
TL;DR: Cúng cơm ba ngày Tết là chuỗi lễ dâng cơm lên bàn thờ gia tiên trong ba ngày đầu năm, phổ biến gồm lễ Nguyên đán sáng mùng Một, lễ Chiêu điện và Tịch điện các buổi còn lại, khép lại bằng lễ Tạ cuối mùng Ba. Mâm cỗ tùy điều kiện mỗi nhà, nhưng thường có bánh chưng hoặc bánh tét, thịt, dưa hành, cơm tẻ. Các vùng khác nhau rõ nhất ở món cỗ; riêng ở Huế, nhiều gia đình cúng cỗ chay ngày Nguyên đán.
Cúng cơm ba ngày Tết là gì và bắt nguồn từ đâu?
Cúng cơm ba ngày Tết là tục dâng cơm lên bàn thờ tổ tiên trong ba ngày đầu năm âm lịch, mùng Một, mùng Hai và mùng Ba. Đây là phần lễ nằm trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thứ tín ngưỡng dân gian được giải thích là nhằm xác lập mối liên hệ giữa người sống với người đã mất, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn[1]. Tục này không tách rời khỏi Tết Nguyên đán mà là cách người Việt mời ông bà về ăn Tết cùng con cháu, rồi tiễn đưa sau ba ngày.
Trong Việt Nam phong tục in năm 1915, Phan Kế Bính ghi nhận rằng vào sáng mồng một Tết, người ta sửa cỗ để cúng Gia tiên, đồng thời cúng cả Thổ công, Táo quân và Nghệ sư; cỗ bàn lớn nhỏ không bắt buộc, nhưng nhất thiết phải có bánh chưng, cá kho, giò, chả và dưa hành[5]. Ông cũng ghi tục dựng hai cây mía cạnh bàn thờ để làm gậy cho ông vải, và tục kiêng hốt rác đổ đi trong ba ngày, chỉ vun vào một xó, đợi ba hôm động thổ rồi mới đem đổ[5]. Cách ghi này cho thấy ngay từ đầu thế kỷ 20, ba ngày Tết đã được hình dung như một khối lễ trọn vẹn, có mở và có kết.
Ba ngày Tết cúng lễ gì, trình tự ra sao?
Sách Khảo luận về Tết, được giới thiệu trên Znews, mô tả sinh hoạt Tết tích hợp nhiều chức năng gồm tế tự, tiệc vui, chúc tụng và giao đãi xã hội, hình thành một lịch lễ có phần thống nhất cho cả nước nhưng mỗi vùng miền lại có biến thể đa dạng[2]. Về phần cúng, trình tự phổ biến được ghi lại như sau: chiều 30 Tết cúng tất niên, đêm 30 cúng giao thừa, sáng mùng Một cúng Nguyên đán, chiều mùng Một cúng Tịch điện, sáng mùng Hai cúng Chiêu điện, chiều mùng Hai cúng Tịch điện, và mùng Ba cúng Tạ[1].
Có thể tóm gọn ý nghĩa từng lễ trong bảng dưới đây:
| Thời điểm | Tên lễ | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| Chiều 30 Tết | Tất niên | Trình với ông bà tổ tiên rằng năm cũ đã hết[1] |
| Đêm 30 | Giao thừa | Thời điểm chuyển tiếp năm cũ sang năm mới[1] |
| Sáng mùng Một | Nguyên đán, còn gọi Chính đán | Cúng sáng sớm ngày đầu năm[1][2] |
| Chiều mùng Một | Tịch điện | Cúng cơm chiều[1] |
| Sáng mùng Hai | Chiêu điện | Lễ mời tổ tiên[1] |
| Chiều mùng Hai | Tịch điện | Cúng cơm chiều[1] |
| Mùng Ba | Tạ, còn gọi Tạ Ông vải | Ngày cuối của Tết, lễ tạ đã đầy đủ bốn ngày[1] |
Lưu ý một chỗ các nguồn không hoàn toàn trùng nhau. Nguồn mô tả trình tự bốn ngày tính cả chiều 30 và đêm giao thừa, nên gọi mùng Ba là ngày cuối với lễ Tạ[1]. Ngày tiễn ông bà cũng không thống nhất: Phan Kế Bính ghi hóa vàng vào mồng bốn, có nhà để đến mồng bảy[5]; sách Khảo luận về Tết dẫn ý kiến cho rằng xưa nhà quan tiễn ông bà mùng Ba, nhà dân mùng Bốn[2]; còn ở Huế, chiều mồng Ba làm cỗ cúng đưa[3]. Bài này theo cách gọi phổ biến: cúng cơm ba ngày Tết là ba ngày đầu năm, còn tất niên và giao thừa là hai lễ đứng trước, khép vào cùng một chuỗi.
Mâm cỗ ba ngày Tết gồm những gì?
Theo Phan Kế Bính, cỗ ngày Tết tối thiểu phải có bánh chưng, cá kho, giò, chả, dưa hành[5]. Bài tổng hợp trên báo Giáo dục Việt Nam nêu bốn món cơ bản là bánh chưng, thịt lợn, dưa hành và cơm tẻ, đồng thời nhấn mạnh mâm cơm cúng tổ tiên ngày Tết được nấu nướng và bày biện khá công phu, lớn nhỏ tùy hoàn cảnh kinh tế mỗi gia đình[1].
Sách Khảo luận về Tết ghi lễ vật ngày Nguyên đán gồm đầy đủ các loại món vật thực, bánh mứt[2]. Còn ở Nam Bộ, ghi chép của Dương Văn Minh Lộc trên Tuổi Trẻ cho thấy mâm Tết xưa gắn với kiệu, mứt, củ cải ngâm nước mắm, thèo lèo và các loại kẹo mứt[4]. Như vậy mâm cỗ ba ngày Tết là một khung chung, còn nội dung cụ thể do vùng miền và điều kiện từng nhà quyết định.
Vì sao người cúng cơm lại kiêng quét nhà, đổ rác?
Tục kiêng hốt rác đổ đi trong ba ngày Tết được Phan Kế Bính ghi lại kèm cả nguồn gốc mà ông cho là có từ sách Sưu thần ký, trong đó kể chuyện người lái buôn tên Âu Minh đi qua hồ Thanh Thảo, được thủy thần cho một con hầu tên Như Nguyện, nhờ đó mà giàu; đến một hôm nhân ngày mồng một Tết, Âu Minh đánh người hầu, người hầu chui vào đống rác rồi biến mất, nhà lại nghèo đi, vì thế dân ta theo tục mà kiêng không dám hốt rác[5]. Cần nói rõ: đây là truyền thuyết được sách dẫn lại để giải thích tục lệ, không phải sự kiện lịch sử đã được chứng minh. Trong dân gian, tục này còn được giải thích là quét tước, đổ rác trong ba ngày đầu năm sẽ quét đi lộc và may mắn. Theo Phan Kế Bính, người ta chỉ vun rác vào một xó, đợi ba hôm động thổ rồi mới đem đổ[5].
Tục cúng cơm ba ngày Tết ở miền Bắc khác gì miền Trung và miền Nam?
Sự khác biệt rõ nhất nằm ở món cỗ và ở mức độ cầu kỳ của nghi lễ. Sách Khảo luận về Tết nhận định tuy cả nước chia sẻ một lịch lễ tương đối thống nhất, từng vùng vẫn có biến thể đa dạng[2].
Riêng ở Huế, vì đa phần là tín đồ Phật giáo, lễ cúng tổ tiên ngày Nguyên đán các gia đình đều cúng cỗ chay[2]. Sau khi cúng xong thì mở cửa tiếp khách, đi chùa, đi viếng mộ tổ tiên, thắp hương và mừng tuổi ông bà ở nhà thờ tộc[2].
Trang Khám phá Huế của thành phố Huế mô tả Tết Huế còn giữ nhiều cổ tục, trong đó phần cúng kiếng cầu kỳ hơn: trước Tết có cúng ông Táo, cúng tổ nghề, cúng tất niên, cúng lên nêu, cúng rước ông bà về ăn Tết; từ sáng mồng Một phải cúng ông bà ngày ba bữa, ngày sóc cúng chay, ngày thường cúng mặn, đến chiều mồng Ba làm cỗ cúng đưa[3]. Trang này cũng ghi Tết Huế có hàng trăm món ăn, mặn có bánh tét, dưa món, thịt bò dầm nước mắm, giò heo bó, chả thủ, nem tré, hành muối, kiệu chua; ngọt có đủ loại mứt bánh, và đồ ăn mặn có món gì thì đồ chay có món đó[3].
Ở Nam Bộ, ghi chép của Dương Văn Minh Lộc trên Tuổi Trẻ cho thấy Tết được coi là ngày hội gia đình, con cháu xa xứ tìm về quê, và hiếm nhà nào đi chơi xa trong các mùng[4]. Cũng theo ghi chép ấy, mấy ngày Tết bữa cơm nào cũng cúng tổ tiên xong mới dùng; mùng Ba là ngày Tết nhà, đến mùng Bốn người ta mua đồ cúng tiễn ông bà[4].
Mùng Một Tết Cha, mùng Hai Tết Mẹ, mùng Ba Tết Thầy nghĩa là gì?
Câu tục ngữ này là cách phân chia đối tượng đi chúc Tết theo ngày, chứ không phải lịch cúng cơm. Sách Khảo luận về Tết giải thích: Tết Cha là đi lại chúc Tết họ hàng bên nội; mùng Hai là ngày chúc Tết họ hàng bên ngoại, họ hàng của mẹ, và với người đã lập gia đình thì chúc Tết họ hàng bên nhà vợ cũng vào ngày này; còn mùng Ba đi chúc Tết Thầy, trước hết là thầy học, thêm vào đó là thầy thuốc[2].
Việc đi lại chúc Tết bắt đầu từ lúc hết khem, trước tiên phải đến mừng tuổi ông bà ở nhà thờ tộc, sau đó mới đi chúc Tết bề trên và các bậc tôn trưởng trong họ tộc[2]. Như vậy ba ngày Tết có hai lớp thời gian chồng lên nhau: lớp lễ cúng cơm tại nhà và lớp đi lại xã hội bên ngoài. Người xưa thường cúng cơm trước, rồi mới ra ngoài chúc Tết.
Ai đứng ra chủ lễ và cúng cơm ba ngày Tết thế nào cho đúng?
Bài tổng hợp trên báo Giáo dục Việt Nam nêu việc thờ cúng gia tiên bao giờ cũng do người con trưởng đứng ra làm chủ lễ trong gia đình; sau khi đồ lễ được đặt lên bàn thờ, gia trưởng khăn áo chỉnh tề, thắp đèn hương rồi lễ bốn lễ, hai vái trước bàn thờ, khấn từ vị tổ từ năm đời trở xuống đến cha mẹ[1]. Sau khi gia trưởng khấn xong, chờ cho tàn một tuần hương, tức là hương cháy quá hai phần ba thì gia trưởng tới trước bàn thờ tạ lễ và hạ cỗ xuống, mọi người trong gia tộc quây quần thụ lộc và chúc nhau năm mới tốt lành[1].
Về văn khấn, Dương Bá Trạc trong Gia lễ giản yếu in năm 1932 cho biết nước ta xưa kia chuyên học chữ Tàu nên phàm văn tế văn khấn đều làm bằng chữ Tàu, và tác giả soạn sẵn các thể văn tế văn khấn bằng quốc văn để mọi người, dù có học hay không, đều có thể theo đó mà tế khấn[6]. Điều này lý giải vì sao các bài văn khấn cúng cơm ba ngày Tết ngày nay tồn tại song song nhiều bản, bản chữ Hán Nôm cũ và bản quốc ngữ soạn lại.
Nên hiểu tục cúng cơm ba ngày Tết thế nào cho phù hợp?
Cần phân biệt hai tầng. Tầng thứ nhất là dữ kiện về tục lệ: trình tự lễ, tên gọi các lễ, món cỗ, vai trò người chủ lễ, đều là những điều sách và báo đã ghi lại, có thể đối chiếu giữa các nguồn[1][2][5]. Tầng thứ hai là niềm tin đi kèm: tin rằng tổ tiên về ăn Tết với con cháu, tin rằng quét nhà đổ rác sẽ mất lộc, tin rằng người xông đất quyết định cả năm làm ăn. Những điều này thuộc quan niệm dân gian, không phải dữ kiện kiểm chứng được.
Từ năm 1934, Phan Khôi đã có bài viết nêu câu hỏi về nhiều tục Tết; ông cho rằng do quan niệm về Tết đã đổi khác nên mọi cuộc vui chơi ngày Tết cũng biến đổi hoặc không còn, và ông lý giải nguyên nhân là dân tộc đã trưởng thành[9]. Đọc lại ý kiến ấy giúp thấy rằng bản thân người Việt cách đây gần một thế kỷ đã tranh luận về việc giữ hay bỏ các tục Tết, chứ không phải chỉ gần đây mới có chuyện ấy.
Dương Bá Trạc thì chủ trương giản lược, cho rằng các ngày tiết lệ vô ý nghĩa như Đoan ngũ, Thượng nguyên, Trung nguyên, Trung thu nên thôi cả, chỉ những ngày Tết Nguyên đán, Tết Thanh minh và Tết cơm mới thì nhớ tiết lệ làm lễ với tổ tiên[6]. Đây là một quan điểm cải cách, không phải mô tả tục lệ phổ biến, nên cần đọc đúng như vậy.
Gợi ý của Nhật Nguyệt: nếu gia đình giữ tục cúng cơm ba ngày Tết, điều đáng giữ nhất là tính liên tục và sự thành tâm, không phải số lượng món trên mâm. Một mâm cơm đủ bánh chưng hoặc bánh tét, một món mặn, một món dưa hoặc kiệu và cơm tẻ đã đủ làm trọn lễ. Với gia đình ở xa quê, việc cúng có thể gọn lại nhưng nên giữ đủ ba ngày và nên thống nhất trong nhà ai là người chủ lễ, để tránh chồng chéo giữa các thế hệ.
