Tri thức / Đông phương / Phong thuỷ

Phong thủy

Hình và thế trong phong thủy là gì theo Táng thư? Nghìn thước là thế, trăm thước là hình

Thuật số truyền thống Hệ diễn giải cổ.

Hình và thế trong phong thủy là gì theo Táng thư? Nghìn thước là thế, trăm thước là hình

TL;DR: Theo Táng thư, nghìn thước là thế, trăm thước là hình: thế là đà núi chạy xa, hình là khối đất kết lại gần nơi huyệt. Hai thứ phải thuận nhau, vì thế tới mà hình dừng thì khí mới tụ, và phong thủy hình thế lấy hình thế làm chính, lấy phương vị làm phụ.

Hình và thế trong phong thủy hình thế là gì?

Trong cách nói của phong thủy hình thế, hình là khối đất, gò núi, cồn cát, thế đất cụ thể mà mắt nhìn thấy được ở khoảng cách gần nơi dự định đặt huyệt hay dựng nhà. Thế là đường đi của mạch núi, hướng chạy của dãy non, sự uốn lượn của sông nước ở khoảng cách xa, cái mà mắt phải ngước lên hoặc lùi ra thật xa mới nhận được. Nội thiên của Táng thư khái quát hai chữ ấy bằng một câu ngắn: "千尺為勢,百尺為形", nghĩa là nghìn thước là thế, trăm thước là hình. Lời chú in kèm giải: nghìn thước nói cái xa, chỉ thế tới của một nhánh núi; trăm thước nói cái gần, chỉ hình kết của một huyệt đất; hình thế núi sông đâu có bị trói vào thước tấc, đây chỉ là nói phỏng chừng[1].

Cần nói ngay một điều về tư cách của nguồn. Táng thư là văn bản cổ của phong thủy mà truyền thống quy cho Quách Phác đời Tấn. Lời đề yếu của Tứ khố toàn thư in ở đầu sách cho biết sách tới đời Tống mới thấy xuất hiện, và nhận xét "必以為出自璞手,則無可徵信", nghĩa là nếu quyết rằng sách do chính tay Quách Phác viết thì không có gì làm bằng. Cũng theo lời đề yếu, Ngô Trừng chia sách làm ba phần: nội thiên là phần ông coi là thuần nhất, ngoại thiên là phần tinh thô lẫn lộn, tạp thiên là phần thô tạp đáng bỏ mà tạm giữ; bản lưu truyền còn in xen lời chú của người đời sau[1]. Vì vậy bài này ghi rõ mỗi câu nằm ở thiên nào, và là chính văn hay lời chú.

Chính thiên Tạp mở đầu bằng một câu rất đáng chú ý: "占山之法,以势为难,而形次之,方又次之", nghĩa là trong phép xem đất, xét thế là khó nhất, xét hình khó thứ hai, xét phương vị khó thứ ba[1]. Câu này đặt ra một thứ tự ưu tiên mà người đọc hôm nay hay bỏ qua: hình thế quan trọng hơn phương vị. Không phải cứ quay đúng hướng là xong, mà trước hết phải xem đất ấy có mạch chạy tới hay không, có khối kết lại hay không.

Vì sao phải phân biệt hình với thế?

Phân biệt hình với thế là phân biệt hai tỉ lệ quan sát. Lời chú dưới câu mở đầu tạp thiên giải vì sao thế khó nhất: "势有隐显", thế có khi ẩn có khi hiện; thế núi có thể từ phía đông chạy lại mà hình lại kết ở phía tây, thế từ bên trái tới mà huyệt lại nằm ở bên phải, lại còn có huyệt giả đánh lừa mắt người[1]. Nghĩa là cái nhìn gần và cái nhìn xa có thể cho hai câu trả lời khác nhau, và người xem đất phải giữ cả hai trong đầu cùng lúc. Nhìn gần thấy một gò đất đẹp chưa đủ; phải lùi ra xa xem dãy núi phía sau có chạy tới đó một cách thuận hay không.

Cũng cần nói rõ đây là chỗ các phái không thống nhất. Lời đề yếu của Tứ khố toàn thư dẫn Vương Y, theo đó người làm thuật đời sau chia làm hai tông: một tông khởi từ đất Mân, chủ về sao và quẻ, lấy bát quái, ngũ tinh định lẽ sinh khắc; một tông ở Giang Tây, chủ về hình thế, xét chỗ mạch khởi và chỗ mạch dừng, chuyên bàn sự phối hợp của long, huyệt, sa, thủy[1]. Tông sau ngày nay thường được gọi là phái hình thế hay loan đầu, tông trước là phái lý khí. Lời chú ở tạp thiên Táng thư đứng về phía hình thế khi viết "是以形势为上,而方位次之", lấy hình thế làm trên, phương vị làm sau[1]. Bài này trình bày theo Táng thư, tức là theo phái hình thế; người đọc theo phái lý khí sẽ có thứ tự ưu tiên khác.

Thế tới hình dừng thì khí tụ nghĩa là gì?

Câu "thế tới hình dừng thì khí tụ" là cách nói gọn một chuỗi lập luận ở nội thiên. Sách viết "夫氣行乎地中,其行也因地之勢,其聚也因勢之止", khí đi trong đất, đi là nương theo thế đất, tụ là nhờ thế dừng lại. Tiếp đó là "勢來形止,是謂全氣,全氣之地,當葬其止", thế tới hình dừng thì gọi là toàn khí, đất toàn khí thì táng vào chỗ dừng. Cuối đoạn, sách dẫn một câu kinh xưa hơn: "形止氣蓄,化生萬物,為上地也", hình dừng khí chứa thì hóa sinh muôn vật, ấy là đất hạng trên[1].

Ý này cũng thấy ở Thanh nang kinh (青囊經), một sách phong thủy khác, bản lưu hành in kèm lời chú của Tưởng Đại Hồng. Quyển trung có câu "形止氣蓄,萬物化生", gần như trùng với câu kinh mà Táng thư dẫn; quyển hạ viết "理寓於氣,氣囿於形", lẽ gửi trong khí, khí bị giữ trong khuôn của hình[2]. Theo cách nói ấy, hình là cái khuôn giữ khí: muốn xét khí thì phải đọc hình, nhưng không được lẫn hình với khí.

Thanh nang kinh còn đi xa hơn khi đặt toàn bộ chuyện hình khí vào khung trời đất: "thiên hữu ngũ tinh, địa hữu ngũ hành, thiên phân tinh tú, địa liệt sơn xuyên, khí hành vu địa, hình lệ vu thiên, nhân hình sát khí, dĩ lập nhân kỷ", trời có năm sao, đất có năm hành, trời chia tinh tú, đất bày sông núi, khí chạy trong đất, hình bám vào trời, nhân hình mà xét khí để lập kỷ cương cho người[2]. Đây là cách nói của môn ấy, không phải kết luận của thiên văn học hiện đại, và nên đọc đúng như vậy.

Tám hướng và hình thế mong muốn

Thiên Tạp dành một đoạn cho tám hướng, mỗi hướng đòi một kiểu thế và một kiểu hình khác nhau. Bảng dưới đây chép lại đúng nội dung đoạn ấy, kèm nghĩa gần đúng:

HướngThế mong muốnHình mong muốn
CànKhởi phục mà dàiRộng dày mà vuông
KhônLiền lạc mà không nghiêngRộng dày mà dài phẳng
CấnUốn lượn mà thuậnCao vọi mà dốc
TốnDốc mà túNhọn mà hùng
ChấnChậm mà nổi lênVươn cao mà ngất
LyChạy mà tậnNổi lên mà cao
ĐoàiTừ trên đổ xuống mà thoảiVuông rộng mà bằng phẳng
KhảmQuanh co mà dàiTú, thẳng mà ngẩng lên

Nguồn: Táng thư, thiên Tạp[1].

Điều đáng chú ý là lời chú in ngay sau đoạn ấy đã tự dè dặt. Người chú viết: thiên hạ sông núi muôn hình vạn trạng, lẽ nào có một lý nhất định; sao lại chỉ riêng núi hướng Càn mới muốn khởi phục mà dài, rộng dày mà vuông; đây chỉ nói cái đại khái; nếu cứ khăng khăng như vậy thì khác gì khắc chu cầu kiếm[1]. Lời dè dặt này quan trọng hơn cả bảng: nó cho thấy người chú giải đời sau coi tám câu ấy là lời nói đại khái chứ không phải công thức cứng.

Hình tốt và hình xấu theo Táng thư là gì?

Thiên Tạp liệt kê một loạt hình để phân biệt tốt xấu. Cách liệt kê này là cách liệt kê của môn ấy, dựa trên liên tưởng hình dáng với con vật, đồ vật, và trên kinh nghiệm quan sát, không phải một bảng tiêu chuẩn đã được kiểm nghiệm. Dưới đây là những hình được nói rõ:

  • Hình như tựa bình phong, có gò núi đứng giữa: phép là táng vào chỗ dừng, vương hầu nổi lên[1].
  • Hình như tổ én: phép táng vào chỗ cong, chủ về phong đất phong tước[1].
  • Hình như lũy nghiêng, gò sau từ xa tới, phía trước ứng cong về: chủ về hàng tam công cửu khanh[1].
  • Hình như nồi úp (形如覆釜): chính văn nói chỗ đỉnh gò thì giàu; lời chú lại cho rằng hình này hợp táng ở chân gò và chê thói táng trên đỉnh[1].
  • Hình như mũ dựng: thịnh mãi và vui[1].
  • Hình như que tính vứt bừa: trăm việc rối loạn[1].
  • Hình như áo xống bừa bộn: đàn bà dâm loạn[1].
  • Hình như túi tro: nhà cửa kho tàng bị lửa[1].
  • Hình như thuyền úp: đàn bà bệnh, đàn ông khốn[1].
  • Hình như ghế ngang: con cháu tuyệt diệt[1].
  • Hình như gươm nằm: bị giết phạt, bị bức bách[1].
  • Hình như dao ngửa: hung, phải trốn chạy[1].

Đọc danh sách này phải đọc kèm hai chỗ nới mà lời chú in kèm đưa ra. Một là, hình như ghế ngang bị chính văn xếp vào loại hung, nhưng lời chú ghi rằng có những dòng họ nổi tiếng táng tổ vào hình ấy mà vẫn phát về văn chương khoa bảng, nên chưa thể vì chữ hung mà bỏ[1]. Hai là, hình như gươm nằm cũng bị xếp hung, nhưng lời chú nêu trường hợp hình gươm mà vẫn phát quý[1]. Nghĩa là ngay trong bản sách lưu truyền, kết luận của chính văn đã bị người chú giải làm cho mềm đi. Đây là chỗ nên đọc phong thủy hình thế như một truyền thống diễn giải có tranh luận nội bộ, không phải một bảng tra cứng.

Thế và hình thuận nghịch thì tốt xấu thế nào?

Một trong những câu then chốt của thiên Tạp là: "势与形顺者吉,势与形逆者凶", thế và hình thuận nhau thì tốt, nghịch nhau thì xấu; theo lời chú, thế tốt mà hình xấu thì còn mong được phúc một ngày, thế xấu mà hình tốt thì họa không đợi hết ngày[1]. Cách nói này cho thấy thế nặng hơn hình. Một khối đất đẹp mà mạch núi phía sau chạy ngược, gãy, hoặc thoát đi thì cái đẹp trước mắt không cứu được.

Tiêu chuẩn thuận nghịch được lời chú nói gọn: cả thế lẫn hình đều lấy dừng và phục làm thuận, lấy bay và chạy, lắc và xô làm nghịch[1]. Dưới câu chính văn "形类百动,葬者非宜" (hình mà giống vật đang động thì không hợp để táng), lời chú viết: hình thế phải dừng phục như thây nằm im không động mới có thể đặt huyệt; nếu còn bất định thì không dùng được; không chỉ núi chủ, mà ngay trước mắt thấy cái gì bay đậu, lắc lư, xô đẩy, vô tình với mình thì đều phải kiêng[1]. Nói theo cách hôm nay: tiêu chí ổn định và tụ lại được đặt lên trước tiêu chí đẹp.

Thế nào là thế cát, thế hung theo tạp thiên?

Trước loạt hình, tạp thiên kể bảy thế, bốn cát rồi ba hung, đáng chú ý vì chúng mô tả chuyển động chứ không mô tả hình khối:

  • Thế như vạn ngựa từ trời xuống: chỗ táng của bậc vương giả[1].
  • Thế như sóng lớn, núi non trùng điệp: chỗ táng của bậc nghìn cỗ xe[1].
  • Thế như rồng xuống, nước quấn mây theo: tước lộc tam công[1].
  • Thế như nhà chồng tầng: mở phủ lập nước[1].
  • Thế như rắn giật mình, cong queo xiên vẹo: mất nhà mất nước[1].
  • Thế như mâu như giáo: chết vì binh đao; lời chú nói con cháu phần nhiều chết dữ, không trọn mệnh[1].
  • Thế như nước chảy xuôi: người sống cũng thành ma[1].

Ba thế hung đều được lời chú giải bằng dáng đi của mạch núi. Thế rắn giật mình là mạch chạy ngang chạy dọc, co rút mà không thông suốt. Thế mâu giáo là nhọn sắc như lưỡi mâu, thẳng cứng như cán thương. Thế nước chảy là mạch trôi tuột thẳng xuống, không có ý dừng lại; lời chú nói táng vào đó thì chủ chết trẻ, chết nơi đất khách[1]. Cái phân biệt thế cát với thế hung vì vậy không nằm ở chỗ núi cao hay thấp, mà ở chỗ mạch có uyển chuyển và có dừng hay không.

Nước và thế nước

Ngoại thiên của Táng thư dành nhiều câu cho nước, và ở đây quan hệ giữa thế với hình hiện ra rõ nhất. Theo lời chú, nước đi mà ở chỗ uốn khúc phải có chỗ tụ, có chỗ dừng, dù không nhất thiết phải ngay trước huyệt; chỉ cần được một đoạn nước như vậy cũng có thể gọi là tốt[1]. Nước đi mà dùng dằng quyến luyến, như không nỡ rời đi, như ngoái lại nhìn mình mà muốn ở lại, ấy là thế nước đẹp[1]. Nước đến mà không thấy nguồn, nước đi mà không thấy dòng, ấy là thế nước bị che giữ kín[1].

Kinh dẫn trong Táng thư nói: "山来水回,贵寿而财", núi tới nước quay về thì quý, thọ và có của; núi tới nghĩa là các núi tụ lại, nước quay về nghĩa là các dòng họp quanh[1]. Ngược lại, "山囚水流,虏王灭候", núi bị giam, nước chảy tuột thì vua bị bắt, hầu bị diệt[1]. Chú giải cắt nghĩa: núi bị giam là minh đường chật hẹp không rộng rãi, nước chảy tuột là nguyên thần chảy thẳng không uốn[1].

Ba điều kiện tốt và sáu điều kiện xấu

Phần cuối thiên Tạp đưa ra ba cái tốt và sáu cái xấu của việc táng, trong đó chỉ có cái tốt thứ ba là thuộc phạm vi hình thế thuần túy:

  • Cái tốt thứ nhất: chôn đúng lúc, hợp với năm tháng ngày giờ, thần lành đón, quỷ dữ tránh[1].
  • Cái tốt thứ hai: âm dương xung hòa, năm sắc đất đủ bốn; lời chú ở ngoại thiên giải rằng nói đủ bốn là vì không lấy sắc đen[1].
  • Cái tốt thứ ba: sức mắt khéo, công sức đủ, theo cái toàn vẹn mà tránh cái khuyết, nâng cao hạ thấp cho đúng[1].

Sáu cái xấu gồm: âm dương sai lệch; năm tháng trái nhau; sức nhỏ mà mưu lớn; cậy phúc cậy thế; tiếm trên ép dưới; và biến cố, điềm lạ xảy ra[1]. Đáng chú ý là mấy điều sau không phải chuyện đất đai mà là chuyện người. Theo lời chú, "sức nhỏ mà mưu lớn" là phúc mỏng mà muốn mưu đất vương hầu; "cậy phúc cậy thế" là nhà giàu sang tưởng mình mãi như hôm nay nên không dốc sức tìm đất cho cha mẹ; điều thứ sáu là có đất tốt mà chần chừ không táng, để lâu sinh biến[1]. Ở điều thứ tư, lời chú dẫn Ngụy chí: Quản Lộ đi qua mộ của Chinh Đông tướng quân Vô Khâu Kiệm (sách chép 毋丘俭), than rằng tùng bách tuy tốt, bia tuy đẹp mà không có đời sau giữ, bốn điều nguy đã đủ, theo phép thì phải diệt tộc, và sách chép về sau đúng như lời[1]. Đây là chuyện lời chú dẫn để minh họa lập luận, không phải bằng chứng rằng phép xem đất ứng nghiệm.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Nghìn thước là thế, trăm thước là hình nghĩa là gì?

Đây là câu định nghĩa ở nội thiên của Táng thư: thế là đường đi của mạch núi, hướng chạy của dãy non ở khoảng cách xa, còn hình là khối đất, gò núi, thế đất cụ thể ở khoảng cách gần. Nói cách khác, thế là cái nhìn xa, hình là cái nhìn gần, và người xem đất phải giữ cả hai trong đầu cùng lúc.

Thế tới hình dừng thì khí tụ nghĩa là gì?

Đây là cách diễn đạt chuỗi lập luận của phong thủy hình thế: khí đi theo thế, thế chạy tới đâu thì khí theo tới đó, khi thế dừng lại và kết thành hình thì khí tụ lại ở chỗ ấy. Táng thư gọi đó là toàn khí, và cho rằng hình dừng khí tụ thì sinh hóa muôn vật. Cần đọc đây là quan niệm của môn phong thủy, không phải kết luận đã được kiểm nghiệm.

Phong thủy hình thế và phong thủy lý khí khác nhau thế nào?

Phong thủy hình thế lấy hình dáng núi sông, khối đất, dòng nước làm chính, còn phong thủy lý khí lấy sao, quẻ và phương vị làm chính. Lời chú ở tạp thiên của Táng thư đứng về phía hình thế khi viết lấy hình thế làm trên, phương vị làm sau, nhưng đây là chỗ các phái không thống nhất, và người theo phái lý khí sẽ có thứ tự ưu tiên khác.

Bài này thuộc chủ đề Phong thuỷ. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Phong thuỷ.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefghijklmnopqrstuvwxyz2728293031323334353637383940414243444546Quách Phác (truyền thống quy) (không rõ năm). Táng thư (葬書), Thiên Tạp, đoạn mở đầu và các đoạn về hình thế, nước, ba cát sáu hung千尺为势,百尺为形,势言阔远,形言浅近。
  2. ↑ abHoàng Thạch Công (truyền thống quy) (không rõ năm). Thanh nang kinh (青囊經), Trung quyển, đoạn về khí hành vu địa, hình lệ vu thiên天有五星,地有五行,天分星宿,地列山川,氣行於地,形麗於天,因形察氣,以立人紀。
#PhongThủy#PhongThủyHìnhThế#TángThư#HìnhVàThế#NghìnThướcLàThế#TrămThướcLàHình#QuáchPhác#LoanĐầu