, và hành trình từ di sản cần bảo vệ khẩn cấp tới di sản đại diện

Tín ngưỡng dân gian
Tín ngưỡng dân gian

Huyền tích rừng thiêng trong tín ngưỡng người Pu Péo

Chữ Nôm: người Việt mượn chữ Hán để viết tiếng Việt thế nào, Truyện Kiều bản Nôm, và vì sao chữ Nôm còn trên hoành phi câu đối
Nghệ thuật truyền thống

Chữ Nôm: người Việt mượn chữ Hán để viết tiếng Việt thế nào, Truyện Kiều bản Nôm, và vì sao chữ Nôm còn trên hoành phi câu đối

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. UNESCO, Space of gong culture (Intangible Cultural Heritage list)
  2. Cục Di sản văn hóa, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên
  3. Báo Nhân Dân, Cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác phi vật thể của nhân loại
  4. Ngô Đức Thịnh, Đạo Mẫu Việt Nam
  5. Cổng thông tin du lịch Việt Nam - Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên
  6. VOV4 - Bảo tồn, phát huy giá trị không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
  7. Gustave Dumoutier (1891). Les symboles, les emblèmes et les accessoires du culte chez les Annamites. Paris: Ernest Leroux, 1891
  8. Wikipedia tiếng Việt, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
#CồngChiêngTâyNguyên#ÊĐê#GiaRai#BaNa#UNESCO