Nhật Nguyệt

Tri thức / Đông phương / Phong thuỷ

Phong thủy

Lập tinh bàn Huyền Không từng bước: đặt sao vận vào trung cung, bay theo Lạc Thư, lấy sơn tinh và hướng tinh, quyết thuận nghịch theo tam nguyên long

Chia sẻ:
東
TL;DR: Tinh bàn Huyền Không gồm ba lớp sao: vận bàn (sao của vận hiện hành, luôn bay thuận), sơn bàn (lấy số ở cung tọa nhập trung) và hướng bàn (lấy số ở cung hướng nhập trung). Hai lớp sau bay thuận hay nghịch tùy âm dương của tam nguyên long ứng với sơn tọa và sơn hướng. Bảng tra ở cuối bài do lõi tính của site dựng, chỉ áp dụng cho nhà chính hướng (hạ quái); nhà kiêm quá ba độ thường phải dùng thế quái, và các sách có thể cho kết quả khác nhau.

Tinh bàn Huyền Không là gì và vì sao phải lập theo từng bước?

Tinh bàn Huyền Không là một sơ đồ chín cung, mỗi cung chứa ba con số: sao vận, sơn tinh và hướng tinh. Sơ đồ này dùng để mô tả phân bố khí theo thời gian (vận) và theo phương hướng (sơn, hướng) của một ngôi nhà. Theo Wikipedia, Huyền Không phi tinh là sự tích hợp âm dương, tương tác ngũ hành, bát quái, số Lạc Thư và 24 sơn, dùng thời gian, không gian và sự vật để dựng biểu đồ phân tích khí tốt xấu của một công trình. Dòng phái này được phổ biến thời Thanh bởi Thẩm Trúc Nhưng với sách Trạch vận tân án (bản dịch Lê Việt Anh).

Vận bàn vận 9: sao 9 vào trung cung rồi bay thuận theo đường Lạc Thư.
Vận bàn vận 9: sao 9 vào trung cung rồi bay thuận theo đường Lạc Thư.

Ba lớp sao không lập cùng lúc theo một cách. Vận bàn luôn bay thuận, không xét âm dương. Sơn bàn và hướng bàn mới phải xét âm dương của tam nguyên long để quyết bay thuận hay nghịch. Đây là điểm khiến nhiều người mới học lập sai ngay từ bước hai.

Vì sao vận bàn luôn bay thuận còn sơn bàn và hướng bàn phải xét âm dương?

Sao vận là sao của thời vận, nó không gắn với một sơn cụ thể nên không có âm dương để xét, vì vậy luôn nhập trung và bay thuận theo đường Lạc Thư. Ngược lại, sơn bàn lấy số ở cung tọa, hướng bàn lấy số ở cung hướng; hai số này gắn với sơn cụ thể nên phải xét âm dương của tam nguyên long của sơn đó. Sách Trạch vận tân án ghi rõ quy tắc tam nguyên long như sau:

  • Địa nguyên long: dương là Giáp, Canh, Nhâm, Bính; âm là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
  • Thiên nguyên long: dương là Càn, Khôn, Cấn, Tốn; âm là Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
  • Nhân nguyên long: dương là Dần, Thân, Tỵ, Hợi; âm là Quý, Đinh, Ất, Tân.

Dương thì bay thuận, âm thì bay nghịch. Cần lưu ý: đây là quy ước âm dương của Huyền Không, khác với cách phân âm dương 24 sơn dùng trong Tam Hợp. Sách Trạch vận tân án cũng ghi 12 địa chi xếp thuận chiều kim đồng hồ theo 12 tiết, với sáu cặp xung Tý Ngọ, Mão Dậu, Thìn Tuất, Sửu Mùi, Dần Thân, Tỵ Hợi, và 10 thiên can đặt theo ngũ hành âm dương của phương: Giáp dương mộc đóng bên trái Mão, Ất âm mộc đóng bên phải Mão, Bính dương hỏa bên trái Ngọ, Đinh âm hỏa bên phải Ngọ.

Đường bay Lạc Thư đi theo thứ tự nào?

Theo Wikipedia, các sao luôn di chuyển theo thứ tự: xuống dưới phải (tây bắc), sang phải giữa (tây), xuống dưới trái (đông bắc), lên trên giữa (nam), xuống dưới giữa (bắc), lên trên phải (tây nam), sang trái giữa (đông), lên trên trái (đông nam), rồi về trung cung. Đây là đường bay của cửu tinh trên bàn Lạc Thư, và là đường dùng cho cả vận bàn, sơn bàn lẫn hướng bàn.

Lạc Thư: mọi hàng, cột và đường chéo đều cộng lại bằng 15.
Lạc Thư: mọi hàng, cột và đường chéo đều cộng lại bằng 15.

Nói cách khác, khi một số nhập trung, số kế tiếp của nó (theo vòng 1 đến 9) sẽ đi vào cung tây bắc, rồi tây, rồi đông bắc, rồi nam, rồi bắc, rồi tây nam, rồi đông, rồi đông nam. Bay nghịch thì đi ngược lại thứ tự này.

Lập một tinh bàn vận 9 cho nhà tọa Tý hướng Ngọ: làm từng bước

Đây là ví dụ trọn vẹn để thấy cả ba lớp sao được an như thế nào. Nhà tọa Tý hướng Ngọ nghĩa là lưng nhà quay về phương bắc (sơn Tý) và mặt nhà nhìn về phương nam (hướng Ngọ).

Bước 1: an vận bàn

Vận 9 có sao vận là 9. Đặt số 9 vào trung cung, bay thuận theo đường Lạc Thư. Kết quả vận bàn vận 9:

CungĐông namNamTây nam
513
CungĐôngTrungTây
497
CungĐông bắcBắcTây bắc
862

Bước 2: lấy số ở cung tọa để an sơn bàn

Cung tọa là cung bắc. Trong vận bàn vừa lập, cung bắc mang số 6. Vậy lấy số 6 nhập trung cung của sơn bàn. Sơn tọa là Tý. Theo quy ước tam nguyên long ở trên, Tý thuộc thiên nguyên long và là âm. Âm thì bay nghịch. Sơn bàn bay nghịch từ số 6:

CungĐông namNamTây nam
729
CungĐôngTrungTây
864
CungĐông bắcBắcTây bắc
315

Bước 3: lấy số ở cung hướng để an hướng bàn

Cung hướng là cung nam. Trong vận bàn, cung nam mang số 1. Vậy lấy số 1 nhập trung cung của hướng bàn. Sơn hướng là Ngọ. Ngọ thuộc thiên nguyên long và là âm, nên cũng bay nghịch. Hướng bàn bay nghịch từ số 1:

CungĐông namNamTây nam
264
CungĐôngTrungTây
318
CungĐông bắcBắcTây bắc
759

Bước 4: ghép ba lớp sao thành tinh bàn hoàn chỉnh

Ghép sao vận (lớn, giữa), sơn tinh (nhỏ, bên trái) và hướng tinh (nhỏ, bên phải) vào từng cung. Theo cách trình bày trong Trạch vận tân án, số viết lớn trong cung là thiên tinh của vận, số nhỏ bên trái là phi tinh của sơn bàn, số nhỏ bên phải là phi tinh của hướng bàn. Ta được:

CungĐông namNamTây nam
7 5 22 1 69 3 4
CungĐôngTrungTây
8 4 36 9 14 7 8
CungĐông bắcBắcTây bắc
3 8 71 6 55 2 9

Đọc ra cách cục từ tinh bàn vận 9 tọa Tý hướng Ngọ

Vận 9 lấy sao 9 làm vượng tinh. Với nhà tọa Tý hướng Ngọ, sao 9 nằm ở trung cung, không nằm ở cung tọa hay cung hướng, nên đây không phải cách cục đáo sơn đáo hướng (vượng tinh đồng thời đến cả tọa và hướng). Cách cục này cũng không phải song tinh hội hướng (vượng tinh và sơn tinh cùng đến hướng) hay song tinh hội tọa (vượng tinh và sơn tinh cùng đến tọa).

Cách cục đáo sơn đáo hướng, song tinh hội hướng, song tinh hội tọa và thượng sơn hạ thủy là bốn cách cục được nhắc nhiều trong các sách Huyền Không. Đáo sơn đáo hướng là khi vượng tinh đồng thời bay đến cung tọa và cung hướng, thường được xem là cách cục lý tưởng về cả nhân đinh lẫn tài lộc. Thượng sơn hạ thủy là trường hợp ngược lại: vượng tinh của hướng phi đến cung tọa, vượng tinh của sơn phi đến cung hướng, thường được xem là tiêu hao. Song tinh hội hướng là khi vượng tinh và sơn tinh đương vận cùng phi đến cung hướng. Song tinh hội tọa là khi vượng tinh và sơn tinh đương vận cùng phi đến cung tọa.

Cần nhấn mạnh: đây là cách đọc trên lý khí. Nhiều sách Huyền Không cho rằng lý khí chỉ là một nửa, phần hình thế (địa hình sơn thủy quanh nhà) mới quyết định cát hung thực tế. Một tinh bàn đẹp nhưng không có địa hình phù hợp vẫn có thể không phát huy được, thậm chí phản tác dụng.

Vì sao số 5 nhập trung lại là chỗ các sách hay nói khác nhau?

Khi sơn tinh hoặc hướng bàn rơi vào số 5, tức số 5 nhập trung, thì nó không còn thuộc một quẻ cụ thể nào để tra âm dương, nên phải dùng quy ước riêng. Sách Trạch vận tân án chép: "2, 5 nhập trung, khắc nhập, cát; 9, 1 nhập trung, sinh xuất, hung; 6 nhập trung, khắc xuất, hung" cho nhóm Nhị Hắc, Ngũ Hoàng, Bát Bạch Thổ lập mệnh. Các nhóm mệnh khác (Tam Bích Tứ Lục Mộc, Lục Bạch Thất Xích Kim, Cửu Tử Hỏa, Bát Bạch Thủy, v.v.) cũng có bảng riêng, và mỗi bảng cho kết quả cát hung khác nhau khi số 5 nhập trung.

Có sách lấy số 5 gửi vào cung Khôn hoặc cung Cấn để tra âm dương, có sách lại quy định 5 nhập trung luôn bay thuận. Chỗ này không có sự thống nhất tuyệt đối giữa các phái. Người đọc nên biết bài này theo quy ước nào trước khi áp dụng, thay vì giả định chỉ có một cách đúng duy nhất.

Bảng 24 sơn với nguyên long và âm dương theo phái Thẩm thị

Bảng dưới đây do lõi tính của site dựng, tổng hợp 24 sơn theo tam nguyên long và âm dương dùng cho Huyền Không. Bảng này khác với bảng âm dương 24 sơn dùng trong Tam Hợp, nên không dùng lẫn.

SơnNguyên longÂm dương
TýThiênÂm
NgọThiênÂm
MãoThiênÂm
DậuThiênÂm
CànThiênDương
KhônThiênDương
CấnThiênDương
TốnThiênDương
GiápĐịaDương
CanhĐịaDương
NhâmĐịaDương
BínhĐịaDương
ThìnĐịaÂm
TuấtĐịaÂm
SửuĐịaÂm
MùiĐịaÂm
DầnNhânDương
ThânNhânDương
TỵNhânDương
HợiNhânDương
QuýNhânÂm
ĐinhNhânÂm
ẤtNhânÂm
TânNhânÂm

Bảng này chỉ đúng cho nhà chính hướng, còn nhà kiêm thì sao?

Bảng tinh bàn ở cuối bài chỉ đúng cho nhà chính hướng, tức nhà có tọa hướng nằm gọn trong một sơn, còn gọi là hạ quái. Khi nhà kiêm quá ba độ, nghĩa là tọa hoặc hướng lấn sang sơn bên cạnh, nhiều sách dùng thế quái thay vì dùng trực tiếp sơn gốc. Cách xử lý nhà kiêm không thống nhất giữa các sách: có sách lấy sơn kiêm làm sơn chính, có sách dùng quẻ thay thế, có sách chỉ cho phép kiêm trong một giới hạn độ nhất định. Người đọc cần tra đúng quy ước của sách mình theo trước khi luận.

Lạc Thư và 24 sơn đứng sau cách lập này

Số dùng trong tinh bàn là số của Lạc Thư. Theo Wikipedia, Lạc Thư là một ma phương bậc ba, tổng ba số trên mỗi hàng, mỗi cột và mỗi đường chéo đều bằng 15. Số 5 nằm ở trung tâm, và tổng hai ô đối xứng qua 5 luôn bằng 10. Truyền thuyết kể rằng vua Vũ thời thượng cổ trị thủy, một con rùa thần nổi lên từ sông Lạc với hình Lạc Thư trên mai. Lạc Thư thường được dùng cặp với Hà Đồ trong địa lý, số thuật và triết học. Trong cách dùng phổ biến, số 1 đặt ở dưới (bắc) và số 9 ở trên (nam), ứng với quẻ Khảm và quẻ Ly trong Hậu Thiên bát quái.

24 sơn trên la kinh là sự chia nhỏ tám hướng thành 24 sơn, mỗi hướng ba sơn. Theo Wikipedia, mỗi hướng được chia thành ba khu vực, ví dụ hướng nam gồm Bính, Ngọ, Đinh với các khoảng độ 157,6 đến 172,5; 172,6 đến 187,5; và 187,6 đến 202,5. Bính là dương, Ngọ và Đinh là âm. Cách chia độ này là cơ sở để xác định tọa hướng thuộc sơn nào trước khi lập tinh bàn.

Đo hướng trước khi lập bàn

Theo Wikipedia, phải đo hướng chính xác trước khi làm bất kỳ hệ thống phong thủy nào. La bàn phong thủy dùng để xác định hướng chính xác của công trình. Vòng quan trọng nhất trên la bàn là vòng 24 sơn. Với nhà ở, hướng được xác định theo mặt tiền nhận nhiều dương khí nhất; với chung cư, hướng của căn hộ thường lấy theo hướng của cả tòa nhà, hoặc theo mặt có luồng người qua lại đông nhất nếu tòa nhà không có mặt tiền rõ ràng. Sai số khi đo sẽ kéo theo sai sơn, và sai sơn thì tinh bàn lập ra cũng sai theo, nên bước đo hướng không thể xem nhẹ.

Bài này không khẳng định cát hung tuyệt đối cho bất kỳ tọa hướng nào. Các cách cục nêu trên là cách đọc theo lý khí của dòng Huyền Không; kết quả thực tế còn phụ thuộc hình thế, thời điểm và nhiều yếu tố khác.

Một tinh bàn mẫu: vận 9, tọa Tý hướng Ngọ

Tinh bàn dưới lập bằng cùng phép mà Nhật Nguyệt dùng ở các bảng Huyền Không, xếp theo chín ô Lạc Thư với phương Nam ở hàng trên như sách cổ. Mỗi ô ghi sao vận, sơn tinh và hướng tinh. Nhà này thuộc cách: Song tinh đáo tọa.

Tốn, Đông Nam: vận 8, sơn 6, hướng 3Ly, Nam: vận 4, sơn 1, hướng 8Khôn, Tây Nam: vận 6, sơn 8, hướng 1
Chấn, Đông: vận 7, sơn 7, hướng 2Trung cung: vận 9, sơn 5, hướng 4Đoài, Tây: vận 2, sơn 3, hướng 6
Cấn, Đông Bắc: vận 3, sơn 2, hướng 7Khảm, Bắc: vận 5, sơn 9, hướng 9Càn, Tây Bắc: vận 1, sơn 4, hướng 5

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Sơn tinh và hướng tinh khác nhau ở chỗ nào khi lập tinh bàn?

Sơn tinh lấy số ở cung tọa trong vận bàn rồi nhập trung cung của sơn bàn, dùng để luận về nhân đinh và sơn. Hướng tinh lấy số ở cung hướng trong vận bàn rồi nhập trung cung của hướng bàn, dùng để luận về tài lộc và thủy. Cả hai đều phải xét âm dương của tam nguyên long ứng với sơn tọa và sơn hướng để quyết bay thuận hay nghịch, khác với vận bàn luôn bay thuận.

Vì sao vận bàn luôn bay thuận mà sơn bàn, hướng bàn có thể bay nghịch?

Sao vận gắn với thời vận, không gắn với một sơn cụ thể nên không có âm dương để xét, vì vậy luôn nhập trung và bay thuận theo đường Lạc Thư. Sơn bàn và hướng bàn lấy số ở cung tọa và cung hướng, gắn với sơn cụ thể, nên phải xét âm dương của tam nguyên long của sơn đó: dương thì bay thuận, âm thì bay nghịch.

Nhà kiêm hướng quá ba độ thì lập tinh bàn thế nào?

Bảng tinh bàn chỉ đúng cho nhà chính hướng, tức tọa hướng nằm gọn trong một sơn, còn gọi là hạ quái. Khi nhà kiêm quá ba độ, nghĩa là tọa hoặc hướng lấn sang sơn bên cạnh, nhiều sách dùng thế quái thay vì dùng trực tiếp sơn gốc. Cách xử lý nhà kiêm không thống nhất giữa các sách, nên cần tra đúng quy ước của sách mình theo trước khi luận.

Bài này thuộc chủ đề Phong thuỷ. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Phong thuỷ.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Flying Star Feng Shui - Wikipedia
  2. Luoshu Square - Wikipedia
  3. Thẩm Trúc Nhưng, Trạch vận tân án (Lê Việt Anh biên dịch)
#HuyềnKhôngPhiTinh#TinhBànPhongThủy#LạcThư#24Sơn#TamNguyênLong#Vận9#SơnTinh#HướngTinh