Tri thức / Việt Nam

Nhân vật lịch sử

Lý Bí khởi nghĩa và lập nước Vạn Xuân năm 544 như thế nào?

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Lý Bí khởi nghĩa và lập nước Vạn Xuân năm 544 như thế nào?

TL;DR: Lý Bí, còn gọi Lý Bôn, dấy binh chống chính quyền đô hộ nhà Lương rồi giành quyền kiểm soát Giao Châu. Năm 544, ông lên ngôi Hoàng đế, đặt quốc hiệu Vạn Xuân, niên hiệu Thiên Đức, lập trăm quan, đóng đô ở Long Biên theo Đại Việt sử ký toàn thư. Đây là lần đầu tiên sau nhiều thế kỷ Bắc thuộc, người Việt lập một nhà nước tự chủ với danh hiệu đế vương, mở đầu thời kỳ Tiền Lý.

Lý Bí là ai và vì sao ông nổi dậy?

Lý Bí, sử cũ còn ghi là Lý Bôn, sống vào đầu thế kỷ 6. Đại Việt sử ký toàn thư (bản dịch của Mạc Bảo Thần, tức Nhượng Tống, 1945) chép ông là người hạt Thái Bình thuộc Long Hưng, dòng dõi hào trưởng, có tài văn võ, ban đầu làm quan với nhà Lương rồi bỏ về[2]. Quê ông được ghi khác nhau: lời chú trong Việt Nam sử lược dẫn Khâm định Việt sử cho rằng huyện Thái Bình ấy thuộc Phong Châu xưa, không phải tỉnh Thái Bình cũ[3]; báo Nhân Dân ghi ông sinh ở Phổ Yên cũ, nay thuộc tỉnh Thái Nguyên, từng giữ chức Giám quân ở Đức Châu rồi bỏ quan về quê chiêu mộ lực lượng[1].

Bối cảnh quan trọng hơn cả là chính sách cai trị của nhà Lương ở Giao Châu. Từ đầu thế kỷ 6, các thứ sử nhà Lương như Tiêu Tư nổi tiếng tham bạo, vơ vét của dân, khiến các hào trưởng bản địa và dân chúng đều bất mãn. Sự cai trị hà khắc ấy là mảnh đất màu mỡ cho một cuộc nổi dậy quy mô, và Lý Bí là người tập hợp được các lực lượng ấy.

Lý Bí khởi nghĩa và đánh đuổi quân Lương như thế nào?

Đại Việt sử ký toàn thư chép Lý Bí dấy binh năm Tân Dậu (541), sau khi liên kết với hào kiệt mấy châu; Thứ sử Tiêu Tư chạy về Quảng Châu, ông vào chiếm thành Long Biên[2]. Có tài liệu ghi cuộc khởi nghĩa nổ ra mùa xuân năm 542[4]. Trong vòng hai năm, nghĩa quân giành được nhiều thắng lợi, đánh bại bộ máy cai trị của nhà Lương ở Giao Châu. Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại diễn biến ở giai đoạn này: mùa hè năm Quý Hợi (543), quân Lâm Ấp sang cướp quận Nhật Nam, Lý Bí sai tướng Phạm Tu đánh phá được ở Cửu Đức[2]. Đây là chi tiết cho thấy chính quyền do Lý Bí lãnh đạo đã đủ mạnh để tự tổ chức phòng thủ ở phía nam, không chỉ đối phó với phương Bắc.

Sang năm Giáp Tý (544), sau khi đã làm chủ tình hình, Lý Bí lên ngôi Hoàng đế, xưng là Nam Việt đế, đặt quốc hiệu Vạn Xuân, niên hiệu Thiên Đức[2]. Sử cũ chép rằng tên nước Vạn Xuân mang ý mong xã tắc vững bền đến muôn đời. Ông cho xây đền Vạn Thọ làm nơi triều hội, đặt trăm quan, phong Triệu Túc làm Thái phó, Tinh Thiều làm tướng văn, Phạm Tu làm tướng võ[2].

Vì sao việc lên ngôi Hoàng đế lại quan trọng?

Việc Lý Bí xưng đế, chứ không chỉ xưng vương hay thủ lĩnh, có ý nghĩa chính trị sâu sắc. Trong hệ thống chính trị phương Đông thời ấy, danh hiệu Hoàng đế là cấp bậc cao nhất, chỉ dành cho người đứng đầu một thiên hạ, không phải chức quan do triều đình phương Bắc ban cho. Việc xưng đế là một tuyên bố chủ quyền: vùng đất Giao Châu không còn là một quận huyện của nhà Lương nữa, mà là một quốc gia độc lập với người đứng đầu có danh vị ngang hàng.

Các nhà sử học Việt Nam về sau nhấn mạnh Lý Nam Đế là vị Hoàng đế đầu tiên của dân tộc. Tại hội thảo về tôn tạo Đền thờ Lý Nam Đế ở Phú Thọ năm 2022, các nhà nghiên cứu đã khẳng định công lao to lớn của ông trong lịch sử dân tộc, đồng thời đề nghị công nhận Đền thờ Lý Nam Đế tại xã Vạn Xuân là di tích lịch sử cấp quốc gia[1].

Nước Vạn Xuân năm 544 được tổ chức ra sao?

Các ghi chép sử liệu cho thấy nước Vạn Xuân bước đầu xây dựng một bộ máy chính quyền với các chức quan. Sử chép việc Lý Nam Đế phong Triệu Túc làm Thái phó, Tinh Thiều làm tướng văn, Phạm Tu làm tướng võ, cho thấy sự phân chia giữa văn và võ, giữa chức phụ tá cao cấp và các tướng lĩnh[2].

Tuy nhiên, phạm vi kiểm soát thực tế của nước Vạn Xuân không hoàn toàn rõ ràng. Các nguồn sử liệu chủ yếu tập trung vào vùng Giao Châu, tức khu vực đồng bằng Bắc Bộ và một phần trung du, chứ không mô tả đầy đủ các vùng xa. Điều này phản ánh thực tế của một nhà nước non trẻ vừa thoát khỏi ách đô hộ, chưa thể củng cố quyền lực trên toàn bộ lãnh thổ rộng lớn.

Phương diệnNội dung chính
Thời gian lên ngôiNăm 544, niên hiệu Thiên Đức
Quốc hiệuVạn Xuân
Danh hiệuNam Việt đế (Lý Nam Đế)
Bộ máyĐặt trăm quan, có Thái phó, tướng văn, tướng võ
Kinh đôLong Biên theo Đại Việt sử ký toàn thư; có nguồn ghi Ô Diên (nay thuộc Hà Nội)
Ý nghĩa tên nướcMong xã tắc vững bền đến muôn đời

Kinh đô và trung tâm quyền lực ở đâu?

Các nguồn ghi không giống nhau. Đại Việt sử ký toàn thư chép Lý Nam Đế đóng đô ở Long Biên và xây đền Vạn Thọ làm nơi triều hội; cửa sông Tô Lịch trong sách này là nơi quân ông thua trận năm 545[2]. Báo Nhân Dân ghi ông đóng đô ở Ô Diên, nay thuộc Hà Nội[1]. Theo cách ghi nào thì trung tâm của nước Vạn Xuân cũng nằm ở vùng châu thổ sông Hồng, nơi đã là trung tâm chính trị từ thời Bắc thuộc.

Nhà Lương phản công ra sao và nước Vạn Xuân tồn tại tới khi nào?

Sau khi mất quyền kiểm soát Giao Châu, nhà Lương không chấp nhận để yên. Năm Ất Sửu (545), vua Lương sai Dương Phiêu làm Thứ sử Giao Châu, Trần Bá Tiên làm Tư mã, đem quân sang đánh[2]. Đây là cuộc phản công quy mô lớn nhằm khôi phục ách đô hộ.

Trần Bá Tiên, vị tướng về sau trở thành người sáng lập nhà Trần ở Trung Quốc, là đối thủ đáng gờm. Sử chép Lý Nam Đế thua phải bỏ thành Long Biên, chạy về giữ thành Gia Ninh (vùng Yên Lãng, Phúc Yên cũ), rồi tiếp tục chạy về thành Tân Xương (vùng Phong Châu cũ, Vĩnh Yên cũ)[3]. Sau trận thua ở hồ Điển Triệt, ông lui về động Khuất Liêu, giao binh quyền cho Triệu Quang Phục rồi mất năm 548. Triệu Quang Phục giữ đầm Dạ Trạch, về sau đánh lui quân Lương, lấy lại Long Biên và xưng Việt Vương; tới năm 602 Hậu Lý Nam Đế Lý Phật Tử mới hàng nhà Tùy[3].

Các nguồn sử liệu ghi khác nhau ở điểm nào?

Về gốc gác, hai bộ sử chép giống nhau. Đại Việt sử ký toàn thư chép tổ tiên Lý Bí là người phương Bắc, cuối đời Tây Hán lánh loạn sang ở nước Nam, qua bảy đời thành người Nam, và ông thuộc dòng hào trưởng[2]. Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim (1920) cũng chép tổ tiên ông đời Tây Hán tránh loạn sang Giao Châu, tới ông là bảy đời, thành người bản xứ[3].

Chỗ các nguồn khác nhau là quê quán, năm khởi nghĩa (541 hay 542) và nơi đóng đô, như đã nêu ở các mục trên. Những chỗ khác ấy không làm đổi vai trò lịch sử của Lý Bí như người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa giành tự chủ: sau bảy đời, sử cũ đã coi dòng họ ông là người Nam.

Dấu tích về Lý Nam Đế và hoàng hậu Đỗ Thị Khương còn lại gì?

Ngày nay, dấu tích về Lý Nam Đế và nước Vạn Xuân còn được lưu giữ ở nhiều địa phương. Tại xã Vạn Xuân, tỉnh Hưng Yên, Miếu Hai Thôn là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, được xếp hạng năm 1986, thờ Lý Nam Đế, Hoàng hậu Đỗ Thị Khương cùng các tướng lĩnh thời Tiền Lý[4].

Theo truyền thuyết địa phương, trong thời gian xây dựng căn cứ ở An Để, Lý Bí gặp Đỗ Thị Khương, người con gái quê nổi tiếng thông minh, xinh đẹp và đảm đang. Sau khi kết duyên, bà ở lại quê nhà phụng dưỡng cha mẹ, đồng thời vận động người dân sản xuất, tích trữ lương thực, góp sức chuẩn bị hậu cần cho nghĩa quân[4]. Đây là truyền thuyết dân gian, phản ánh sự ghi nhớ của cộng đồng về vai trò của người phụ nữ trong hậu phương kháng chiến.

Các địa phương cũng có những ngày giỗ khác nhau cho Lý Nam Đế. Tại Hoài Đức (Hà Nội), ngày giỗ là 2/5 âm lịch, ở Tam Nông (Phú Thọ) là ngày 20/3 âm lịch, có nơi giỗ vào ngày 10/3 âm lịch[1]. Việc thống nhất ngày giỗ vẫn là vấn đề được đặt ra tại các hội thảo về di tích Lý Nam Đế.

Vì sao nước Vạn Xuân có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử Việt Nam?

Nước Vạn Xuân tồn tại chưa đầy sáu mươi năm, nhưng đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử dân tộc. Đây là lần đầu tiên sau nhiều thế kỷ Bắc thuộc, người Việt thiết lập một nhà nước tự chủ với danh hiệu Hoàng đế, quốc hiệu riêng và bộ máy chính quyền. Việc Lý Bí xưng đế, đặt niên hiệu, xây đền triều hội cho thấy khát vọng xây dựng một quốc gia độc lập, trường tồn, chứ không chỉ là một cuộc nổi dậy đơn thuần.

Tên nước Vạn Xuân, với ý nghĩa mong xã tắc vững bền đến muôn đời, cũng thể hiện tầm nhìn của người lãnh đạo. Dù nhà nước non trẻ sau đó phải đối mặt với cuộc phản công của nhà Lương và tới năm 602 thì mất về tay nhà Tùy, nó đã đặt nền móng cho ý thức tự chủ, tự cường của người Việt trong các thế kỷ tiếp theo.

Các nhà nghiên cứu hiện đại nhìn nhận Lý Nam Đế là vị Hoàng đế đầu tiên của dân tộc Việt Nam, người đã mở đầu thời kỳ Tiền Lý trong lịch sử. Công lao của ông và các tướng sĩ thời Tiền Lý tiếp tục được ghi nhớ qua các di tích, đền thờ và lễ hội ở nhiều địa phương trên cả nước.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Lý Bí lên ngôi và lập nước Vạn Xuân vào năm nào?

Năm 544, sau khi đánh đuổi được bộ máy cai trị của nhà Lương ở Giao Châu, Lý Bí lên ngôi Hoàng đế, xưng là Nam Việt đế, đặt quốc hiệu Vạn Xuân và niên hiệu Thiên Đức.

Vì sao Lý Bí đặt tên nước là Vạn Xuân?

Theo sử cũ, tên nước Vạn Xuân mang ý mong xã tắc vững bền đến muôn đời, thể hiện khát vọng về một quốc gia độc lập và trường tồn của người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa.

Nước Vạn Xuân tồn tại được bao lâu và mất về tay ai?

Theo Việt Nam sử lược, nhà Tiền Lý kéo dài từ năm 544 tới năm 602. Năm 545, nhà Lương sai Dương Phiêu và Trần Bá Tiên đem quân sang đánh; Lý Nam Đế thua, rút khỏi Long Biên về Gia Ninh rồi Tân Xương, giao binh quyền cho Triệu Quang Phục và mất năm 548. Triệu Quang Phục đánh lui quân Lương, xưng Việt Vương; tới năm 602 Hậu Lý Nam Đế hàng nhà Tùy.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdBáo Nhân Dân: Tôn tạo, phát huy giá trị văn hóa, lịch sử Đền thờ Lý Nam Đế, Đoạn về hội thảo tại huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, ngày 31/3/2022Đền thờ Lý Nam Đế tại xã Vạn Xuân, huyện Tam Nông hiện mới chỉ là di tích lịch sử cấp tỉnh
  2. ↑ abcdefghiNgô Sĩ Liên và Mạc Bảo Thần (dịch) (1945). Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch Mạc Bảo Thần (Nhượng Tống), Tân Việt 1945, Trang 23, ghi chép về năm Giáp Tý (544) và năm Ất Sửu (545)Giáp-Tý, năm đầu hiệu Thiên-Đức, — năm thứ 10 hiệu Đ.Đ. bên Lương (544), — mùa Xuân, tháng giêng, nhà vua nhân đánh được quân giặc, tự xưng là Nam-Việt-đế
  3. ↑ abcdTrần Trọng Kim (1920). Việt Nam sử lược, Trang 10, ghi chép về Lý Bôn và nước Vạn XuânLý Bôn có người gọi là Lý Bí, vốn dòng-dõi người Tàu. Tổ-tiên ở đời Tây-Hán phải tránh loạn chạy sang Giao-châu, đến lúc bấy giờ đã là bảy đời, thành ra người bản-xứ.
  4. ↑ abcTTXVN/VietnamPlus: Miếu Hai Thôn - nơi lưu dấu vị vua mở nước Vạn Xuân, Phần về mối duyên giữa Lý Bí và Đỗ Thị Khương, và thông tin về Miếu Hai ThônMiếu Hai Thôn là nơi thờ vua Lý Nam Đế và hoàng hậu Đỗ Thị Khương nằm tại xã Vạn Xuân Hòa, tỉnh Hưng Yên
#LýBí#LýNamĐế#NướcVạnXuân#KhởiNghĩaLýBí#NhàTiềnLý#LịchSửViệtNam#ThờiBắcThuộc