Năm Rồng có thật sự làm tăng số trẻ sinh?
Có, ở một số nước và cộng đồng người Hoa, số trẻ sinh tăng vào năm Rồng và giảm vào năm Hổ. Ở Việt Nam, bằng chứng chủ yếu đến từ một nghiên cứu của Quy-Toan Do và Tung D. Phung (2010), cho thấy các lứa sinh vào năm được coi là tốt đông hơn khoảng 12%. Đây là bằng chứng về hành vi sinh đẻ chịu ảnh hưởng của niềm tin văn hoá, không phải bằng chứng rằng con giáp quyết định vận mệnh.
Vì sao năm sinh được tin là quan trọng?
Loại tri thức: Trường pháiDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnTrong quan niệm Đông phương, năm sinh là một trong bốn trụ (năm, tháng, ngày, giờ) cấu thành lá số. Can chi của năm được cho là ảnh hưởng đến tính cách, vận hạn và sự hợp khắc giữa các thành viên trong gia đình. Tử vi Việt Nam còn phân biệt năm tốt cho con trai và năm tốt cho con gái, dựa trên can chi của năm sinh so với tuổi cha mẹ.
Loại tri thức: Dân gianQuan niệm dân gian. Điều người ta tin, kiêng hay truyền miệng, ghi lại như một niềm tin chứ không như một sự thật đã kiểm. Năm loại nhãnNhiều gia đình tin rằng sinh con vào năm Rồng, năm đẹp theo can chi, sẽ đem lại may mắn, thành đạt và thuận lợi trong hôn nhân, sự nghiệp. Ngược lại, một số năm như năm Hổ, năm Dê bị coi là kém may mắn hơn.
Nghiên cứu ở Việt Nam nói gì?
Quy-Toan Do và Tung D. Phung (2010) công bố trên American Economic Journal: Applied Economics đã phân tích dữ liệu sinh đẻ ở Việt Nam và nhận thấy các lứa sinh vào năm được coi là tốt đông hơn khoảng 12% so với các năm khác. Nghiên cứu này cũng cho thấy trẻ sinh vào năm tốt có số năm đi học nhiều hơn, nhưng tác giả lưu ý rằng đây có thể là kết quả của việc cha mẹ đầu tư nhiều hơn cho con cái sinh vào năm tốt, chứ không phải do bản thân năm sinh.
Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnNgoài ra, Kim Dung Hoang (2013) trình bày tại Hội nghị Dân số Quốc tế của IUSSP một tóm tắt cho rằng số sinh năm 2012 tăng lên dù mức sinh chung giảm. Đây là báo cáo hội nghị chưa qua bình duyệt, số liệu chưa được kiểm chứng đầy đủ, nên cần thận trọng khi đánh giá.
Đông Á: mô hình chung và khác biệt
Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnDaniel M. Goodkind (1991) đã phân tích dữ liệu ở Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Malaysia và cộng đồng người Hoa tại Hoa Kỳ, phát hiện số sinh tăng rõ vào các năm Rồng 1976 và 1988. Paul S.F. Yip và cộng sự (2002) cũng ghi nhận hiện tượng tương tự ở Hồng Kông: sinh năm Rồng tăng, năm Hổ giảm. Daniel Goodkind (1996) chỉ ra rằng ở Singapore, việc canh năm sinh tăng lên cùng với quá trình hiện đại hoá, chứ không giảm đi.
Goodkind (1993) cũng phát hiện rằng ở Đài Loan năm 1976, cơ chế chính là điều chỉnh thời điểm kết hôn và hành vi sinh đẻ, chứ không chỉ nhờ các biện pháp tránh thai hiện đại. Điều này cho thấy người ta chủ động sắp xếp hôn nhân và mang thai để con sinh đúng năm mong muốn.
Tuy nhiên, tại Trung Quốc đại lục, Goodkind (1991) lưu ý rằng các điều kiện thể chế thời Cách mạng Văn hoá và chính sách một con đã ngăn cản bùng nổ sinh vào năm Rồng 1976 và 1988. Mãi đến các năm Rồng gần đây (2000, 2012), một số nghiên cứu mới ghi nhận hiện tượng tăng sinh trở lại.
Bảng tổng hợp bằng chứng
| Nghiên cứu | Phạm vi dữ liệu | Kết quả chính | Mức chứng cứ |
|---|---|---|---|
| Do và Phung (2010) | Việt Nam | Lứa sinh năm tốt đông hơn khoảng 12%; trẻ sinh năm tốt có số năm đi học nhiều hơn | A |
| Goodkind (1991) | Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Malaysia, người Hoa tại Hoa Kỳ | Số sinh tăng vào năm Rồng 1976, 1988 | A |
| Goodkind (1993) | Đài Loan, 1976 | Cơ chế: điều chỉnh thời điểm cưới và hành vi, không nhờ tránh thai hiện đại | A |
| Goodkind (1996) | Singapore | Năm Rồng tăng, năm Hổ giảm; canh năm tăng cùng hiện đại hoá | A |
| Yip và cộng sự (2002) | Hồng Kông | Năm Rồng tăng sinh, năm Hổ giảm | A |
| Hoang (2013) | Việt Nam, 2012 | Số sinh tăng dù mức sinh giảm (báo cáo hội nghị chưa bình duyệt) | B |
Người ta canh năm sinh bằng cách nào?
Goodkind (1993) cho thấy ở Đài Loan, các cặp vợ chồng điều chỉnh thời điểm kết hôn để có thể sinh con vào năm Rồng. Nghiên cứu của Goodkind (1991) cũng ghi nhận số kết hôn tăng lên trong hai năm trước năm Rồng. Ở Trung Quốc đại lục, dữ liệu cấp tỉnh giai đoạn 2003-2013 cho thấy số kết hôn tăng vào năm Hổ và năm Mèo (hai năm liền trước năm Rồng), và số sinh tăng vào năm Rồng.
Điều này nói gì về niềm tin và hành vi?
Hiệu ứng năm Rồng là ví dụ rõ nhất cho câu “niềm tin tạo ra hành vi thật”. Niềm tin vào năm tốt, năm xấu không chỉ là quan niệm mà đã thay đổi hành vi sinh đẻ, hôn nhân và đầu tư cho con cái. Số trẻ sinh thay đổi đo được là bằng chứng về sức mạnh của niềm tin, không phải bằng chứng rằng con giáp quyết định vận mệnh.
Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnTuy nhiên, cần lưu ý rằng bằng chứng ở Việt Nam chủ yếu dựa trên một nghiên cứu (Do và Phung 2010) và một tóm tắt hội nghị chưa bình duyệt (Hoang 2013). Chưa có phân tích đầy đủ về năm Giáp Thìn 2024 trong các nguồn hiện có. Các kết quả ở Đài Loan, Hồng Kông, Singapore không thể suy ra trực tiếp cho người Việt Nam nếu chưa có nghiên cứu trên người Việt Nam.
Kết luận
Niềm tin vào năm tốt, năm xấu theo con giáp đã để lại dấu vết trong dữ liệu sinh đẻ ở Việt Nam và một số nước Đông Á. Đây là hiện tượng dân số học có thật, phản ánh hành vi chịu ảnh hưởng của văn hoá. Bài viết không bình luận về quyết định sinh con của các gia đình, mà chỉ trình bày các bằng chứng nghiên cứu hiện có.
