Tới nội dung

Tri thức / Đông phương

Bát Tự

Bát Tự (Tứ Trụ) là gì? Cách xem vận mệnh qua 8 chữ Can Chi

Thuật số truyền thống Hệ diễn giải cổ.

Thư pháp chữ Hán truyền thống viết bằng mực đen trên giấy trắng

TL;DR: Bát Tự (Tứ Trụ) là môn luận mệnh dựa trên 4 trụ Năm - Tháng - Ngày - Giờ sinh, mỗi trụ gồm 1 Can và 1 Chi, tổng cộng 8 chữ, dùng để phân tích Ngũ hành mạnh yếu trong mệnh cách. Môn này do Lý Hư Trung đời Đường khởi đầu với Can Chi năm, tháng, ngày sinh, rồi Từ Tử Bình đời Tống thêm trụ giờ và lấy Can ngày làm chủ, nên còn gọi là phép Tử Bình. Mỗi Can và mỗi Chi đều có hành và âm dương riêng, là cơ sở để đọc Thập Thần quanh Nhật Chủ.

Bát Tự / Tứ Trụ là gì?

Bát Tự, còn gọi là Tứ Trụ, là một môn luận mệnh cổ truyền của Trung Hoa, vận hành trên hệ thống Can Chi và Ngũ Hành. "Bát Tự" nghĩa là "8 chữ", lấy từ 4 trụ thời gian sinh: Năm, Tháng, Ngày, Giờ. Mỗi trụ gồm 1 Thiên Can và 1 Địa Chi, tổng cộng 4×2 = 8 chữ.

Tứ trụ: bốn cặp can chi, can của trụ ngày là Nhật chủ.
Tứ trụ: bốn cặp can chi, can của trụ ngày là Nhật chủ.
TrụSố chữThành phầnVai trò
Năm21 Thiên Can, 1 Địa ChiPhân tích quan hệ sinh khắc với Nhật Chủ
Tháng21 Thiên Can, 1 Địa ChiPhân tích quan hệ sinh khắc với Nhật Chủ, Chi của trụ này là nguyệt lệnh
Ngày21 Thiên Can, 1 Địa ChiQuan trọng nhất, Can là Nhật Chủ
Giờ21 Thiên Can, 1 Địa ChiPhân tích quan hệ sinh khắc với Nhật Chủ

Bát Tự có từ bao giờ?

Bát Tự không ra đời một lần mà tiến hóa qua nhiều đời. Vào đời Đường, Lý Hư Trung đã dùng Can Chi của năm, tháng, ngày sinh để luận mệnh, tức là ba trụ với sáu chữ. Sang đời Tống, Từ Tử Bình mới thêm trụ giờ và lấy Can của trụ Ngày làm chủ, nên môn này còn được gọi là phép Tử Bình. Sách Uyên Hải Tử Bình, ở mục Luận Ngày làm chủ, ghi lại đúng sự chuyển ấy: sách đời Đường lấy năm để nói quý tiện thọ yểu, tới đời Tống mới có thuyết Tử Bình lấy nhật can làm chủ.

Có một điểm chưa thống nhất giữa các nguồn. Wikipedia (dẫn theo Ho 2003) nói Lý Hư Trung dùng ba trụ, trong khi lời tựa của Uyên Hải Tử Bình lại viết "năm tháng ngày giờ", tức bốn trụ. Còn về mốc chuyển từ lấy năm làm chủ sang lấy ngày làm chủ, Uyên Hải Tử Bình và Wikipedia đều đặt ở đời Tống, nhưng Từ Nhạc Ngô trong phần chú chương 21 của Tử Bình Chân Thuyên lại nói phép xem "có sự thay đổi" tới tận Tam Mệnh Thông Hội đời Minh. Vì vậy, cách nói an toàn là môn này định hình từ đời Tống và phổ biến dần về sau.

Bốn sách nền của Bát Tự là gì?

Bốn bộ sách thường được xem là nền tảng của môn này, mỗi bộ đặt trọng tâm ở một chỗ khác nhau:

  • Uyên Hải Tử Bình: do Từ Đại Thăng đời Tống tập hợp, bản khắc đời Minh.
  • Tam Mệnh Thông Hội: của Vạn Dân Anh đời Minh.
  • Tử Bình Chân Thuyên: của Trầm Hiếu Chiêm đời Thanh, bản bình chú của Từ Nhạc Ngô, lấy nguyệt lệnh và cách cục làm trục.
  • Trích Thiên Tủy: với lời chú của Nhâm Thiết Tiều, nặng về khí thế và thông căn.

Biết điều này giúp hiểu vì sao cùng một lá số mà các thầy lại luận khác nhau: mỗi sách nhấn vào một trục khác nhau, nên khi đọc một lá số thì trọng tâm đặt ở đâu sẽ cho ra lời luận khác đi.

10 Thiên Can và 12 Địa Chi là gì?

Thiên Can gồm 10 yếu tố: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Mỗi Can gắn với một hành trong Ngũ Hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) và một tính Âm hoặc Dương. Địa Chi gồm 12 yếu tố tương ứng 12 con giáp: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

Bảng dưới đây ghi hành và âm dương của từng Can và từng Chi. Cột âm dương này là thứ cần có sẵn trước khi đọc mục Thập Thần ở dưới, vì Thập Thần chia Chính và Thiên chính là dựa vào chỗ Can này gặp Can kia cùng dấu âm dương hay khác dấu.

CanHànhÂm dương
GiápMộcDương
ẤtMộcÂm
BínhHỏaDương
ĐinhHỏaÂm
MậuThổDương
KỷThổÂm
CanhKimDương
TânKimÂm
NhâmThủyDương
QuýThủyÂm
ChiHànhÂm dương
TýThủyDương
SửuThổÂm
DầnMộcDương
MãoMộcÂm
ThìnThổDương
TỵHỏaÂm
NgọHỏaDương
MùiThổÂm
ThânKimDương
DậuKimÂm
TuấtThổDương
HợiThủyÂm

Can và Chi kết hợp theo chu kỳ 60 tổ hợp gọi là Lục thập Hoa Giáp. Đây là nền tảng cho cách tính năm và ngày Can Chi vẫn dùng phổ biến ở Việt Nam hiện nay, ví dụ "năm Giáp Thìn", "năm Ất Tỵ".

Một điểm cần nhớ ngay từ đây: mỗi Địa Chi không thuần một hành. Bên trong nó chứa một hoặc vài Can gọi là tàng can, có Can chính và Can phụ. Bước luận về sau, đặc biệt là bước xác định cách cục, phải mở tàng can của nguyệt lệnh ra mới đọc được hành nào thật sự nắm quyền.

Tám chữ được đọc bằng công cụ gì?

Công cụ đọc tám chữ là Thập Thần, và nó sinh ra từ phép so mỗi chữ với Nhật Chủ. Theo Uyên Hải Tử Bình, có năm quan hệ, mỗi quan hệ nhân hai cực âm dương thành mười thần: hành khắc ta là Quan Sát, hành ta khắc là Tài, hành sinh ta là Ấn, hành ta sinh là Thực Thương, hành cùng loại với ta là Tỷ Kiếp. Trong mỗi cặp, dương gặp âm thì là Chính, dương gặp dương thì là Thiên. Chi tiết từng thần xem ở bài Thập Thần Trong Bát Tự Là Gì? Ý Nghĩa 10 Sao Trong Tứ Trụ.

Trụ Ngày, Nhật Chủ là gì?

Trong Bát Tự, trụ Ngày được xem là quan trọng nhất. Can của trụ Ngày gọi là Nhật Chủ, đại diện cho bản thân người xem. Các trụ còn lại (Năm, Tháng, Giờ) được phân tích trong quan hệ sinh khắc với Nhật Chủ theo Ngũ Hành.

Nhưng phân tích sinh khắc chỉ là bước mở đầu. Muốn biết lá số này mạnh hay yếu, phải đi qua ba cửa kiểm tra, và cửa đầu tiên không nằm ở trụ Ngày.

Bốn trụ ứng với những giai đoạn và người thân nào?

Theo Uyên Hải Tử Bình, bốn trụ được ví như một cái cây: năm là gốc, tháng là mầm (đề cương), ngày là hoa, giờ là quả. Cũng theo sách này, mỗi Can và Chi trong trụ còn ứng với một cung vị lục thân: Can năm là ông, Chi năm là bà, Can tháng là cha, Chi tháng là mẹ và anh em, Can ngày là bản thân, Chi ngày là vợ (sách viết cho nam mệnh), Can giờ là con trai, Chi giờ là con gái.

Bản bình chú Tử Bình Chân Thuyên thêm một cách nhìn khác, mượn bốn chữ "nguyên, hanh, lợi, trinh" để gán cho bốn trụ: năm là nguyên, tháng là hanh, ngày là lợi, giờ là trinh. Theo cách này, năm tháng tốt thì tiền vận tốt, ngày giờ tốt thì hậu vận tốt.

Vì sao tháng trong Bát Tự không tính theo mùng 1?

Bát Tự đổi tháng theo tiết khí chứ không theo mùng 1 âm lịch, nên đây là một phép tính theo mặt trời dù vẫn dùng Can Chi (Wikipedia, mục Four Pillars of Destiny). Ghi chú trong Uyên Hải Tử Bình cũng nói rõ tháng bắt đầu từ tiết như Lập Xuân, Kinh Trập, không từ ngày mùng 1. Vì vậy người sinh gần ranh giới tiết khí rất dễ bị lệch trụ tháng nếu tra theo lịch thường.

Từ Nhạc Ngô, trong chương 3 của Tử Bình Chân Thuyên, còn chia một năm 360 ngày cho năm hành, mỗi hành 72 ngày, riêng Thổ vượng 18 ngày cuối mỗi mùa, ứng với Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Đây là một cách nhìn khác về phân bố hành trong năm so với cách đọc thuần theo tiết khí.

Thần sát và nạp âm có quyết định lá số không?

Không. Tử Bình Chân Thuyên, chương 21 với tiêu đề "Luận tinh thần vô quan cách cục", viết rằng khi cách cục đã thành thì dù trụ đầy Cô thần cũng không hại, còn khi cách cục đã phá thì dù đầy Thiên Đức quý nhân cũng không cứu. Từ Nhạc Ngô chú thêm rằng thần sát và nạp âm là phần thừa kế từ thời luận mệnh lấy năm làm chủ.

Điều này đáng nói vì nhiều công cụ tra cứu vẫn in thần sát ngay cạnh tám chữ, khiến người mới dễ tưởng đó là phần cốt lõi của lá số. Thực ra trục chính vẫn là nguyệt lệnh, cách cục và quan hệ với Nhật Chủ.

Một lá số được đọc từ tám chữ tới lời luận như thế nào?

Trích Thiên Tủy, chương Tri mệnh, dẫn một lá số Tân Mão, Đinh Dậu, Canh Ngọ, Bính Tý (sách ghi là mệnh vua Càn Long) để minh họa các bước. Nhật chủ là Canh sinh tháng Dậu, bốn chi Tý, Ngọ, Mão, Dậu đủ cả tứ chính, ngũ hành thiếu Thổ. Nhâm Thiết Tiều đọc hai cặp xung Tý Ngọ và Mão Dậu là chế phục đắc cách chứ không phải hỏng.

Ví dụ này cho thấy đường đi từ tám chữ tới lời luận phải qua mấy bước: xác định Nhật Chủ, xét nguyệt lệnh, xem phân bố hành trong bốn chi, rồi mới đọc các cặp xung hợp. Cùng một cặp xung, đặt trong cách cục này thì là chế phục, đặt trong cách cục khác có thể là phá cách.

Bát Tự (Tứ Trụ) là gì? Cách xem vận mệnh qua 8 chữ Can Chi hỷ hay kỵ khi thân vượng, thân nhược?

Với Bát Tự (Tứ Trụ) là gì? Cách xem vận mệnh qua 8 chữ Can Chi, nguyệt lệnh là điểm khởi đầu để đo vượng suy, từ đó định cách cục và chọn dụng thần. Khi thân vượng, bản thân nó thường là hỷ nếu đóng vai phù ức, thông quan, điều hậu hoặc bệnh dược; khi thân nhược, nó thành kỵ nếu bị ức chế thêm. Nó chỉ thành dụng thần khi giải đúng nút thắt của lá số. Trường hợp tòng cách là ngoại lệ, không luận theo hướng này.

Muốn hiểu đầy đủ, xem Dụng thần trong Bát Tự và Thân vượng, thân nhược.

Bát Tự và Tử Vi khác nhau thế nào?

Bát Tự đọc tám chữ Can Chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh rồi luận bằng sinh khắc, xung hợp quanh Nhật Chủ. Tử Vi thì an sao vào 12 cung rồi đọc theo tổ hợp sao và cung. Hai môn dùng hai hệ quy chiếu khác nhau, cho nên cùng một người mà hai lá số nói chuyện theo hai cách.

Bảng so sánh chi tiết giữa hai môn nằm ở bài trụ Tử Vi: Tử Vi là gì? Tổng quan cách xem và các khái niệm nền tảng.

Không biết giờ sinh thì xem Bát Tự được không?

Không có giờ sinh thì chỉ còn sáu chữ của ba trụ năm, tháng, ngày, thiếu hẳn trụ giờ. Trụ giờ là cung con cái và hậu vận, nên thiếu nó thì phần con cái và giai đoạn cuối đời coi như bỏ trống.

Cách "định giờ theo sự việc", tức suy ngược giờ từ các biến cố đã xảy ra trong đời, chỉ là một ước lượng. Nó có thể giúp thu hẹp khoảng giờ, nhưng không thay được giờ sinh thật, nên kết quả chỉ nên xem như tham khảo.

Ứng dụng Bát Tự vào chọn tên, chọn màu, chọn hướng như thế nào?

Từ dụng thần đã chọn, các ứng dụng được rút ra theo một chuỗi cố định: dụng thần là hành gì, hỉ thần là hành gì, rồi chọn tên (dùng chữ mang hành dụng thần hoặc hỉ thần), chọn màu sắc trang phục và vật dụng, chọn hướng nhà và hướng bàn làm việc.

Cần lưu ý hai điều. Thứ nhất, vì dụng thần phụ thuộc vào cách chọn, nên ứng dụng cũng phụ thuộc vào cách chọn ấy: đổi cách là đổi cả tên, màu và hướng. Trường hợp tòng cách càng cho thấy rõ điều này, vì dụng thần ở đó là hành đang áp đảo chứ không phải hành trợ Nhật Chủ. Thứ hai, các ứng dụng này là suy ra từ lý thuyết, không phải từ kiểm chứng, nên nên xem như một hệ quy chiếu để tham khảo, không phải chỉ dẫn bắt buộc.

Lưu ý khi tra cứu

Việc lập lá số Bát Tự chính xác đòi hỏi quy đổi đúng Can Chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh, trong đó Can Chi ngày là phần phức tạp nhất về mặt tính toán (liên quan đến số ngày Julian). Người dùng công cụ tra cứu nên ưu tiên các nguồn đã đối chiếu với lịch vạn niên uy tín.

Về cách tra, chỉ có trụ năm và trụ ngày là tra thẳng theo vòng 60 Hoa Giáp. Can của trụ tháng phải suy từ can năm: theo Ngũ Hổ Độn, năm Canh thì tháng Dần là Mậu Dần, rồi các tháng sau đếm thuận. Can của trụ giờ phải suy từ can ngày: theo Ngũ Thử Độn, ngày Bính hoặc ngày Tân thì giờ Tý là Mậu Tý, và do đó giờ Thìn là Nhâm Thìn. Cách làm đầy đủ theo từng bước xem ở bài Lập tứ trụ Bát Tự từ ngày giờ sinh.

Một điểm nữa: phần lớn công cụ chỉ trả về 8 chữ, không trả về vượng suy, cách cục và dụng thần. Ba bước đó là phần luận, phải làm thủ công, và chính là chỗ các phái tách nhau như đã nói ở trên.

Bài viết trong chủ đề Bát Tự

Bài tổng quan chủ đề: Bát Tự

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Bát Tự có bao nhiêu chữ?

8 chữ, từ 4 trụ Năm - Tháng - Ngày - Giờ, mỗi trụ gồm 1 Thiên Can và 1 Địa Chi.

Nhật Chủ là gì?

Nhật Chủ là Thiên Can của trụ Ngày sinh, đại diện cho bản thân người xem trong lá số Bát Tự.

Đọc tiếp

Bát Tự (Tử Bình) · Tứ trụ

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Từ Tử Bình (tương truyền), Uyên Hải Tử Bình
  2. Đẩu số tinh thành Tập 1 phần 1 (Thiên Hỏa Đồng Nhân)
  3. Kỳ Môn Chỉ Quy, quyển 1
  4. Four Pillars of Destiny, mục History và Calendar (Wikipedia tiếng Anh)
#BátTự#TứTrụ#CanChi#NgũHành#NhậtChủ#TửVi