
TL;DR: Hoàn giáp là lúc năm can chi quay lại đúng năm sinh sau 60 năm: người sinh năm Đinh Mùi 1967 gặp lại năm Đinh Mùi vào năm 2027, sau Tết ngày 6/2/2027. Năm ấy là năm 61 tuổi ta và năm tròn 60 tuổi tây; năm 60 tuổi ta là Bính Ngọ 2026. Không có quy định chung cho lễ lục tuần: luật chỉ đặt mừng thọ từ tuổi 70, sách xưa ghi mừng thọ ở tuổi bảy, tám mươi, nên mỗi gia đình tự chọn năm.
Hoàn giáp là gì?
Hoàn giáp là lúc năm can chi quay lại đúng năm sinh của một người, sau trọn một vòng 60 năm. Mười thiên can phối với mười hai địa chi thành 60 tổ hợp, gọi là lục thập hoa giáp; người sinh năm Đinh Mùi 1967 gặp lại năm Đinh Mùi vào năm 2027.
Mốc này tính theo năm âm lịch, không theo năm dương. Năm Đinh Mùi 1967 kéo dài từ Tết ngày 9/2/1967 tới hết ngày 28/1/1968; năm Đinh Mùi 2027 bắt đầu từ Tết ngày 6/2/2027. Người sinh từ 1/1 tới 8/2/1967 dương lịch vẫn thuộc năm Bính Ngọ, nên năm hoàn giáp của họ là Bính Ngọ 2026.
Tuổi ta và tuổi tây khác nhau thế nào ở mốc 60?
Tuổi ta, còn gọi là tuổi mụ, tính một tuổi lúc sinh và thêm một tuổi mỗi lần qua Tết; tuổi tây tính tròn theo sinh nhật dương lịch. Với người sinh trong năm Đinh Mùi (9/2/1967 tới 28/1/1968):
- 60 tuổi ta: năm Bính Ngọ, từ 17/2/2026 tới 5/2/2027.
- 61 tuổi ta, cũng là năm hoàn giáp: năm Đinh Mùi, từ 6/2/2027.
- Tròn 60 tuổi tây: vào ngày sinh nhật năm 2027 (người sinh tháng 1/1968 thì vào tháng 1/2028).
Vì vậy, "tuổi ta" và "năm hoàn giáp" cho hai năm khác nhau: năm hoàn giáp trùng với năm tròn 60 tuổi tây, không trùng với năm 60 tuổi ta.
Mừng thọ lục tuần nên làm năm nào?
Không có một quy định chung. Trong thực tế, có gia đình làm lễ vào năm người được mừng 60 tuổi ta, có gia đình chờ năm hoàn giáp, có gia đình làm đúng dịp sinh nhật thứ 60. Với người sinh năm Đinh Mùi 1967, các cách ấy rơi vào năm 2026 (60 tuổi ta) hoặc năm 2027 (hoàn giáp, tròn 60 tuổi tây).
Luật cũng không đặt mốc 60. Luật Người cao tuổi năm 2009 giao Ủy ban nhân dân cấp xã phối hợp với Hội Người cao tuổi và gia đình tổ chức mừng thọ ở các tuổi 70, 75, 80, 85, 90, 95 và từ 100 tuổi trở lên[3]. Lễ lục tuần vì vậy là việc riêng của gia đình.
Ngày xưa người Việt mừng thọ ở tuổi nào?
Sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính ghi rằng nhà nào có cha mẹ già đến bảy tám mươi tuổi, mà nhà phong phú, đông con cái, thì làm lễ mừng thọ cha mẹ, gọi là lễ Thượng thọ[1]. Hôm ăn mừng, trước hết làm lễ gà xôi, hoặc tam sinh, hoặc lợn bò đem ra đình lễ thần, gọi là bái tạ thần hưu, nghĩa là tạ ơn thần thánh đã phù hộ cho cha mẹ sống lâu[1].
Đến lúc lễ, con cháu mỗi người dâng chén rượu mừng thọ hoặc quả đào, gọi là bàn đào chúc thọ, rồi mời làng nước, khách khứa tới ăn mừng[1]. Sách Tục thờ cúng của người Việt của Bùi Xuân Mỹ chép lại cùng mốc bảy, tám mươi tuổi[2]. Như vậy, theo hai sách này, mốc mừng thọ xưa là bảy, tám mươi, không phải sáu mươi.
Những mốc của người sinh năm Đinh Mùi 1967 là gì?
| Mốc | Năm âm lịch | Thời gian dương lịch |
|---|---|---|
| Năm sinh | Đinh Mùi | 9/2/1967 tới 28/1/1968 |
| 60 tuổi ta | Bính Ngọ | 17/2/2026 tới 5/2/2027 |
| 61 tuổi ta, hoàn giáp | Đinh Mùi | 6/2/2027 tới 25/1/2028 |
| Tròn 60 tuổi tây | Đinh Mùi (phần lớn) | Sinh nhật năm 2027, hoặc tháng 1/2028 |
| Mừng thọ theo luật | Không áp dụng | Bắt đầu từ tuổi 70 |
Các ngày Tết trong bảng tính theo âm lịch Việt Nam.
Gợi ý của Nhật Nguyệt: chọn năm làm lễ thế nào?
Nếu nhà muốn đúng nghĩa "hoàn giáp", hãy làm trong năm Đinh Mùi 2027, sau Tết ngày 6/2/2027. Nếu nhà quen tính tuổi ta như khi làm các lễ khác, năm 60 tuổi ta là Bính Ngọ 2026.
Trước khi chọn, nên kiểm lại ngày sinh âm lịch của người được mừng: người sinh đầu năm 1967 trước Tết là tuổi Bính Ngọ, các mốc lùi lại một năm.
