Nhật Nguyệt

Tri thức / Việt Nam

Tín ngưỡng dân tộc thiểu số

Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái là gì: người làm Then, các lễ cầu an, giải hạn và đàn tính theo hồ sơ UNESCO

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Chia sẻ:
Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái là gì: người làm Then, các lễ cầu an, giải hạn và đàn tính theo hồ sơ UNESCO

TL;DR: Theo hồ sơ Nhà nước Việt Nam đề cử UNESCO (ghi danh 2019), Then là thực hành nghi lễ không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người Tày, Nùng, Thái, do thầy Then (ông Then, bà Then) chủ trì. Nghi lễ gồm cầu an, chữa bệnh, cầu mùa, chúc mừng năm mới, mừng nhà mới, cấp sắc, giải hạn; thầy Then vừa hát tiếng dân tộc mình vừa gảy tính tẩu, xóc chùm xóc nhạc, phất quạt. Hồ sơ đề cử là văn bản nhà nước, chứng minh định nghĩa chính thức của di sản, không chứng minh hiệu quả của nghi lễ.

Then là hát, là nghi lễ hay là tín ngưỡng?

Theo hồ sơ Nhà nước Việt Nam đề cử UNESCO, Then là một thực hành nghi lễ không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam, phản ánh các quan niệm về con người, thế giới tự nhiên và vũ trụ[1]. Nói cách khác, Then không chỉ là hát, cũng không chỉ là nghi lễ, mà là một thực hành tín ngưỡng tổng hợp: trong đó có nghi lễ, có hát, có nhạc cụ, có múa, có cộng đồng tham gia. Hát và đàn tính là phương tiện để thầy Then thực hiện nghi lễ, chứ không phải mục đích tự thân.

Hồ sơ đề cử UNESCO số 01379 (2019) mô tả các lễ Then diễn tả hành trình thầy Then điều khiển đoàn âm binh đi từ Mường Đất lên Mường Trời để dâng lễ vật và thỉnh cầu[1]. Thầy Then bắt đầu cuộc hành trình bằng việc hát và gảy tính tẩu (đàn tính hai hoặc ba dây)[1]. Tùy theo mục đích cầu cúng, thầy Then bày mâm cúng và cầu khấn trước bàn thờ Then những vị thần bản địa khác nhau, trong đó Ngọc Hoàng là vị thần cao nhất[1].

Cách hiểu của hồ sơ: Then là một thực hành nghi lễ (ritual practice), không phải một loại hình ca hát thuần túy. Các lễ Then diễn ra tại nhà tín chủ, ở ngoài trời, hoặc tại bàn thờ Then ở nhà của thầy Then[1].

Ai được làm Then và trở thành thầy Then như thế nào?

Theo hồ sơ đề cử, người hành lễ Then là các thầy Then nam và nữ, được cho là do thần linh chọn và có số mệnh trở thành thầy Then[1]. Hồ sơ ghi nhận có những gia đình có hai hoặc ba người cùng hành nghề Then, ví dụ ông Lưu Đình Bạo (người Tày, tỉnh Bắc Kạn cũ, nay thuộc Thái Nguyên), bà Nông Thị Lìm (người Nùng, tỉnh Lạng Sơn), gia đình ông Vàng A Thức (người Thái, tỉnh Điện Biên)[1]. Một số thầy Then thực hiện khoảng 200 nghi lễ Then một năm và truyền nghề cho hai hoặc ba người, như bà Chu Thị Hồng Vân (người Nùng, tỉnh Bắc Giang cũ, nay thuộc Bắc Ninh), ông Bế Sơn Trung (người Tày, tỉnh Cao Bằng), ông Chu Hồng Phương (người Tày, tỉnh Lào Cai)[1].

Mỗi lễ Then do một thầy Then chủ trì, cùng một nhóm người gồm đệ tử (phụ lễ), tín chủ, đội múa, thành viên gia đình thầy Then và cộng đồng, có khi có cả thầy Tào (thầy pháp)[1]. Những người này tham gia vào quá trình chuẩn bị và thực hành nghi lễ, qua đó học cách hành nghề và sau này một số trở thành thầy Then[1].

Hồ sơ nêu rõ: thầy Then phải am hiểu phong tục của dân tộc mình, có trí nhớ tốt, biết hát và gảy tính tẩu, sử dụng chùm xóc nhạc thành thạo để mô tả hành trình đoàn âm binh một cách hấp dẫn[1]. Thầy Then truyền dạy trực tiếp cho đệ tử: truyền khẩu các bài cúng, dạy gảy tính tẩu, xóc chùm xóc nhạc, truyền các làn điệu Then, thực hiện các nghi lễ và thủ tục của lễ Then[1]. Đệ tử phải học thuộc lòng các bài cúng, thành thạo nhạc cụ và sử dụng thuần thục ấn, bảng hiệu triệu, kiếm, quạt và các vật âm dương trong lễ[1]. Thầy Then nam dạy lối hành nghề của nam, thầy Then nữ dạy lối hành nghề của nữ cho cả đệ tử nam và nữ[1].

Ngoài việc học tại lễ, đệ tử còn đến nhà thầy Then để học thêm kỹ năng chơi nhạc cụ, hát, quy định về thủ tục nghi lễ, tự tìm hiểu phong tục và truyền thống liên quan đến cộng đồng mình[1].

Các loại lễ Then và điều mỗi lễ nhắm tới

Hồ sơ đề cử liệt kê các mục đích cầu cúng khác nhau của lễ Then[1]. Bảng dưới đây tổng hợp theo đúng văn bản hồ sơ, ô nào hồ sơ không nói thì để trống.

Loại lễ ThenMục đích theo hồ sơ đề cửGhi chú
Cầu anCầu bình an cho cá nhân, gia đìnhThầy Then bày mâm cúng, cầu khấn trước bàn thờ Then[1]
Chữa bệnhCầu cho người bệnh khỏi bệnhHồ sơ ghi là một trong các mục đích cầu cúng[1]
Cầu mùaCầu cho mùa màng tốt tươiHồ sơ ghi là một trong các mục đích cầu cúng[1]
Chúc mừng năm mớiCầu may mắn đầu nămHồ sơ ghi là một trong các mục đích cầu cúng[1]
Mừng nhà mớiCầu cho nhà mới được yên ổnHồ sơ ghi là một trong các mục đích cầu cúng[1]
Cấp sắcLễ phong chức, công nhận thầy ThenHồ sơ ghi là một trong các mục đích cầu cúng[1]
Giải hạnCầu giải trừ vận hạnHồ sơ ghi là một trong các mục đích cầu cúng[1]

Hồ sơ cũng nêu: trong những thập kỷ gần đây, một hình thức biểu diễn hát Then, đàn tính đã phát triển từ âm nhạc của nghi lễ Then, làm cho các làn điệu Then được phổ biến rộng rãi, làm phong phú thêm hoạt động biểu diễn nghệ thuật[1]. Đây là một nhánh phát triển từ nghi lễ, không thay thế nghi lễ.

Thầy Then dùng những gì trong lễ?

Theo hồ sơ đề cử, thầy Then thường sử dụng bảng hiệu triệu, ấn, kiếm trừ tà, thanh âm dương, chuông, quạt và các lễ vật như thịt lợn, gà, rượu, gạo, hoa quả, vàng mã để thực hiện lễ Then[1]. Thầy Then mặc lễ phục, vừa hát tiếng dân tộc mình vừa gảy tính tẩu, xóc chùm xóc nhạc, phất quạt; có buổi lễ còn có tốp nữ múa phụ họa[1].

Hồ sơ ghi nhận: Then luôn được trao truyền bằng truyền khẩu khi thực hành nghi lễ, thể hiện sự kế tục giữa các thế hệ, và các thầy Then đóng vai trò chính yếu trong việc chuyển giao kỹ năng và bí quyết liên quan[1].

Then tập trung ở những đâu?

Theo hồ sơ đề cử, di sản Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái tập trung chủ yếu ở các tỉnh vùng Đông Bắc (theo địa giới lúc lập hồ sơ năm 2019: Bắc Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Tuyên Quang), vùng Tây Bắc (Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai) và một số địa phương khác ở Việt Nam[1]. Hồ sơ cũng cho biết di sản Then của 11 tỉnh lần lượt được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia kể từ năm 2012, danh mục được cập nhật gần đây nhất vào năm 2017[1].

Ngày 12 tháng 12 năm 2019 (giờ địa phương), tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 14 tại Bogotá, Colombia, di sản Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại[2].

Then khác gì lên đồng và shaman giáo?

Trong sách Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và châu Á (2004), Ngô Đức Thịnh và các cộng sự đặt lên đồng của người Việt cạnh các hình thức shaman giáo của các tộc người thiểu số ở Việt Nam, Hàn Quốc, Siberia và Đông Nam Á. Sách này tập hợp các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, so sánh các hình thức nhập đồng và hành lễ giữa các tộc người.

Trong khung so sánh ấy, Then là một hình thức nghi lễ có thầy hành lễ chủ trì, có hành trình lên Mường Trời, có nhạc cụ và lời hát dẫn dắt nghi lễ. Lên đồng của người Việt cũng là một hình thức nghi lễ có người hành lễ, nhưng bối cảnh tộc người và hệ thống thần linh khác. Sách của Ngô Đức Thịnh (2004) là tư liệu học thuật so sánh, không phải văn bản quy định ai được làm Then.

Kirsten W. Endres và Andrea Lauser (chủ biên, 2011) đặt các thực hành tín ngưỡng Đông Nam Á hiện đại, trong đó có lên đồng và thầy cúng, vào bối cảnh hiện đại hóa và toàn cầu hóa. Tuyển tập này lập luận rằng hiện đại hóa đi cùng với việc tái phù phép đời sống tín ngưỡng chứ không xóa bỏ niềm tin. Đây là khung nhân học chung, không phải nghiên cứu riêng về Then.

Hồ sơ đề cử là văn bản nhà nước, nó chứng minh điều gì?

Hồ sơ đề cử UNESCO số 01379 là văn bản do Nhà nước Việt Nam chuẩn bị và trình UNESCO, được UNESCO ghi danh năm 2019[1]. Văn bản này chứng minh định nghĩa chính thức của thực hành Then: ai hành lễ, lễ gồm những gì, nhằm mục đích gì, được truyền dạy như thế nào, phân bố ở đâu. Văn bản này không chứng minh hiệu quả của nghi lễ, không chứng minh rằng cầu an thì sẽ an, cầu mùa thì sẽ được mùa. Hồ sơ tự mô tả rằng lễ Then có thể có tác dụng như một liệu pháp chữa bệnh[1], nhưng đây là lời của hồ sơ đề cử, thuộc tầng văn bản nhà nước, không phải kết quả nghiên cứu độc lập.

Trong phạm vi các nguồn đã thu thập cho bài này, chưa có nghiên cứu thực địa độc lập nào được dẫn để kiểm chứng hiệu quả của nghi lễ Then. Hồ sơ đề cử là văn bản nhà nước, không thay thế được nghiên cứu độc lập. Bài viết này trình bày đúng như văn bản ấy nói, và nói rõ chỗ bằng chứng còn thiếu.

Mạng lưới thầy cúng Tày, Nùng hiện nay có gì đáng chú ý?

Bài của Hoàng Thị Thu Hường, Hoàng Thị Lê Thảo và Hoàng Hồng Đức (2026) trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Thái Nguyên nghiên cứu mạng lưới thầy cúng Tày, Nùng trong bối cảnh giao lưu hội nhập hiện nay[5]. Nhóm tác giả thực hiện điền dã dân tộc học tại các tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng giai đoạn 2024 tới 2025, kết hợp phân tích tư liệu truyền thông số[5].

Tóm tắt bài báo cho biết: trong đời sống tín ngưỡng của người Tày, Nùng, hệ thống thầy cúng Tào, Mo, Pựt, Then có vai trò quan trọng và có sự kết nối, hình thành mạng lưới trong thực hành nghi lễ[5]. Hiện nay, cấu trúc và cơ chế vận hành của mạng lưới này có những biến đổi trước tác động của di cư, toàn cầu hóa và truyền thông số[5]. Kết quả nghiên cứu cho thấy mạng lưới thầy cúng của cộng đồng Tày, Nùng không chỉ vận hành trong phạm vi gia đình, dòng họ và bản làng, mà còn mở rộng ra liên tộc người, liên vùng và xuyên biên giới, bao gồm cả không gian số[5]. Mạng lưới này đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì đời sống tâm linh, gắn kết cộng đồng và bảo tồn bản sắc văn hóa của người Tày, Nùng, đặc biệt trong các cộng đồng di cư[5]. Tuy nhiên, quá trình hội nhập cũng đặt ra những thách thức như thương mại hóa nghi lễ, suy giảm tính thiêng và truyền thừa tri thức[5].

Bài báo đề xuất một số định hướng bảo tồn và phát huy phù hợp với bối cảnh đương đại[5]. Đây là kết quả nghiên cứu điền dã tại Lạng Sơn và Cao Bằng giai đoạn 2024 tới 2025, không đại diện cho toàn bộ các tỉnh có di sản Then[5].

Người đọc thường hỏi gì về Then?

Then có phải là hát không?

Theo hồ sơ đề cử, Then là thực hành nghi lễ, trong đó hát và đàn tính là phương tiện để thầy Then thực hiện nghi lễ[1]. Hát Then, đàn tính là một hình thức biểu diễn phát triển từ âm nhạc của nghi lễ Then trong vài thập kỷ gần đây, làm cho các làn điệu Then được phổ biến rộng rãi[1]. Như vậy, hát Then là một phần của Then, nhưng Then không chỉ là hát.

Ai được làm Then?

Theo hồ sơ đề cử, người hành lễ Then là các thầy Then nam và nữ, được cho là do thần linh chọn và có số mệnh trở thành thầy Then[1]. Thầy Then phải am hiểu phong tục dân tộc mình, có trí nhớ tốt, biết hát và gảy tính tẩu, sử dụng chùm xóc nhạc thành thạo[1]. Thầy Then truyền dạy trực tiếp cho đệ tử qua truyền khẩu và thực hành tại lễ[1].

Thầy Then làm những lễ gì?

Theo hồ sơ đề cử, các lễ Then gồm cầu an, chữa bệnh, cầu mùa, chúc mừng năm mới, mừng nhà mới, cấp sắc, giải hạn[1]. Mỗi lễ nhắm tới một mục đích khác nhau, thầy Then bày mâm cúng và cầu khấn trước bàn thờ Then những vị thần bản địa khác nhau, trong đó Ngọc Hoàng là vị thần cao nhất[1].

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Then là hát, là nghi lễ hay là tín ngưỡng?

Theo hồ sơ Nhà nước Việt Nam đề cử UNESCO (ghi danh 2019), Then là một thực hành nghi lễ không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người Tày, Nùng, Thái. Trong nghi lễ đó, thầy Then vừa hát tiếng dân tộc mình vừa gảy tính tẩu, xóc chùm xóc nhạc, phất quạt. Hát và đàn tính là phương tiện để thực hiện nghi lễ, không phải mục đích tự thân. Hát Then, đàn tính là một hình thức biểu diễn phát triển từ âm nhạc của nghi lễ Then trong vài thập kỷ gần đây.

Ai được làm Then và trở thành thầy Then như thế nào?

Theo hồ sơ đề cử, người hành lễ Then là các thầy Then nam và nữ, được cho là do thần linh chọn và có số mệnh trở thành thầy Then. Thầy Then phải am hiểu phong tục dân tộc mình, có trí nhớ tốt, biết hát và gảy tính tẩu, sử dụng chùm xóc nhạc thành thạo. Thầy Then truyền dạy trực tiếp cho đệ tử qua truyền khẩu và thực hành tại lễ: học thuộc lòng các bài cúng, thành thạo nhạc cụ, sử dụng ấn, bảng hiệu triệu, kiếm, quạt và các vật âm dương.

Thầy Then làm những lễ gì?

Theo hồ sơ đề cử, các lễ Then gồm cầu an, chữa bệnh, cầu mùa, chúc mừng năm mới, mừng nhà mới, cấp sắc, giải hạn. Mỗi lễ nhắm tới một mục đích khác nhau, thầy Then bày mâm cúng và cầu khấn trước bàn thờ Then những vị thần bản địa khác nhau, trong đó Ngọc Hoàng là vị thần cao nhất. Lễ có thể diễn ra tại nhà tín chủ, ở ngoài trời, hoặc tại bàn thờ Then ở nhà của thầy Then.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefghijklmnopqrstuvwxyz272829303132333435363738Nhà nước Việt Nam (hồ sơ đề cử) và UNESCO (2019). Nomination file No. 01379: Practices of Then by Tày, Nùng and Thái ethnic groups in Viet Nam. UNESCO, Intergovernmental Committee for the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage, 14th session, Bogotá 2019, trang 2, mục mô tả thực hành ThenThen, a ritual practice indispensable in Tày, Nùng and Thái ethnic groups’ spiritual life, reflects concepts about human beings, natural world and the universe (the Earth realm, the 3-layer Heaven realm).
  2. ↑Cục Di sản văn hóa (2019). Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam được ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, mục Tin tức - Sự kiệnVào hồi 15 giờ 23 phút ngày 12 tháng 12 năm 2019 giờ địa phương (3 giờ 23 phút ngày 13 tháng 12 năm 2019 theo giờ Việt Nam), tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 14 của UNESCO diễn ra tại Bogotá, thủ đô nước Cộng hòa Colombia, di sản Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
  3. ↑ abcdefghiHoàng Thị Thu Hường, Hoàng Thị Lê Thảo và Hoàng Hồng Đức (2026). Mạng lưới thầy cúng Tày, Nùng trong bối cảnh giao lưu hội nhập hiện nay. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Thái Nguyên 231(08), phần Tóm tắtKết quả nghiên cứu cho thấy mạng lưới thầy cúng của cộng đồng Tày, Nùng không chỉ vận hành trong phạm vi gia đình, dòng họ và bản làng, mà còn mở rộng ra liên tộc người, liên vùng và xuyên biên giới, bao gồm cả không gian số.

Đọc thêm

#Then#ThựcHànhThen#HátThen#ĐànTính#NgườiTày#NgườiNùng#NgườiThái#TínNgưỡngDânTộcThiểuSố#UNESCO