Tri thức / Việt Nam

Nghệ thuật truyền thống

Chèo là gì: chiếu chèo sân đình và những tích trò cổ

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Chèo là gì: chiếu chèo sân đình và những tích trò cổ

TL;DR: Chèo là loại hình sân khấu kịch hát dân gian của người Việt, phát triển mạnh ở đồng bằng sông Hồng và gắn với các lễ hội dân gian, theo hồ sơ trình UNESCO năm 2024. Chèo bắt nguồn từ âm nhạc và múa dân gian, nhất là trò nhại từ thế kỷ X, rồi phát triển thành các vở diễn trọn vẹn. Chiếu chèo sân đình là không gian diễn xướng tiêu biểu, nơi các vai như Thị Màu, Phù Thủy và những tích trò cổ được trình diễn.

Chèo là gì và ra đời từ đâu?

Chèo là một loại hình sân khấu kịch hát dân gian của người Việt, phát triển mạnh và phổ biến ở vùng đồng bằng sông Hồng, cùng hai khu vực lan tỏa là trung du miền núi Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ[1]. Đây là loại hình sân khấu gắn với các lễ hội dân gian, thường được diễn để tạ ơn thần thánh phù hộ cho vụ mùa bội thu, dân làng no ấm, đồng thời là dịp để người nông dân giao lưu và cất lên tiếng lòng của mình[1].

Về nguồn gốc, theo VietnamPlus, chèo bắt nguồn từ âm nhạc và múa dân gian, nhất là trò nhại từ thế kỷ X. Qua thời gian, người Việt đã phát triển các tích truyện ngắn của chèo dựa trên các trò nhại này thành các vở diễn trọn vẹn dài hơn[2]. Trải qua quá trình lịch sử lâu dài từ thế kỷ X đến nay, nghệ thuật chèo đã đi sâu vào đời sống văn hóa, xã hội, miêu tả cuộc sống bình dị của người nông dân và ca ngợi những phẩm chất cao quý của con người[1].

Về mặt lịch sử, sách Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ ghi nhận rằng dưới triều nhà Trần, khi có quốc tang, dân chúng tụ tập đông đúc khiến việc rước tử cung gặp khó khăn. Người dẹp đám học theo khúc vãn ca cổ xưa, sáng tác ra khúc hát Long ngâm, rồi ra lệnh cho quân lính vừa đi vừa hát quanh các nẻo đường, mục đích là để dân chúng tò mò đi theo mà thưa dần. Về sau, người ta noi gương lối hát vãn ấy, và cứ mỗi dịp rằm tháng bảy, các nhà có tang lại mời phường hát tới hát nhằm phụ vào lễ tế ngu, dân gian quen gọi đó là phường chèo bội[3]. Khoảng thời Cảnh Hưng, phường hát chèo bội mới kết hợp thêm lối tuồng, người diễn đóng vai, vẽ mặt rồi múa hát đùa cợt[3]. Đây là lời Phạm Đình Hổ về phường chèo bội hát trong tang lễ, ông không viết về chiếu chèo ở hội làng.

Chiếu chèo sân đình là gì và có vai trò thế nào?

Chiếu chèo sân đình là không gian diễn xướng truyền thống của nghệ thuật chèo, gắn với sân đình làng, nơi diễn ra các hoạt động văn hóa cộng đồng trong các dịp lễ hội. Theo VietnamPlus, chèo sân đình là loại hình chèo cổ của những phường chèo xưa, thường được biểu diễn ở các sân đình, sân chùa, sân nhà các gia đình quyền quý[2].

Các vai diễn và tích trò cổ trong chèo là gì?

Theo thông tin từ báo chí, các vở chèo cổ tiêu biểu bao gồm Quan Âm Thị Kính, với trích đoạn nổi tiếng Thị Màu lên chùa[2]. Nghệ sĩ ưu tú Thu Huyền đã vào vai Thị Màu trong trích đoạn này[2]. Ngoài ra còn có các trích đoạn như Phù Thủy sợ ma, với các vai Phù Thủy và Hỷ Đồng do diễn viên Lê Văn Thơm và Thanh Mai của Nhà hát Chèo Việt Nam thể hiện[2].

VietnamPlus còn nhắc trích đoạn Trương Viên của chiếu chèo thôn 7, xã Nghĩa Lâm, tỉnh Nam Định (địa giới năm 2021; Nam Định nay thuộc tỉnh Ninh Bình), cùng các vở Súy Vân, Nhị Độ Mai, và viết rằng các tích trò chủ yếu lấy từ truyện cổ tích, truyện Nôm[2]. Các vở chèo dã sử cũng là một phần của kho tàng chèo, như vở Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư của Đoàn nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh[2].

Về đặc điểm nghệ thuật, chèo luôn gắn với chất trữ tình, thể hiện những xúc cảm và tình cảm cá nhân của con người, phản ánh mối quan tâm chung của nhân loại như tình yêu, tình bạn, tình thương[2]. Những làn điệu chèo thường sử dụng ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa, kết hợp với cách nói ví von giàu tính tự sự, trữ tình[1]. Bên cạnh đó, cũng có những vở chèo mang tính hài hước, phê phán những thói hư tật xấu, chống lại bất công, thể hiện tình yêu thương, lòng bao dung, sự tha thứ[1].

Nhạc cụ và đặc điểm âm nhạc của chèo là gì?

Theo thông tin từ báo chí, nhạc cụ chính được sử dụng trong chèo truyền thống là đàn nhị, đồng thời dùng thêm trống con và mõ[2]. Đàn nhị đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo nên âm sắc đặc trưng của chèo.

Chèo gắn với lễ hội và đời sống làng xã như thế nào?

Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục (1915), mục Nhập tịch, tả những ngày vào đám của làng. Sau đêm tế và hát mở đám, sách ghi: "Tự hôm ấy trở đi, ban ngày thì chèo hát hoặc đánh vật, hoặc đánh cờ bỏi, ban đêm thì xướng ca, cho đến hôm xuất tịch (giã đám) mới tan"[4]. Như vậy chèo hát là một trong những trò vui ban ngày của kỳ vào đám mà ông ghi lại.

Sách cũng ghi tục "giao hiếu": trong mấy hôm nhập tịch, những thôn xã gần nhau cùng thờ một vị thần thì rước lẫn sang nhau, gọi là rước đánh giải, trước là lễ thần, sau là ngồi uống rượu nghe hát để tỏ tình hiếu với nhau[4]. Phan Kế Bính chỉ viết "nghe hát", không nói rõ là hát chèo.

Chèo ở Thái Bình và các địa phương khác như thế nào?

Theo báo Nhân Dân, tại hội thảo tháng 11 năm 2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình (tỉnh Thái Bình nay thuộc tỉnh Hưng Yên) nói Thái Bình được biết đến là "cái nôi của nghệ thuật hát Chèo". Khi ấy toàn tỉnh có 234 câu lạc bộ Chèo, và 100% trường học đưa hát Chèo truyền thống vào chương trình giảng dạy[5]. Cũng trong năm 2023, nghệ thuật Chèo ở tỉnh Thái Bình được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia[5].

Làng Khuốc (xã Phong Châu, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình theo địa giới trước tháng 7/2025; nay thuộc tỉnh Hưng Yên) được VietnamPlus gọi là nơi khởi nguồn của chèo và là một chiếng chèo nổi tiếng của Thái Bình[2]. Diễn Chèo đã trở thành nếp sống, lối sống, huyết mạch, là món ăn tinh thần không thể thiếu đối với mỗi người dân làng Khuốc[2].

Về việc bảo tồn và phát huy, theo thông tin từ báo VietnamPlus năm 2024, Chính phủ đã đồng ý đệ trình UNESCO xem xét đưa Nghệ thuật Chèo vào Danh sách Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Hồ sơ được xây dựng với sự tham gia của 14 tỉnh, thành phố bao gồm Thái Bình (nay thuộc tỉnh Hưng Yên), Ninh Bình, Hà Nam (nay thuộc tỉnh Ninh Bình), Nam Định (nay thuộc tỉnh Ninh Bình), Hải Dương (nay thuộc thành phố Hải Phòng), Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc (nay thuộc tỉnh Phú Thọ), Phú Thọ, Quảng Ninh, Bắc Giang (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh), Thái Nguyên, Hà Nội và Hải Phòng[1].

Những thách thức và hướng phát triển của chèo hôm nay là gì?

Theo ý kiến của Nghệ sĩ ưu tú Lê Cường (Nhà hát Chèo Việt Nam) tại hội thảo năm 2023, trong quá trình hội nhập văn hóa hiện nay, việc phát triển Chèo dân gian trở thành Chèo cách tân với những vở diễn mang hơi thở thời đại là một xu thế tất yếu. Tuy nhiên, để nghệ thuật trình diễn Chèo luôn giữ được bản sắc, không bị lai tạp là cả một quá trình vận động, nhận thức, tiếp nhận[5].

PGS,TS Filip Kraus, Đại học Palacky (Cộng hòa Séc) đánh giá cao nét đặc sắc của hát Chèo và múa rối nước của Việt Nam, cho rằng đây là "hai bản hình của tâm hồn Việt". Ông cũng cho rằng Nhà nước cần tách bạch những khác biệt giữa hai loại hình nghệ thuật, hệ thống hóa và bảo tồn cho các thế hệ tương lai[5].

Về việc đưa đề tài đương đại vào chèo, theo thông tin từ báo VietnamPlus, các nghệ sĩ đã cố gắng đưa đề tài đương đại vào chèo nhằm kéo khán giả đến với nghệ thuật này. Nghệ thuật Chèo với đề tài hiện đại luôn là mối quan tâm không chỉ của riêng "làng Chèo" mà còn của cả giới sân khấu và các cơ quan quản lý Nhà nước[2].

Về phương thức truyền nghề, theo báo VietnamPlus, thế hệ nghệ sĩ sau nối tiếp thế hệ trước, giữ nghề bằng cách truyền nghề trực tiếp, "bắt tay chỉ ngón", dạy từng cách diễn, cách hát[2]. Đây là phương thức truyền thống, đảm bảo việc lưu giữ những kỹ năng và bí quyết nghề nghiệp qua các thế hệ.

Về định hướng bảo tồn, theo thông tin từ báo VietnamPlus, chèo là một trong những loại hình đặc sắc của sân khấu truyền thống Việt Nam, cần được tôn vinh không chỉ như hiện vật tĩnh mà còn cần được bảo tồn, phát triển song song với sự phát triển của xã hội. Chèo cần có sự thích nghi nhất định với thời cuộc để tránh bị rơi vào hoàn cảnh như một di sản phi vật thể chỉ để bảo tồn, tránh làm mất đi một trong những hình thức nghệ thuật kể chuyện bằng sân khấu tiêu biểu nhất của dân tộc[2].

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Chèo là gì?

Chèo là một loại hình sân khấu kịch hát dân gian của người Việt, phát triển mạnh ở vùng đồng bằng sông Hồng, gắn với các lễ hội dân gian và thường được diễn để tạ ơn thần thánh, cầu cho mùa màng bội thu.

Chiếu chèo sân đình là gì?

Chiếu chèo sân đình là không gian diễn xướng truyền thống của nghệ thuật chèo, gắn với sân đình làng, nơi diễn ra các hoạt động văn hóa cộng đồng trong các dịp lễ hội. Theo VietnamPlus, chèo sân đình là loại hình chèo cổ của những phường chèo xưa, thường diễn ở sân đình, sân chùa, sân nhà các gia đình quyền quý.

Những tích trò cổ trong chèo là gì?

Các tích trò cổ trong chèo bao gồm những vở như Quan Âm Thị Kính với trích đoạn Thị Màu lên chùa, Phù Thủy sợ ma, Trương Viên, Súy Vân. Vở Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư thuộc dòng chèo dã sử, không phải tích trò cổ. Chèo thường thể hiện chất trữ tình và phản ánh tình yêu, tình bạn, tình thương.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefVietnamPlus - Trình UNESCO hồ sơ Di sản Văn hóa phi vật thể với Mo Mường và nghệ thuật Chèo, Đoạn về nghệ thuật ChèoLà một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian của người Việt, phát triển mạnh và phổ biến ở Đồng bằng sông Hồng cùng hai khu vực lan tỏa là trung du miền núi Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
  2. ↑ abcdefghijklmnVietnamPlus - Chèo - Nghệ thuật sân khấu truyền thống đậm đà bản sắc văn hóa Việt, Các đoạn về nguồn gốc, nhạc cụ, làng Khuốc, truyền nghềChèo bắt nguồn từ âm nhạc và múa dân gian, nhất là trò nhại từ thế kỷ X.
  3. ↑ abPhạm Đình Hổ và Nguyễn Hữu Tiến (dịch) (không rõ năm). Vũ trung tùy bút (bản dịch Nguyễn Hữu Tiến), Trang 24Đời sau bắt chước làm lối hát vãn, mỗi năm cứ đến rằm tháng bảy, những nhà tang gia cho gọi phường hát đến hát, để giúp lễ tế ngu.
  4. ↑ abPhan Kế Bính (1915). Việt Nam phong tục. Đăng trên Đông Dương tạp chí 1913-1914, in thành sách 1915; bản số hoá: Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, in lại 1973, Trang 20Tự hôm ấy trở đi, ban ngày thì chèo hát hoặc đánh vật, hoặc đánh cờ bỏi, ban đêm thì xưởng ca, cho đếu, hôm xuất tịch (giả đám) mới tan.
  5. ↑ abcdNhân Dân - Đưa nghệ thuật Chèo trở thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, Các đoạn về Thái Bình, hội thảo quốc tếThái Bình được biết đến là "cái nôi của nghệ thuật hát Chèo".
#Chèo#NghệThuậtTruyềnThống#SânKhấuDânGian#ChiếuChèo#SânĐình#TíchTròCổ#QuanÂmThịKính#TháiBình#DiSảnVănHóaPhiVậtThể