
TL;DR: Trong dân gian Việt Nam, máy mắt được coi là điềm sắp có việc; Phan Kế Bính chỉ ghi "máy mắt, có sự", không tách trái phải, và chính ông cho các điềm chiêm nghiệm là không thể tin hết. Bảng giật mắt trái, mắt phải theo mười hai giờ có trong sách Hán văn: Ngự định Nguyệt lệnh tập yếu đời Thanh dẫn mục xem giật mắt của Bách quái đoạn kinh, trong đó mắt trái hay mắt phải lành dữ tùy từng giờ. Đây là quan niệm, không có bằng chứng khoa học.
Giật mắt trái, mắt phải theo dân gian là điềm báo gì?
Trong dân gian Việt Nam, mắt giật hay "máy mắt" được coi là điềm báo sắp có việc. Phan Kế Bính ghi trong Việt Nam phong tục đúng một câu: "Máy mắt, có sự"[1], không nói việc ấy lành hay dữ, cũng không tách mắt trái với mắt phải.
Cách chia trái phải theo từng giờ thì có trong sách Hán văn. Sách Ngự định Nguyệt lệnh tập yếu đời Thanh dẫn mục "Nhãn khiêu chiêm" (眼跳占, xem giật mắt) của sách Bách quái đoạn kinh, ghi điềm của mắt trái và mắt phải cho từng giờ trong mười hai giờ[2]. Cả hai đều là lời của quan niệm, không phải điều đã được kiểm chứng.
Sách Việt Nam xưa ghi gì về máy mắt?
Trong mục "Nghiệm xem nhân sự", Phan Kế Bính kể một loạt điềm người Việt đầu thế kỷ 20 hay tin, máy mắt nằm giữa những điềm về thân thể và việc trong nhà[1]:
| Điềm | Dân gian cho là |
|---|---|
| Máy mắt | Có sự |
| Giật mình | Có tin không hay |
| Nhện sa trước mặt | Có tin hay |
| Đi đâu hay làm việc gì mà hắt hơi một tiếng | Xấu; hai tiếng trở lên thì được |
| Móng chân, móng tay bỗng dưng có hoa đen | Xấu |
Ngay sau danh sách, ông viết: "Xét cách chiêm nghiệm tại tường của ta, nhiều điều huyền hoặc lắm, không có thể tin cả được"[1]. Ông giải rằng người mình tin trong trời đất có một lẽ cảm ứng, sắp có việc hay thì điềm hay sinh ra trước, sắp có việc dở thì điềm dở sinh ra trước; rồi ông cho đó là một điều lầm, vì theo lối tân học thì những chuyện như hoa nở, chim kêu, nhện sa, cá nhảy đều là sự ngẫu nhiên[1].
Bảng giật mắt trái, mắt phải theo giờ có từ đâu?
Bảng dưới chép theo mục "Nhãn khiêu chiêm" mà Ngự định Nguyệt lệnh tập yếu, quyển 24, dẫn từ Bách quái đoạn kinh[2]. Cột chữ Hán là nguyên văn, cột tiếng Việt là nghĩa.
| Giờ | Giờ đồng hồ | Mắt trái | Mắt phải |
|---|---|---|---|
| Tý | 23:00 đến 01:00 | 貴: có việc sang, quý | 酒食: có ăn uống |
| Sửu | 01:00 đến 03:00 | 憂: có lo | 人思: có người nhớ tới |
| Dần | 03:00 đến 05:00 | 行人: có người đi xa | 吉: tốt |
| Mão | 05:00 đến 07:00 | 貴人: gặp quý nhân | 平安: bình an |
| Thìn | 07:00 đến 09:00 | 客來: có khách | 害: có hại |
| Tỵ | 09:00 đến 11:00 | 酒食: có ăn uống | 凶: xấu |
| Ngọ | 11:00 đến 13:00 | 得意: được như ý | 凶: xấu |
| Mùi | 13:00 đến 15:00 | 吉: tốt | 喜: có việc mừng |
| Thân | 15:00 đến 17:00 | 財: có tiền của | 文思: có việc chữ nghĩa |
| Dậu | 17:00 đến 19:00 | 音信: có tin tức | 客至: có khách đến |
| Tuất | 19:00 đến 21:00 | 他喜: có việc mừng của người khác | 酒食: có ăn uống |
| Hợi | 21:00 đến 23:00 | 貴人: gặp quý nhân | 官事: có việc quan |
Trong bảng này, mắt trái không luôn là điềm lành, mắt phải cũng không luôn là điềm dữ: mỗi giờ một khác. Câu quen miệng "trái lành, phải dữ" hay ngược lại không khớp với bảng ấy.
Sách Kỳ Môn đoán giật mắt theo cách nào?
Sách Kỳ Môn Độn Giáp nguyên linh kinh có mục xem "bốn thể động" gồm mắt giật, tai nóng, môi máy, thịt giật. Sách xếp mắt vào quẻ Chấn, tai vào quẻ Khảm, môi vào quẻ Khôn, rồi bảo xem trên phương của quẻ ấy trong bàn Kỳ Môn có được kỳ, môn, tinh tốt hay không: được thì tốt, không được thì thường, gặp cách xấu thì không tốt[3]. Theo sách này, cùng một lần giật mắt, tốt xấu tùy bàn Kỳ Môn lúc ấy, không có bảng trái phải cố định.
Vì sao các cách nói về giật mắt lại khác nhau?
Ba nguồn trên cho ba cách: dân gian Việt Nam theo Phan Kế Bính chỉ nói chung "có sự", Bách quái đoạn kinh chia trái phải theo mười hai giờ, sách Kỳ Môn lại xem theo phương và bàn cục. Các bảng lưu truyền ngày nay có thể lấy từ một trong những nguồn ấy, hay đã đổi đi qua truyền miệng, nên cùng một giờ giật mắt có thể được nói khác nhau.
Giật mắt có thật sự báo trước điều gì không?
Không có bằng chứng khoa học nào cho thấy mắt giật báo trước được việc sắp tới. Đây là quan niệm dân gian và lời của sách chiêm nghiệm; chính Phan Kế Bính, người ghi lại điềm "máy mắt, có sự", cũng cho rằng không thể tin hết được[1].
Gợi ý của Nhật Nguyệt: đọc các bảng giật mắt như một phần của văn hóa dân gian và của sách cổ, để thấy người xưa tìm cách đọc điềm trong đời sống ra sao, không phải để lo lắng hay quyết một việc thật.
