Tri thức / Việt Nam

Nhân vật lịch sử

Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn mười hai sứ quân và lập nước Đại Cồ Việt: diễn biến, ý nghĩa và các lớp truyền thuyết

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn mười hai sứ quân và lập nước Đại Cồ Việt: diễn biến, ý nghĩa và các lớp truyền thuyết

TL;DR: Sau khi nhà Ngô suy yếu, mười hai thế lực cát cứ (mười hai sứ quân) chia nhau chiếm giữ các vùng, khiến đất nước không có người cầm đầu. Đinh Bộ Lĩnh, người động Hoa Lư, nương vào Trần Lãm rồi tự gây dựng lực lượng, lần lượt dẹp các sứ quân, thống nhất giang sơn và lên ngôi hoàng đế năm 968, đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Sự kiện này lập lại một chính quyền trung ương sau hơn hai mươi năm cát cứ, dù các nguồn sử liệu còn chép khác nhau về chi tiết và còn pha trộn nhiều lớp truyền thuyết.

Bối cảnh lịch sử trước khi mười hai sứ quân nổi lên

Sau khi Ngô Quyền mất năm 944, chính quyền trung ương do nhà Ngô để lại dần tan rã. Các nguồn sử liệu cho thấy tình hình nội bộ nhà Ngô không ổn định, các thế lực địa phương nhân đó nổi lên cát cứ. Sách Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim ghi nhận: sau khi nhà Ngô suy yếu, trong nước không có người cầm đầu, mười hai sứ quân thi nhau đánh lẫn nhau khiến dân gian khổ sở[2]. Đại Việt sử ký toàn thư cũng chép rõ tình trạng "trong nước không chủ, mười hai sứ quân thi sức, không ai coi được ai"[1].

Cần lưu ý một điểm về nguồn tư liệu. Các bộ sử như Đại Việt sử ký toàn thư, Việt Nam sử lược, Đại Nam quốc sử diễn ca đều là văn bản gốc hoặc văn bản sử liệu, không phải công trình nghiên cứu hiện đại. Chúng chứng minh rằng người xưa đã ghi chép như vậy, chứ không đương nhiên chứng minh mọi chi tiết trong đó là sự thật lịch sử đã được kiểm chứng. Đây là cách phân tầng cần thiết khi đọc sử liệu cổ.

Mười hai sứ quân là những ai?

Các bộ sử chép danh sách mười hai sứ quân trùng nhau về nhân vật, chỉ khác thứ tự và vài chữ trong tên hiệu, tên đất. Đại Việt sử ký toàn thư liệt kê: Ngô Xương Xí giữ Bình Kiều, Kiểu Công Hãn xưng Kiểu Tam Chế giữ Phong Châu, Nguyễn Khoan xưng Nguyễn Thái Bình giữ Tam Đái, Ngô Nhật Khánh xưng Ngô Lãm Công giữ Đường Lâm, Đỗ Cảnh Thạc xưng Đỗ Cảnh Công giữ sông Đỗ Động, Lý Khuê xưng Lý Lãng Công giữ Siêu Loại, Nguyễn Thủ Tiệp xưng Nguyễn Lệnh Công giữ Tiên Du, Lã Đường xưng Lã Tá Công giữ Tế Giang, Nguyễn Siêu xưng Nguyễn Hữu Công giữ Tây Phù Liệt, Kiểu Thuận xưng Kiểu Lệnh Công giữ Hồi Hồ, Phạm Bạch Hổ xưng Phạm Phòng Át giữ Đằng Châu, Trần Lãm xưng Trần Minh Công giữ cửa biển Bố Hải[1].

Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim chép đủ mười hai người ấy, kèm lời chú địa danh thời đầu thế kỷ 20, như Kiểu Thuận giữ Hồi Hồ (Cẩm Khê, Sơn Tây) và Phạm Bạch Hổ giữ Đằng Châu (Hưng Yên); sách viết Lữ Đường, Lý Lang Công, Nguyễn Lịnh Công ở chỗ bản dịch Toàn thư viết Lã Đường, Lý Lãng Công, Nguyễn Lệnh Công[2]. Đại Nam quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái kể đủ mười hai sứ quân bằng thơ lục bát: Nguyễn Thủ Tiệp, Ngô Nhật Khánh, Nguyễn Siêu, Ngô Xương Xí, Lữ Đường, Nguyễn Khoan, Phạm Phòng Át, Kiều Tam Chế, Đỗ Cảnh Công, Kiều Thuận, Lý Khuê, Trần Lãm[3].

Nhân vậtTên hiệuĐịa bàn cát cứ (theo sử cũ)
Ngô Xương XíSử không chép tên hiệuBình Kiều
Đỗ Cảnh ThạcĐỗ Cảnh CôngSông Đỗ Động
Lý KhuêLý Lãng CôngSiêu Loại
Nguyễn Thủ TiệpNguyễn Lệnh CôngTiên Du
Lã ĐườngLã Tá CôngTế Giang
Nguyễn SiêuNguyễn Hữu CôngTây Phù Liệt
Kiểu ThuậnKiểu Lệnh CôngHồi Hồ
Phạm Bạch HổPhạm Phòng ÁtĐằng Châu
Trần LãmTrần Minh CôngCửa biển Bố Hải
Ngô Nhật KhánhNgô Lãm CôngĐường Lâm
Nguyễn KhoanNguyễn Thái BìnhTam Đái
Kiểu Công HãnKiểu Tam ChếPhong Châu

Bảng trên theo cách ghi của Đại Việt sử ký toàn thư[1]. Tên địa danh ở đây là tên chép trong sử, không phải địa danh hành chính hiện hành. Một số địa danh như Hồi Hồ, Đằng Châu, Bố Hải nay không còn dùng trong hệ thống hành chính, nên bài viết giữ nguyên tên trong nguồn kèm ghi chú khi cần.

Đinh Bộ Lĩnh là ai và xuất thân của ông được sử chép thế nào?

Đinh Bộ Lĩnh là người động Hoa Lư, phủ Đại Hoàng (nay thuộc tỉnh Ninh Bình). Việt Nam sử lược chép ông là con của Đinh Công Trứ, người giữ chức thứ sử Hoan Châu dưới thời Dương Diên Nghệ và Ngô Vương Quyền; sau khi Đinh Công Trứ qua đời sớm, Bộ Lĩnh cùng mẹ trở về quê, thường tụ tập với lũ trẻ chăn trâu bò, bắt chúng khoanh tay làm kiệu rước mình, lại dùng bông lau làm cờ để bày trận đánh nhau[2].

Đại Việt sử ký toàn thư chép: lúc bấy giờ, Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư ỷ vào thế núi khe hiểm trở, không chịu giữ phận bề tôi. Hai vương nhà Ngô định đem quân hỏi tội, Bộ Lĩnh lo sợ bèn sai con là Liễn vào làm con tin hòng tránh bị đánh. Khi Liễn bị bắt và bị treo lên ngọn cần để ép Bộ Lĩnh đầu hàng, Bộ Lĩnh tức giận nói rằng đại trượng phu lấy công danh làm trọng, thẹn với chính mình, lẽ nào lại bắt chước thói thương con của đàn bà, đoạn sai hơn mười tay nỏ cùng nhắm vào Liễn mà bắn. Hai vương kinh ngạc, không giết Liễn mà rút quân về[1].

Chi tiết này cho thấy Đinh Bộ Lĩnh xuất hiện trong sử với tư cách một thế lực địa phương đã có uy tín và binh lực, chứ không phải một người khởi nghiệp từ tay trắng.

Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn mười hai sứ quân diễn ra thế nào?

Đinh Bộ Lĩnh trước hết nương vào Trần Lãm. Đại Việt sử ký toàn thư chép: lúc ấy trong nước không có chủ, mười hai sứ quân tranh sức với nhau, không ai phục ai; Đinh Bộ Lĩnh nghe Trần Minh Công có đức độ mà không có con, bèn cùng con là Liễn sang nương tựa. Trần Minh Công thấy ông mặt mũi khôi ngô, lại có độ lượng, bèn nhận làm con và giao cho cầm quân, đem đi đánh các tay anh hùng, đều hạ được hết. Phạm Phòng Át đem binh về hàng[1].

Việt Nam sử lược cũng chép: Trần Minh Công thấy Đinh Bộ Lĩnh là người có tướng mạo khôi ngô và chí khí hơn người, nên sinh lòng quý mến, trao cho quyền chỉ huy quân đội. Sau khi Trần Minh Công qua đời, Đinh Bộ Lĩnh đưa quân về Hoa Lư, chiêu tập hào kiệt, xây dựng thế lực riêng[2].

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, sau khi Trần Minh Công qua đời, hơn năm trăm con em của Ngô Tiên chúa ở sông Đỗ Động kéo quân tới đánh, nhưng bị một người làng là Ngô Phó sứ đánh bại. Nhận được tin, Bộ Lĩnh mang quân đi đánh các bộ lạc ở sông và ở động, tất cả đều đầu hàng. Từ đó quan dân ở kinh thành và các phủ đều quy phục[1].

Đại Nam quốc sử diễn ca tóm lược quá trình này bằng mấy câu thơ: một mai về với Trần công, hiệu xưng Vạn Thắng, anh hùng ai qua; bốn phương thu lại một nhà, mười hai sứ tướng đều là quét thanh[3]. Sử cũ không ghi đầy đủ trình tự và thời điểm từng trận đánh dẹp từng sứ quân, nên các bảng liệt kê chi tiết theo trình tự thường là suy đoán hoặc dựa vào truyền thuyết địa phương, không phải chép nguyên từ chính sử.

Vì sao Đinh Bộ Lĩnh dẹp được loạn và thống nhất đất nước?

Có thể rút ra mấy yếu tố từ chính các nguồn sử. Thứ nhất, Đinh Bộ Lĩnh kế thừa lực lượng và uy tín của Trần Lãm ở vùng Bố Hải, một trong những thế lực mạnh thời ấy. Thứ hai, ông chọn Hoa Lư làm căn cứ, nơi có địa thế núi khe hiểm trở, thuận cho phòng thủ và tập hợp lực lượng. Thứ ba, sử chép ông biết chiêu mộ hào kiệt và khiến nhiều thế lực quy phục, trong đó có việc Phạm Phòng Át đem binh về hàng. Thứ tư, việc các sứ quân đánh lẫn nhau khiến dân chúng mệt mỏi, tạo điều kiện cho một thế lực đủ mạnh đứng ra thống nhất.

Cần nói rõ đây là cách tổng hợp và lý giải từ sử liệu, không phải một khẳng định đã được nghiên cứu hiện đại kiểm chứng đầy đủ. Các bộ sử cũ chép sự kiện, còn việc phân tích nguyên nhân thành công của Đinh Bộ Lĩnh là phần diễn giải thêm.

Nước Đại Cồ Việt ra đời năm 968 và được tổ chức thế nào?

Sau khi dẹp loạn, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Việt Nam sử lược chép năm Mậu Thìn (968) Vạn Thắng Vương lên ngôi Hoàng đế, tức Tiên Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, và năm Canh Ngọ (970) đặt niên hiệu Thái Bình[2]. Đại Nam quốc sử diễn ca diễn lại: dựng đô thành ở Trường Yên, đổi niên hiệu là Thái Bình, lên ngôi hoàng đế và đặt trăm quan, có đường bệ, y quan, đẳng uy và giai ban[3].

Về đối ngoại, Việt Nam sử lược chép năm Nhâm Thân (972) Tiên Hoàng sai Nam Việt Vương Liễn sang nhà Tống, vua Tống phong Tiên Hoàng làm Giao Chỉ quận vương và phong Liễn làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, An Nam đô hộ[2]; diễn ca gói lại thành câu "Cha con đều chịu sủng chương một ngày"[3]. Việc nhà Tống phong tước cho vua Đinh là một dữ kiện lịch sử quan trọng, cho thấy nhà Đinh đã thiết lập quan hệ ngoại giao với triều đình phương Bắc, đồng thời khẳng định vị thế của một chính quyền tự chủ.

Đại Nam quốc sử diễn ca cũng có câu nhận xét về vua Đinh: tiếc không học vấn công phu. Đây là lời bình của người làm sử, không phải một đánh giá khách quan đã được kiểm chứng. Nó phản ánh cách nhìn của giới nho sĩ thời Nguyễn về một vị vua võ tướng.

Những lớp truyền thuyết quanh Đinh Bộ Lĩnh cần đọc thế nào?

Bên cạnh sử liệu, còn một tầng truyền thuyết khá dày quanh Đinh Bộ Lĩnh. Nam Hải dị nhân liệt truyện của Phan Kế Bính chép: tương truyền ở động Hoa Lư xưa có một con rái cá rất lớn, vợ ông Công Trứ một hôm tắm dưới suối bị rái cá giao cấu, về nhà mang thai; khi rái cá bị người bắt ăn thịt, xương quẳng ra đường cái, bà nhặt về gác trên gác bếp; về sau sinh ra Đinh Tiên Hoàng[4].

Cùng sách chép chuyện một thầy địa lý Tàu sang nước ta xem đất, cho rằng ở dòng sông nơi Hoa Lư tất có huyệt đế vương, bèn thuê trẻ thử lặn xuống xem[4]. Đây là những truyền thuyết dân gian được ghi lại trong một cuốn sách in năm 1909, không phải sự kiện lịch sử đã được kiểm chứng. Chúng phản ánh cách người xưa lý giải vì sao một người xuất thân bình thường lại có thể lên ngôi hoàng đế, bằng cách gắn cho ông một xuất thân kỳ lạ và một huyệt đất thiêng.

Khi đọc các lớp truyền thuyết này, nên phân biệt rõ: sử liệu chép Đinh Bộ Lĩnh là con Đinh Công Trứ, theo mẹ về quê, nương nhờ Trần Lãm; còn truyền thuyết kể chuyện rái cá và huyệt đế vương là sản phẩm của trí tưởng tượng dân gian, không có giá trị như tư liệu lịch sử.

Ý nghĩa của sự kiện dẹp loạn mười hai sứ quân

Việc Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn mười hai sứ quân và lập nước Đại Cồ Việt được sử cũ coi là mốc mở đầu dòng chính thống: Đại Việt sử ký toàn thư xếp các đời từ họ Ngô trở về trước vào Ngoại kỷ và mở Bản kỷ từ nhà Đinh[1], còn Việt Nam sử lược tính thời tự chủ từ nhà Ngô (939)[2]. Trong Đại Nam quốc sử diễn ca có câu: "Hồng Bàng để mối đến nay, Kể trong chính thống từ đây là đầu"[3]. Đây là cách nhìn của người làm sử thế kỷ 19, coi nhà Đinh là triều đại chính thống đầu tiên.

Về mặt chính trị, sự kiện này chấm dứt tình trạng phân tán cát cứ, lập lại chính quyền trung ương với một hoàng đế, một quốc hiệu, một kinh đô. Về mặt lịch sử lâu dài, nó đặt nền móng cho các triều đại tiếp theo như Tiền Lê, Lý, Trần trong việc xây dựng và bảo vệ nền độc lập.

Tuy vậy, cần tránh hai cách cực đoan. Một là thần thánh hóa Đinh Bộ Lĩnh thành một nhân vật siêu nhiên, bỏ qua bối cảnh lịch sử và các yếu tố chính trị, quân sự cụ thể. Hai là phủ nhận hoàn toàn giá trị của sự kiện, cho rằng đây chỉ là một cuộc tranh giành quyền lực giữa các thế lực địa phương. Sử liệu cho thấy đây là quá trình thống nhất đất nước có ý nghĩa với đời sống dân chúng, vì tình trạng các sứ quân đánh lẫn nhau đã khiến dân gian khổ sở.

Các nguồn sử liệu chép khác nhau ở điểm nào?

NguồnLoạiĐiểm mạnhĐiểm cần lưu ý
Đại Việt sử ký toàn thưChính sử, văn bản gốcChép chi tiết sự kiện, có lời bình của sử thầnLà sử liệu cổ, không phải nghiên cứu hiện đại
Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim)Sử liệu, văn bản gốcHệ thống, dễ đọc, có ghi quốc hiệu Đại Cồ ViệtViết đầu thế kỷ 20, chịu ảnh hưởng quan điểm thời đại
Đại Nam quốc sử diễn ca (Lê Ngô Cát)Diễn ca lịch sửDễ nhớ, có giá trị văn họcLà thơ, không phải sử biên niên
Nam Hải dị nhân liệt truyện (Phan Kế Bính)Truyền thuyết, dã sửLưu giữ truyền thuyết dân gianKhông phải sử liệu chính thống

Bảng này cho thấy không nên đọc các nguồn như nhau. Đại Việt sử ký toàn thư và Việt Nam sử lược là sử liệu chép sự kiện; Đại Nam quốc sử diễn ca là thơ kể sử; Nam Hải dị nhân liệt truyện là tập truyền thuyết. Khi có chi tiết khác nhau giữa các nguồn, cần ghi rõ nguồn nào nói gì thay vì lặng lẽ chọn một bên.

Những điểm còn chưa thống nhất giữa các nguồn

Một là cách ghi mười hai sứ quân. Ba sách chép cùng mười hai người, chỉ khác thứ tự và cách viết: bản dịch Toàn thư viết Kiểu Công Hãn, Lã Đường, Tam Đái, diễn ca viết Kiều Tam Chế, Lữ Đường, Vĩnh Tường. Điểm khác đáng kể hơn là thời điểm: Toàn thư chép cả mười hai sứ quân dưới năm 966, sau khi Nam Tấn Vương mất, còn Việt Nam sử lược tính loạn sứ quân từ 945 tới 967, và lời chú trong bản dịch Toàn thư dẫn Khâm định Việt sử cho rằng các sứ quân nổi lên kẻ trước người sau[1][2].

Hai là niên đại. Sử chép nhà Đinh bắt đầu từ năm 968, nhưng thời điểm Đinh Bộ Lĩnh bắt đầu dẹp loạn và hoàn thành việc thống nhất không được ghi rõ ràng, thống nhất trong mọi nguồn. Các con số như 967 hay 968 là mốc thường được nhắc, nhưng cần đọc như mốc do sử cũ ghi, không phải mốc đã được xác định chắc chắn bằng nghiên cứu hiện đại.

Ba là mức độ pha trộn truyền thuyết. Một số chi tiết như chuyện rái cá, chuyện huyệt đế vương chỉ có trong dã sử và truyền thuyết, không có trong chính sử. Người đọc nên phân biệt hai tầng này khi tìm hiểu về Đinh Bộ Lĩnh.

Gợi ý của Nhật Nguyệt khi tìm hiểu về sự kiện này

Khi tra cứu về Đinh Bộ Lĩnh và loạn mười hai sứ quân, nên đọc ít nhất hai nguồn: một bộ chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư để nắm sự kiện, và một bộ sử tổng hợp như Việt Nam sử lược để có cái nhìn hệ thống. Với các chi tiết về xuất thân kỳ lạ hay huyệt đất, nên xếp vào tầng truyền thuyết và ghi rõ nguồn là dã sử. Với các con số năm tháng, nên ghi kèm nguồn và mốc thời gian, tránh viết như thể mọi con số đều đã được xác định chắc chắn.

Việc tìm hiểu một nhân vật lịch sử như Đinh Bộ Lĩnh không chỉ là ghi nhớ sự kiện, mà còn là học cách phân biệt các loại nguồn: chính sử, dã sử, truyền thuyết, và nghiên cứu hiện đại. Mỗi loại nguồn có giá trị riêng và giới hạn riêng.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn mười hai sứ quân vào năm nào?

Sử cũ thường lấy năm 968 làm mốc Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt, sau khi đã dẹp xong loạn mười hai sứ quân. Tuy nhiên, thời điểm bắt đầu và hoàn thành việc dẹp loạn không được các nguồn ghi thống nhất, nên các con số cụ thể cần đọc kèm nguồn.

Mười hai sứ quân gồm những ai?

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, mười hai sứ quân gồm Ngô Xương Xí, Kiểu Công Hãn (xưng Kiểu Tam Chế), Nguyễn Khoan, Ngô Nhật Khánh, Đỗ Cảnh Thạc, Lý Khuê, Nguyễn Thủ Tiệp, Lã Đường, Nguyễn Siêu, Kiểu Thuận, Phạm Bạch Hổ, Trần Lãm. Mỗi người chiếm giữ một vùng và tự xưng tước hiệu riêng.

Vì sao Đinh Bộ Lĩnh lập quốc hiệu là Đại Cồ Việt?

Sử cũ chỉ chép rằng sau khi dẹp loạn, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế và đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, chứ không giải thích rõ vì sao chọn hai chữ ấy. Các cách lý giải về ý nghĩa hai chữ Đại Cồ phần nhiều là suy đoán của người đời sau, không phải chép nguyên từ chính sử.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefghNgô Sĩ Liên và Mạc Bảo Thần (dịch) (1945). Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch Mạc Bảo Thần (Nhượng Tống), Tân Việt 1945
  2. ↑ abcdefghTrần Trọng Kim (1920). Việt Nam sử lược
  3. ↑ abcdeLê Ngô Cát và cộng sự (1870). Đại Nam quốc sử diễn ca
  4. ↑ abPhan Kế Bính và Lê Văn Phúc (hiệu đính) (1909). Nam Hải dị nhân liệt truyện
#ĐinhBộLĩnh#MườiHaiSứQuân#ĐạiCồViệt#NhàĐinh#HoaLư#LịchSửViệtNam#LoạnMườiHaiSứQuân