Tri thức / Việt Nam

Nhân vật lịch sử

Triệu Quang Phục và đầm Dạ Trạch trong sử cũ ghi thế nào?

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Triệu Quang Phục và đầm Dạ Trạch trong sử cũ ghi thế nào?

TL;DR: Triệu Quang Phục là con Thái phó Triệu Túc người huyện Chu Diên, theo Lý Nam Đế đánh dẹp và được phong Tả tướng quân, sau khi Lý Nam Đế mất thì xưng vương, tức Triệu Việt Vương. Ông lui về đầm Dạ Trạch, nơi cỏ cây rậm rạp, ban ngày ẩn kín khói lửa, ban đêm dùng thuyền độc mộc ra đánh trại Trần Bá Tiên, nên đương thời gọi là Dạ Trạch Vương. Sử cũ chép khác nhau về mức độ đầy đủ của truyện này, vì Đại Việt sử ký toàn thư cho biết phần lớn tư liệu về Triệu Việt Vương và Đào Lang Vương phải nhặt từ dã sử và sách khác để bù vào.

Triệu Quang Phục là ai và đầm Dạ Trạch nằm ở đâu?

Triệu Quang Phục là con quan Thái phó Triệu Túc, người huyện Chu Diên, theo cha giúp Lý Nam Đế lập công, được phong làm Tả tướng quân[1]. Đầm Dạ Trạch nằm ở hạt Chu Diên, là vùng chầm lầy quanh co, cỏ cây bùm tum, bờ bụi chằng chịt, bên trong có nền đất cao có thể ở được. Đây là căn cứ then chốt trong giai đoạn kháng Lương của ông.

Bối cảnh lịch sử thời Lý Nam Đế

Năm 544, Lý Bí lên ngôi, đặt quốc hiệu Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên, đổi niên hiệu Thiên Đức. Quân Lương kéo sang, Trần Bá Tiên là tướng chuyên chinh được cử đi đánh, hai bên giao tranh mấy trận, quân Lý thất thế phải rút vào động Khuất Nao. Đại Việt sử ký toàn thư chép việc Lý Nam Đế ủy cho Triệu Quang Phục giữ nước, luyện quân để đánh Bá Tiên.

Vì sao Triệu Quang Phục rút vào đầm Dạ Trạch?

Sau khi Lý Nam Đế lui về động Khuất Nao, Triệu Quang Phục cầm cự với Trần Bá Tiên, nhưng quân Bá Tiên rất mạnh, liệu sức không chống nổi nên lui về giữ Dạ Trạch. Đây là quyết định dựa trên địa thế hiểm trở tự nhiên, không phải rút lui đơn thuần.

Địa thế đầm Dạ Trạch theo sử chép

Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết chầm Dạ Trạch thuộc hạt Chu Diên, uốn lượn dài không rõ bao nhiêu dặm, cây cỏ rậm rạp, bờ bụi ken dày, phía trong có nền đất có thể dựng nhà ở. Bốn phía đều là bùn lầy lún sâu, người và ngựa đều khó qua lại, chỉ có thuyền độc mộc nhỏ chống sào len lỏi trên cỏ nước mới vào được, nhưng người lạ đường lối thì bị lạc không biết phương hướng, nếu chẳng may ngã xuống nước thì rắn rết cắn chết hoặc bị thương.

Cách đánh của Triệu Quang Phục ở Dạ Trạch

Triệu Quang Phục nắm rõ từng lối đi, đem hơn hai vạn người đóng trên nền đất giữa chầm. Ban ngày, ông cho dập tắt mọi khói lửa và dấu vết con người; ban đêm, ông dùng thuyền độc mộc chở quân ra đánh trại Bá Tiên, giết và bắt sống rất nhiều. Cách đánh này khiến quân Lương đánh mãi không được, và đương thời gọi ông là Dạ Trạch Vương[1].

Triệu Quang Phục xưng vương khi nào?

Tháng ba, mùa xuân năm Mậu Thìn (548), ngày Tân Hợi, Lý Nam Đế ở trong động Khuất Nao lâu ngày mắc bệnh ngã nước mà mất. Đại Việt sử ký toàn thư chép Nam Đế mất thì ông xưng vương và tính năm Mậu Thìn là năm đầu[1]; Việt Nam sử lược chép sang năm sau (549) ông ở Dạ Trạch được tin ấy mới xưng là Việt Vương[2].

Bước ngoặt nhờ loạn Hầu Cảnh bên Lương

Khi ấy quân của Việt Vương đã gần cạn lương, mà đánh mãi vẫn không phá nổi quân Lương. Gặp lúc bên Lương xảy ra loạn Hầu Cảnh, vua nhà Lương phải triệu Trần Bá Tiên về, chỉ để người tì tướng là Dương Sàn ở lại chống cự. Triệu Quang Phục nhân cơ hội ấy đem quân ra đánh tan quân Lương, rồi trở về lấy lại thành Long Biên[2]. Đại Việt sử ký toàn thư chép việc này vào năm Canh Ngọ (550) và ghi Dương Sàn thua trận, bị chết[1].

Địa bàn đóng quân và giới hạn với Lý Phật Tử

Sau khi hòa với Lý Phật Tử, Triệu Việt Vương đóng ở Long Biên, Lý Phật Tử đóng ở Ô Diên, lấy bãi Quân Thần làm giới hạn[2]. Đại Việt sử ký toàn thư chép Phật Tử xin hỏi con gái Triệu Việt Vương là Cảo Nương cho con trai mình là Nhã Lang, hai bên thành thông gia và Nhã Lang sang ở rể[1]. Việt Nam sử lược viết thêm rằng Phật Tử vẫn có ý muốn thôn tính, bề ngoài hòa hiếu mà bề trong vẫn sửa soạn để đánh lấy Long Biên[2].

Sử cũ chép Triệu Việt Vương có đầy đủ không?

Đại Việt sử ký toàn thư ghi rõ: sử cũ không chép truyện Triệu Việt Vương cùng Đào Lang Vương, phải nhặt trong dã sử cùng sách khác mới chép vị hiệu hai vị vua này để bù vào. Đây là lời thú nhận quan trọng của sử gia về tình trạng nguồn tư liệu.

Các nguồn chép khác nhau thế nào?

NguồnNội dung chính về Triệu Quang Phục và Dạ TrạchĐặc điểm tư liệu
Đại Việt sử ký toàn thư (Ngô Sĩ Liên, 1479, bản dịch Mạc Bảo Thần 1945)Chép việc lui giữ Dạ Trạch, cách đánh ban đêm, việc xưng vương, việc chia đất với Lý Phật TửChính sử, nhưng tự nhận phần Triệu Việt Vương phải bù từ dã sử
Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim, 1920)Tóm lược diễn biến từ khi rút về Dạ Trạch tới khi xưng Việt Vương và chia đất với Lý Phật Tử[2]Sử phổ thông, kế thừa sử cũ, trình bày gọn
Đại Nam quốc sử diễn ca (Lê Ngô Cát và cộng sự, 1870)Diễn ca sự kiện Triệu Quang Phục phá Lương, cứ đầm Dạ Trạch, việc chia đôi với Lý Phật TửDiễn ca, có yếu tố văn học, không thay thế chính sử

Vì sao tên gọi Dạ Trạch Vương lại quan trọng?

Tên gọi Dạ Trạch Vương gắn với một chiến thuật cụ thể, và nó cho thấy cách sử cũ ghi nhận uy tín của một thủ lĩnh qua địa bàn ông kiểm soát. Người đương thời gọi ông như vậy, chứ không phải một danh hiệu tự xưng[1].

Từ Dạ Trạch Vương tới Triệu Việt Vương

Sau khi Lý Nam Đế mất, Triệu Quang Phục xưng là Việt Vương, đóng đô ở Long Biên, sau dời sang Vũ Ninh, ở ngôi hai mươi ba năm. Sử cũ nhận xét ông giữ chỗ hiểm, đặt mưu lạ để phá bọn giặc lớn, nhưng tiếc thay quá yêu con gái nên gây ra cái vạ chàng rể.

Địa danh Chu Diên và Long Biên ngày nay

Các địa danh Chu Diên, Long Biên, Dạ Trạch trong sử cũ thuộc địa giới hành chính thời Bắc thuộc, khác với đơn vị hành chính hiện hành. Khi đối chiếu bản đồ hiện đại cần lưu ý đây là tên đơn vị hành chính cổ, không đồng nhất với tên xã, phường ngày nay.

Truyện Triệu Việt Vương có yếu tố truyền thuyết không?

Có, và yếu tố ấy nằm ngay trong chính sử. Đại Việt sử ký toàn thư chép năm Kỷ Tỵ (549) Triệu Quang Phục ở trong chầm thắp hương cầu đảo, được mũ đâu mâu móng rồng, từ đó đánh đâu cũng không ai địch nổi; sách ghi thêm "tục truyền" thần trong chầm là Chử Đồng Tử cưỡi rồng vàng, trút móng rồng trao cho ông[1]. Đại Nam quốc sử diễn ca diễn lại thành câu "Rồng vàng trao vuốt giắt vành đầu mâu", "Hổ hùng thêm mạnh, quân nào dám đương"[3]. Đây là chi tiết mang tính truyền thuyết, không phải ghi chép lịch sử theo nghĩa hiện đại.

Cách phân biệt tầng sử liệu và tầng truyền thuyết

Sử thần đời Lê khi chép phần Triệu Việt Vương đã nói rõ phải nhặt từ dã sử, tức chính họ ý thức được ranh giới giữa chính sử và dã sử. Truyền thuyết rồng vàng trao móng, được Đại Việt sử ký toàn thư ghi kèm chữ "tục truyền" và Đại Nam quốc sử diễn ca diễn lại, phản ánh niềm tin dân gian về sự phù trợ linh thiêng cho người lãnh đạo kháng chiến.

Những điểm còn chưa thống nhất giữa các nguồn

Vì chính sử ghi rõ phải bù phần truyện Triệu Việt Vương từ dã sử, các chi tiết cụ thể về thời gian xưng vương, số năm trị vì và mối quan hệ với Lý Phật Tử không có một bản ghi đương thời nào còn lại để kiểm chứng độc lập. Các con số như hai mươi ba năm trị vì hay hơn hai vạn người đóng ở Dạ Trạch là những ghi chép sử học truyền lại, không phải số liệu kiểm kê đương thời.

Vị trí đầm Dạ Trạch ngày nay

Chính văn Đại Việt sử ký toàn thư chỉ ghi chầm Dạ Trạch ở hạt Chu Diên. Lời chú trong bản dịch năm 1945 đặt Dạ Trạch ở huyện Đông An, phủ Khoái Châu[1], và Việt Nam sử lược cũng chú là thuộc phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên[2], trong khi cũng sách ấy chú Chu Diên là Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên cũ. Đó là tên đơn vị hành chính thời Nguyễn và đầu thế kỷ 20, nên vị trí chính xác của đầm không nên khẳng định chắc chắn.

Gợi ý của Nhật Nguyệt khi đọc truyện Triệu Quang Phục

Gợi ý của Nhật Nguyệt: Khi đọc truyện Triệu Quang Phục và đầm Dạ Trạch, nên tách thành ba tầng. Tầng một là các sự kiện được chính sử ghi lại như việc lui về Dạ Trạch, cách đánh ban đêm, việc xưng vương. Tầng hai là các chi tiết sử gia phải bù từ dã sử, cần đọc với mức dè dặt nhất định. Tầng ba là các chi tiết truyền thuyết như rồng vàng trao vuốt, thuộc về văn hóa dân gian hơn là sử liệu. Cách đọc ba tầng này giúp tránh cả hai thái cực: hoặc gạt bỏ toàn bộ vì có yếu tố truyền thuyết, hoặc tiếp nhận mọi chi tiết như sự kiện đã được chứng minh.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Triệu Quang Phục là ai và vì sao được gọi là Dạ Trạch Vương?

Triệu Quang Phục là con quan Thái phó Triệu Túc người huyện Chu Diên, theo cha giúp Lý Nam Đế và được phong Tả tướng quân. Khi quân Lương do Trần Bá Tiên kéo sang, ông lui về giữ đầm Dạ Trạch, ban ngày ẩn kín khói lửa, ban đêm dùng thuyền độc mộc ra đánh trại địch, nên người đương thời gọi ông là Dạ Trạch Vương.

Đầm Dạ Trạch trong sử cũ được mô tả như thế nào?

Đại Việt sử ký toàn thư chép đầm Dạ Trạch ở hạt Chu Diên, quanh co không biết bao nhiêu dậm, cây cỏ bùm tum, bờ bụi chằng chịt, bên trong có nền đất ở được. Bốn mặt bùn lầy khiến người ngựa khó đi, chỉ thuyền độc mộc chống sào trên cỏ nước mới tới được, và người không quen đường lối thì dễ mê lẫn.

Sử cũ có chép đầy đủ truyện Triệu Việt Vương không?

Không hoàn toàn đầy đủ. Đại Việt sử ký toàn thư ghi rõ sử cũ không chép truyện Triệu Việt Vương cùng Đào Lang Vương, nên sử gia phải nhặt trong dã sử cùng sách khác để bù vào. Vì vậy một số chi tiết về thời gian xưng vương và mối quan hệ với Lý Phật Tử cần đọc dè dặt.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefghNgô Sĩ Liên và Mạc Bảo Thần (dịch) (1945). Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch Mạc Bảo Thần (Nhượng Tống), Tân Việt 1945, Tập I phần Tiền Lý Nam Đế; Tập II, Cuốn thứ tư, Đời Triệu Việt VươngXét ra, sử cũ không chép truyện Triệu-Việt-Vương cùng Đào-Lang-Vương. Nay nhặt trong Dã sử cùng sách khác, mới chép vị hiệu Triệu-Việt-Vương cùng Đào-Lang-Vương để bù vào.
  2. ↑ abcdefTrần Trọng Kim (1920). Việt Nam sử lược, Quyển I, phần thuộc nhà Lương, mục Triệu Việt VươngDạ-trạch là chỗ đồng lầy, chung quanh cỏ mọc như rừng, ở giữa có bãi cát làm nhà ở được.
  3. ↑Lê Ngô Cát và cộng sự (1870). Đại Nam quốc sử diễn ca, Mục Triệu Quang Phục phá LươngBấy giờ Triệu mới thừa ky, Cứ đầm Dạ Trạch, liệu bề tấn công.
#TriệuQuangPhục#TriệuViệtVương#ĐầmDạTrạch#DạTrạchVương#LýNamĐế#NhàTiềnLý#LịchSửViệtNam#ĐạiViệtSửKýToànThư