Nhật Nguyệt

Tri thức / Đông phương

Tâm lý học

Con sinh năm 'đẹp' có học giỏi hơn không: khi niềm tin của cha mẹ tự làm lời đoán thành sự thật

Chia sẻ:
Con sinh năm 'đẹp' có học giỏi hơn không: khi niềm tin của cha mẹ tự làm lời đoán thành sự thật
TL;DR: Một số nghiên cứu ở Trung Quốc đại lục, Đài Loan, Hồng Kông và cộng đồng gốc Á tại Mỹ cho thấy trẻ sinh năm Rồng có kết quả học tập nhỉnh hơn. Nhưng khi kiểm soát kỳ vọng và mức đầu tư của cha mẹ, khác biệt gần như biến mất. Cơ chế chính là lời tiên tri tự hoàn thành: niềm tin làm cha mẹ đầu tư nhiều hơn, và sự đầu tư ấy tạo ra kết quả thật.

Câu trả lời ngắn: có hiệu ứng, nhưng không phải từ năm sinh

Câu hỏi "con sinh năm đẹp có học giỏi hơn không" đã được mang ra kiểm định bằng dữ liệu thật, không chỉ bằng niềm tin. Kết quả khá nhất quán: trẻ sinh vào năm được coi là tốt, điển hình là năm Rồng trong văn hóa Á Đông, có xu hướng học cao hơn và đạt điểm cao hơn một chút so với trẻ cùng lứa sinh năm khác. Nhưng khi các nhà nghiên cứu tách riêng phần đóng góp của kỳ vọng và sự đầu tư của cha mẹ, phần lớn khác biệt ấy biến mất. Nghĩa là niềm tin của cha mẹ đã tạo ra kết quả thật, chứ không phải bản thân năm sinh mang lại may mắn.

Đây là điểm cốt lõi cần giữ suốt bài: hiệu ứng có thật, nhưng cơ chế là hành vi của người lớn, không phải lá số hay con giáp.

Nghiên cứu ở Trung Quốc đại lục nói gì?

Naci Mocan và Han Yu công bố trên Journal of Human Capital năm 2020, dùng ba bộ dữ liệu vi mô thu thập ở Trung Quốc đại lục, cho thấy người sinh năm Rồng có xác suất tốt nghiệp đại học cao hơn và điểm thi đại học cao hơn so với người cùng tuổi hoặc gần tuổi nhưng sinh năm khác. Nhóm tác giả cũng ghi nhận số ca sinh tăng vọt trong các năm Rồng gần đây, và số cuộc kết hôn tăng trong hai năm trước năm Rồng, phù hợp với việc các cặp đôi cố sắp xếp để con chào đời đúng năm Rồng1.

Điểm quan trọng nhất nằm ở phần kiểm định cơ chế. Nhóm tác giả kiểm tra các yếu tố nền như hoàn cảnh gia đình, lòng tự trọng, kỳ vọng và hoài bão của chính đứa trẻ, và không thấy khác biệt giữa trẻ sinh năm Rồng với trẻ khác. Cái khác là cha mẹ: cha mẹ của trẻ sinh năm Rồng đặt kỳ vọng cao hơn và đầu tư nhiều hơn, từ việc trao đổi với giáo viên chủ nhiệm thường xuyên hơn đến việc miễn cho con việc nhà. Khi tính tới kỳ vọng của cha mẹ, khác biệt về kết quả học tập biến mất.

Một chi tiết đáng chú ý: nhóm tác giả còn đo chiều cao và nhận thấy các bé gái sinh năm Rồng có lợi thế chiều cao so với bé gái sinh năm khác, gợi ý rằng cha mẹ có thể cũng đầu tư vào dinh dưỡng cho con gái sinh năm Rồng.

Nhóm tác giả loại trừ một cách giải thích cạnh tranh: rằng cha mẹ không tin vào con giáp mà chỉ lo con phải cạnh tranh nhiều hơn vì lứa Rồng đông hơn. Họ lập luận rằng nếu đúng như vậy thì cha mẹ của trẻ sinh năm Tỵ, tức lứa ngay sau và cũng phải chịu sự cạnh tranh của lứa Rồng đông, cũng phải đầu tư tương tự. Dữ liệu trung học cơ sở của họ cho thấy điều đó không xảy ra.

Nghiên cứu ở Đài Loan và Hồng Kông: tách hiệu ứng mê tín khỏi hiệu ứng lứa đông

Andy L. Chou công bố trên Kyklos năm 2022, dùng dữ liệu Đài Loan, tách được hiệu ứng mê tín dương lên học vấn ra khỏi hiệu ứng cỡ lứa. Đây là đóng góp quan trọng vì lứa Rồng vốn đông hơn, và lứa đông có thể vừa làm tăng cạnh tranh vừa làm giảm chất lượng nguồn lực chia cho mỗi trẻ. Tách được hai thứ ra thì mới biết phần nào do niềm tin, phần nào do quy mô.

Yan Lau công bố trên Journal of Population Economics năm 2019, dùng dữ liệu Hồng Kông, ghi nhận lứa Rồng đông hơn khoảng 5%, có điểm toán cao hơn, và giải thích phần lớn bằng cạnh tranh trong lứa.

Hai kết quả này không mâu thuẫn hoàn toàn nhưng cũng chưa hợp thành một bức tranh thống nhất. Chou tách hiệu ứng mê tín ra khỏi hiệu ứng cỡ lứa; Lau lại cho rằng cạnh tranh trong lứa giải thích phần lớn. Đây là chỗ bằng chứng còn thiếu và còn tranh luận, và bài này nêu cả hai thay vì chọn một bên.

Còn cộng đồng gốc Á ở Mỹ thì sao?

Noel D. Johnson và John V.C. Nye công bố trên Journal of Economic Behavior & Organization năm 2011, phân tích dữ liệu người gốc Á tại Mỹ và thấy người sinh năm Rồng 1976 học nhiều hơn. Nhưng nhóm tác giả cũng chỉ ra rằng mẹ của nhóm này giàu hơn và học cao hơn, tức là có sự chọn lọc gia đình: những gia đình có điều kiện và học thức hơn mới là nhóm chủ động canh năm sinh.

Điều này rất quan trọng cho việc hiểu cơ chế. Nếu gia đình canh năm sinh vốn đã khá giả hơn và quan tâm đến giáo dục hơn, thì một phần hiệu ứng "năm Rồng" thực ra là hiệu ứng "gia đình chọn canh năm sinh".

Vậy hiệu ứng thật đến từ đâu?

Có ít nhất hai cơ chế được đưa ra, và cả hai đều có bằng chứng riêng.

Cơ chế thứ nhất là đầu tư và kỳ vọng của cha mẹ. Cha mẹ tin con mình có triển vọng hơn thì dành cho con nhiều nguồn lực hơn, và nguồn lực ấy tạo ra kết quả thật. Đây là cơ chế Mocan và Yu nhấn mạnh, và là cơ chế được kiểm định trực tiếp bằng dữ liệu về kỳ vọng của cha mẹ.

Cơ chế thứ hai là cạnh tranh trong lứa đông. Lứa Rồng đông hơn khiến trường lớp đông hơn, cạnh tranh vào đại học gay gắt hơn, và điều đó có thể vừa gây bất lợi vừa thúc đẩy nỗ lực. Lau cho rằng cơ chế này giải thích phần lớn kết quả ở Hồng Kông. Sim (2015), dẫn lại trong Mocan và Yu, cho rằng lứa sinh năm 1976 và 1977 ở Singapore phải đối mặt với cạnh tranh cao hơn khi xét tuyển đại học.

Hai cơ chế không loại trừ nhau. Có thể cả đầu tư của cha mẹ lẫn cạnh tranh trong lứa cùng hoạt động, với tỷ trọng khác nhau tùy bối cảnh. Đây là chỗ giới nghiên cứu chưa thống nhất hoàn toàn, và cần thêm dữ liệu ở các nước khác để làm rõ.

Lời tiên tri tự hoàn thành hoạt động thế nào?

Khái niệm lời tiên tri tự hoàn thành không mới trong khoa học xã hội. Điểm đáng chú ý ở đây là nó được kiểm định bằng dữ liệu giáo dục quy mô lớn, chứ không chỉ bằng quan sát giai thoại.

Cơ chế vận hành theo ba bước. Bước một, cha mẹ tin rằng con sinh năm Rồng có triển vọng tốt. Bước hai, niềm tin ấy thay đổi hành vi: cha mẹ nói chuyện với giáo viên nhiều hơn, dành cho con nhiều thời gian và nguồn lực hơn, kỳ vọng cao hơn. Bước ba, hành vi ấy tạo ra kết quả thật: con học tốt hơn, đỗ đại học nhiều hơn. Kết quả ấy lại càng củng cố niềm tin ban đầu, và vòng lặp tiếp tục.

Điều quan trọng là không có bước nào trong đây cần đến sự can thiệp của năm sinh như một thế lực siêu nhiên. Năm sinh chỉ là cái mốc để niềm tin bám vào. Chính niềm tin và hành vi đi kèm mới tạo ra kết quả.

Bảng tổng hợp các nghiên cứu chính

Nghiên cứuPhạm vi dữ liệuKết quả chínhCơ chế được nhấn mạnh
Mocan và Yu 2020Trung Quốc đại lục, ba bộ dữ liệu vi môTrẻ sinh năm Rồng học cao hơn, điểm thi đại học cao hơnKỳ vọng và đầu tư của cha mẹ; hiệu ứng biến mất khi kiểm soát kỳ vọng
Chou 2022Đài LoanTách được hiệu ứng mê tín khỏi hiệu ứng cỡ lứaHiệu ứng mê tín dương lên học vấn
Lau 2019Hồng KôngLứa Rồng đông hơn khoảng 5%, điểm toán cao hơnCạnh tranh trong lứa đông
Johnson và Nye 2011Người gốc Á tại MỹNgười sinh năm Rồng 1976 học nhiều hơnChọn lọc gia đình: mẹ giàu hơn, học cao hơn
Do và Phùng 2010Việt Nam, so sánh anh chị em ruộtCon sinh năm tốt đi học nhiều hơn khoảng hai thángCon được kế hoạch và được mong đợi

Bằng chứng từ Việt Nam: so sánh anh chị em ruột

Quy-Toan Do và Tung D. Phùng công bố trên American Economic Journal: Applied Economics năm 2010, với tựa đề "The Importance of Being Wanted". Nghiên cứu so sánh anh chị em ruột trong cùng gia đình ở Việt Nam, tức là loại bỏ được khác biệt giữa các gia đình, và thấy con sinh năm tốt đi học nhiều hơn khoảng hai tháng. Cách so sánh anh chị em ruột có ưu điểm lớn: hai đứa trẻ cùng cha mẹ, cùng hoàn cảnh kinh tế, cùng môi trường, nên khác biệt tìm được khó quy cho nền tảng gia đình.

Nhóm tác giả giải thích kết quả bằng khái niệm "tầm quan trọng của việc được mong đợi": đứa trẻ được sinh ra trong kế hoạch và được cha mẹ mong chờ thì nhận được nhiều đầu tư hơn, và điều đó thể hiện ra ở số năm đi học.

Đây là bằng chứng trực tiếp trên người Việt Nam, và nó khớp với cơ chế được tìm thấy ở Trung Quốc đại lục: không phải năm sinh làm nên chuyện, mà là việc đứa trẻ có được cha mẹ mong đợi và đầu tư hay không.

Vì sao cùng một hiện tượng mà kết quả lại khác nhau giữa các nơi?

Có mấy lý do.

Thứ nhất, định nghĩa "năm Rồng" khác nhau giữa các nghiên cứu. Mocan và Yu chỉ ra rằng Sim (2015) định nghĩa lứa Rồng Singapore gồm cả người sinh năm 1976 và 1977, tức là trộn cả ba con giáp Mão, Thìn, Tỵ, nên không thể quy kết quả cho riêng năm Rồng. Đây là vấn đề phương pháp, không phải vấn đề văn hóa.

Thứ hai, bối cảnh thể chế khác nhau. Mocan và Yu dẫn Goodkind (1991) cho rằng các điều kiện thể chế ở Trung Quốc đại lục thập niên 1970 và 1980, cùng với chính sách kiểm soát sinh đẻ, khiến cho các đợt bùng nổ sinh năm Rồng 1976 và 1988 không xảy ra ở đại lục trong khi lại thấy ở Đài Loan, Singapore, Malaysia và Mỹ.

Thứ ba, mức độ tin và cách tin khác nhau. Ở một số nơi, niềm tin con giáp gắn với việc chọn năm sinh; ở nơi khác, nó chỉ là chuyện trò. Mức độ đầu tư đi kèm vì thế cũng khác.

Chỗ bằng chứng còn thiếu

Các nghiên cứu hiện có dùng dữ liệu khác nhau và chưa thống nhất hoàn toàn về cơ chế. Mocan và Yu nhấn mạnh kỳ vọng của cha mẹ và loại trừ cạnh tranh trong lứa, trong khi Lau cho rằng cạnh tranh trong lứa giải thích phần lớn ở Hồng Kông. Cần thêm nghiên cứu để biết tỷ trọng của từng cơ chế trong từng bối cảnh.

Chưa có nghiên cứu tương tự trên quy mô lớn ở Việt Nam về hiệu ứng năm Rồng lên học vấn. Nghiên cứu của Do và Phùng ở Việt Nam nói về việc được sinh ra trong kế hoạch và được mong đợi, chứ không nói riêng về năm Rồng. Vì vậy không thể suy kết quả từ Trung Quốc đại lục, Đài Loan, Hồng Kông hay cộng đồng gốc Á tại Mỹ ra cho người Việt Nam.

Cũng chưa rõ liệu hiệu ứng còn giữ được ở các thế hệ sau, khi điều kiện kinh tế và giáo dục thay đổi, và khi tỷ lệ sinh giảm mạnh ở nhiều nơi.

Gợi ý của Nhật Nguyệt

Gợi ý của Nhật Nguyệt: nếu đọc các nghiên cứu trên để rút ra điều gì cho việc nuôi con, thì điều rút ra không phải là chọn năm sinh. Điều rút ra là kỳ vọng và sự đầu tư của cha mẹ tạo ra khác biệt thật, và cả hai thứ ấy không phụ thuộc vào con giáp của đứa trẻ. Một đứa trẻ sinh năm nào cũng có thể nhận được sự mong đợi và đầu tư ấy.

Nếu con bạn sinh năm được coi là "xấu", không có nghiên cứu nào cho thấy điều đó cản trở con học tập. Các nghiên cứu ở Trung Quốc đại lục cho thấy chính niềm tin của cha mẹ mới là biến số tạo ra khác biệt, và nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy việc con được mong đợi và được kế hoạch hóa mới là điều quan trọng. Cả hai kết luận đều dẫn về cùng một hướng: đầu tư cho con, chứ không phải chọn năm sinh cho con.

Đây cũng là cách site Nhật Nguyệt trình bày các chủ đề liên quan đến niềm tin dân gian: niềm tin tạo ra hành vi thật, và hành vi tạo ra kết quả thật. Điều đó không có nghĩa là niềm tin ấy đoán đúng về bản chất của năm sinh. Nó chỉ có nghĩa là niềm tin ấy có sức mạnh thay đổi cách người ta hành động.

Vậy trả lời thế nào cho câu hỏi ban đầu?

Trẻ sinh năm được coi là tốt có học cao hơn một chút trong nhiều bộ dữ liệu. Nhưng phần lớn khác biệt ấy đến từ cha mẹ: từ việc gia đình canh năm sinh vốn khá giả hơn, đến việc cha mẹ đặt kỳ vọng cao hơn và đầu tư nhiều hơn. Khi kiểm soát những yếu tố ấy, khác biệt gần như biến mất. Cơ chế là lời tiên tri tự hoàn thành, vận hành qua hành vi của người lớn, chứ không qua năm sinh.

Điều này đúng cho cả trường hợp kết quả tích cực lẫn trường hợp kết quả tiêu cực. Ở Singapore, Agarwal và cộng sự (2017), dẫn lại trong Mocan và Yu, ghi nhận mức thu nhập của trẻ sinh năm Rồng thấp hơn, và quy cho việc lứa đông làm giảm áp lực lên tiền lương khi cầu lao động không co giãn. Như vậy, cùng một niềm tin, kết quả có thể khác nhau tùy bối cảnh kinh tế và thể chế. Điều kiên định không phải là năm sinh, mà là hành vi của người lớn xung quanh đứa trẻ.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Con sinh năm Rồng có thật sự học giỏi hơn không?

Nhiều nghiên cứu ở Trung Quốc đại lục, Đài Loan, Hồng Kông và cộng đồng gốc Á tại Mỹ cho thấy trẻ sinh năm Rồng có kết quả học tập nhỉnh hơn một chút. Nhưng khi kiểm soát kỳ vọng và mức đầu tư của cha mẹ, khác biệt gần như biến mất. Cơ chế chính là niềm tin của cha mẹ dẫn đến đầu tư nhiều hơn, chứ không phải bản thân năm sinh.

Vì sao niềm tin của cha mẹ lại tạo ra kết quả học tập thật?

Đây là cơ chế lời tiên tri tự hoàn thành. Cha mẹ tin con có triển vọng thì dành cho con nhiều nguồn lực hơn, trao đổi với giáo viên nhiều hơn, kỳ vọng cao hơn. Những hành vi ấy tạo ra kết quả thật, và kết quả ấy lại củng cố niềm tin ban đầu. Năm sinh chỉ là cái mốc để niềm tin bám vào.

Ở Việt Nam đã có nghiên cứu nào về hiệu ứng này chưa?

Nghiên cứu của Quy-Toan Do và Tung D. Phùng năm 2010 so sánh anh chị em ruột ở Việt Nam và thấy con sinh năm tốt đi học nhiều hơn khoảng hai tháng, giải thích bằng việc con được kế hoạch và được mong đợi. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu quy mô lớn ở Việt Nam nói riêng về hiệu ứng năm Rồng lên học vấn, nên không thể suy kết quả từ các nước khác ra cho người Việt Nam.

Bài viết liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑mocan 2017 superstition self fulfilling dragon children

Đọc thêm

  • diguet 1906 les annamites societe coutumes religions
  • hon 2019 sep chinese philosophy change yijing
  • phan ke binh 1915 viet nam phong tuc
  • jordan 1999 gods ghosts ancestors taiwanese
  • pokryshevskaya 2015 numerological superstitions apartments
  • dumoutier 1891 symboles emblemes culte annamites
  • ng 2010 value of superstitions
#NămRồng#ConGiáp#TâmLýHọc#LờiTiênTriTựHoànThành#KỳVọngCủaChaMẹ#GiáoDục#MêTín#SinhNămĐẹp