Tri thức / Việt Nam

Phong tục dân tộc thiểu số

Tục nhuộm răng đen của người Việt: nhuộm thế nào và mất đi từ khi nào?

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Tục nhuộm răng đen của người Việt: nhuộm thế nào và mất đi từ khi nào?

TL;DR: Tục nhuộm răng đen là phong tục làm đẹp từng phổ biến của người Việt, cũng được ghi nhận ở một số dân tộc trên dãy Trường Sơn, gắn với quan niệm răng đen mới là đẹp và đứng đắn. Theo cách làm còn được kể ở Huế, người nhuộm ngậm nước chua làm sạch răng rồi bôi thuốc nhuộm làm từ thanh phàn, hắc phàn và ngũ bội tử, kéo dài nhiều ngày. Phong tục suy giảm từ đầu thế kỷ 20 dưới ảnh hưởng của phong trào canh tân như Đông Kinh Nghĩa Thục và thẩm mỹ phương Tây, đến nay gần như không còn được thực hành.

Tục nhuộm răng đen là gì và bắt đầu từ khi nào?

Tục nhuộm răng đen là phong tục làm đẹp bằng cách làm cho men răng ngả màu đen bóng, từng phổ biến ở người Việt (Kinh); báo chí cũng ghi nhận tục này ở một số dân tộc trên dãy Trường Sơn miền Trung. Trong quan niệm thẩm mỹ truyền thống, hàm răng đen được coi là đẹp, là dấu hiệu của sự trưởng thành và nết na, còn răng trắng bị coi là thô và đáng xấu hổ.

Về nguồn gốc, rất khó xác định tục này có từ khi nào. Bài báo trên Thanh Niên dẫn sách Lịch sử Việt Nam (tập 1, NXB Khoa học xã hội, 1971) chép lại lời truyền rằng sứ thần Văn Lang trả lời vua Chu: người mình có tục ăn trầu để khử mùi và nhuộm răng đen; sách ấy cũng viết thời Hùng Vương người ta nhuộm răng, ăn trầu[2]. Cũng theo bài báo, các nhà khảo cổ Việt Nam từng tìm thấy răng người Việt cổ có vết nhuộm đen tại di chỉ văn hóa Đông Sơn ở Thanh Hóa, khoảng thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên[2].

Bên cạnh chứng cứ khảo cổ, một số dị bản dân gian kể rằng tục nhuộm răng bắt nguồn từ huyền thoại về vua chồng của nữ thần biển, người đã nhuộm đen răng của 50 người con trai để đánh lạc hướng người mẹ đang tìm con[2]. Đây là truyền thuyết, không phải sự kiện lịch sử đã được kiểm chứng.

Người xưa nhuộm răng đen như thế nào?

Quy trình nhuộm răng đen không đơn giản, kéo dài hàng tuần lễ và đòi hỏi sự kiên nhẫn. Theo lời kể của những người từng nhuộm răng, trước hết người nhuộm phải ngậm nước nấu từ lá cây sôn (một loại lá chua người Huế thường dùng nấu canh) nhiều đêm liền để tẩy sạch các vết bám trên răng[1]. Sau khi nước chua ngấm vào răng, người ta bôi lên răng một loại phẩm nhuộm làm từ nhiều loại lá và thân cành cây trên núi; loại thuốc này sau khi nhuộm sẽ làm răng ngấm màu đen tuyền và không phai[1].

Người còn giữ cách làm thuốc nhuộm răng ở Huế kể thuốc có ba vị chính: thanh phàn, hắc phàn và bội tử (ngũ bội tử), thêm vài vị khác[3]. Ngũ bội tử đem phơi khô, xay thành bột mịn; thanh phàn và hắc phàn bỏ chảo nướng suốt một ngày một đêm, tới khi khô cứng mới giã nhuyễn[3]. Cứ hai muỗng bột thanh phàn, hắc phàn thì trộn một muỗng bột ngũ bội, cho vào túi lắc đều[3]. Bột thuốc cay và hắc, dính vào mũi là rát buốt[3].

Theo người trong nghề, trước hết phải ngậm chua cho răng quen, rồi há miệng để gió làm răng khô tự nhiên trong ba, bốn ngày; mấy ngày ấy chỉ húp cháo, không được ăn cơm[3]. Răng "ăn thuốc" rồi mới bôi thuốc nhuộm; làm đúng thì răng đen bóng, đều màu và không phai[3].

Ngoài mục đích làm đẹp, người từng nhuộm răng và người làm thuốc kể rằng thuốc nhuộm có tác dụng sát trùng, chống viêm nướu, hạn chế rụng răng, và răng nhuộm thì không bị sâu[1][3]. Đó là lời người trong cuộc, không phải kết luận của y học. Ngay từ năm 1915, Phan Kế Bính đã ghi lại ý ấy rồi bác lại: "Nói vậy vị tất đã phải, vì chán người nhuộm răng mà vẫn sâu răng"[4].

Người miền núi nhuộm và mài răng khác người miền xuôi thế nào?

Tục nhuộm răng đen không chỉ có ở phụ nữ người Kinh mà còn được nhiều dân tộc miền núi ở dãy Trường Sơn miền Trung áp dụng, trong đó bài báo nêu tên các dân tộc Pa Cô, Vân Kiều, Tà Ôi[1]. Cần lưu ý rằng đây là ghi nhận của phóng viên tại một địa bàn cụ thể, không phải bản liệt kê đầy đủ mọi dân tộc có tục này.

Điểm khác biệt giữa tục nhuộm răng của phụ nữ miền núi và miền xuôi, theo ghi nhận tại huyện A Lưới (nay thuộc thành phố Huế), là ngoài nhuộm răng đen, người miền núi còn mài cho hàm răng bằng phẳng[1]. Một cụ bà người Pa Cô kể rằng từ khi sinh ra lớn lên chừng 14 tới 15 tuổi, con gái và con trai Pa Cô đã được mẹ dạy cách cà răng; để răng đen bóng và không bị sâu, họ lấy củ turda giã nhuyễn kết hợp với nhựa đen trong tẩu thuốc bôi lên răng, bôi ngày này qua ngày khác đến khi hợp chất khô thì có hàm răng đẹp, suốt đời không phai[1].

Vì sao răng đen từng được coi là đẹp?

Trong xã hội Việt Nam truyền thống, răng đen là một tiêu chuẩn cái đẹp. Ca dao xếp răng đen vào hàng thứ tư trong cái duyên của người con gái:

  • Một thương tóc bỏ đuôi gà
  • Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
  • Ba thương má lúm đồng tiền
  • Bốn thương răng láng hạt huyền kém thua[2]

Một câu ca dao khác cũng nhắc tới việc trang điểm răng đen như một phần của nhan sắc: "Lấy chồng cho đáng tấm chồng, Bõ công trang điểm má hồng răng đen"[2]. Trong bài hịch kêu gọi quân sĩ tại lễ thệ sư ở Thọ Hạc (Thanh Hóa), vua Quang Trung đã cổ vũ tướng lĩnh đánh quân xâm lược nhà Thanh bằng những lời có nhắc tới tục này: "Đánh cho để dài tóc, Đánh cho để đen răng"[2].

Trong văn học hiện đại, hình ảnh răng đen cũng đi vào thơ ca như một nét đẹp văn hóa. Bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm có câu "Những cô hàng xén răng đen, cười như mùa thu tỏa nắng", được nhiều bài báo sau này dẫn lại như một cách miêu tả vẻ đẹp duyên dáng, thuần hậu của người phụ nữ Việt xưa[3].

Ngược lại, răng trắng từng bị coi là thô. Ghi chép của Bonnal, viên công sứ Pháp đầu tiên ở Hà Nội (1883 tới 1885), trong cuốn Ghi chép và kỷ niệm ở Bắc Kỳ (Au Tonkin, notes et souvenirs, Paris, 1925) viết rằng trẻ con cả trai lẫn gái sinh ra đều trắng, nhưng khi lớn lên chúng nhuộm đen, vì nếu không nhuộm đen thì thật đáng xấu hổ khi có một hàm răng trắng nhởn như răng chó[2]. Nhuộm răng được coi là tục đẹp của người Đàng Ngoài, và răng trắng bị coi như răng chó hay "răng trắng như răng người Ngô"[2].

Tục nhuộm răng đen mất đi từ khi nào?

Quá trình suy giảm của tục nhuộm răng đen gắn với những biến chuyển xã hội đầu thế kỷ 20. Tháng 3 năm 1907, Trường Đông Kinh Nghĩa Thục ra đời ở phố Hàng Đào (Hà Nội) với mục tiêu tiếp nhận tư tưởng mới, khuyến khích học chữ quốc ngữ, chấn hưng thực nghiệp[2]. Hưởng ứng mục tiêu của trường, nhiều đàn ông Hà Nội đã cắt bỏ búi tóc, đàn bà thì cạo răng đen thành răng trắng[2]. Người phụ nữ Hà Nội đầu tiên cạo răng đen được ghi nhận là Lương Thị Bẩy, con gái của cụ cử Lương Văn Can, một trong những nhà sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục[2].

Tuy vậy, phong tục không biến mất ngay lập tức. Nhiều người vẫn cho rằng để răng trắng là không đứng đắn[2]. Báo Phụ nữ thời đàm số ra ngày 29 tháng 10 năm 1933 mô tả cô gái tân thời Hà Nội với "quần trắng áo mầu, giầy cao gót... để răng trắng, rẽ đường ngôi lệch...", và nhấn mạnh rằng gái tân thời phải có học thức mới, tư tưởng mới[2]. Báo Phong hóa cũng viết về việc "thay bộ răng trắng ngà trắng muốt vào chỗ bộ răng đen ngòm"[2].

Một luận văn bác sĩ của Vũ Ngọc Quỳnh (Le laquage des dents en Indochine, Hà Nội, 1937) cho biết năm 1936, số phụ nữ răng đen ở Hà Nội ở tuổi từ 18 trở xuống còn rất ít[2]. Như vậy, có thể thấy tục nhuộm răng đen ở Hà Nội đã suy giảm mạnh trong khoảng ba thập niên đầu thế kỷ 20, gắn với sự lên ngôi của thẩm mỹ phương Tây và phong trào canh tân.

Ở các vùng quê, phong tục tồn tại lâu hơn. Trong bài báo năm 2014, một cụ bà 76 tuổi ở xã Lộc Bổn, huyện Phú Lộc cũ (nay thuộc thành phố Huế), cho biết bà nhuộm răng lúc 16 tuổi, và khi ấy con gái không nhuộm răng đều bị các cụ quở mắng là học đòi theo Tây[1]. Cụ nói mình thuộc lớp người Việt cuối cùng còn nhuộm răng[1].

Bảng dưới đây tóm tắt các mốc chính trong quá trình suy giảm của tục nhuộm răng đen:

Thời điểmSự kiện hoặc ghi nhận
Khoảng thiên niên kỷ thứ nhất TCNRăng người Việt cổ có vết nhuộm đen tại di chỉ Đông Sơn, Thanh Hóa[2]
Tháng 3 năm 1907Trường Đông Kinh Nghĩa Thục thành lập; nhiều người Hà Nội cạo răng đen[2]
Ngày 29 tháng 10 năm 1933Báo Phụ nữ thời đàm mô tả cô gái tân thời để răng trắng[2]
Năm 1936Số phụ nữ răng đen ở Hà Nội tuổi từ 18 trở xuống còn rất ít[2]
Thập niên 2010Những người răng đen còn lại chủ yếu là các cụ bà cao tuổi[1]

Những người cuối cùng còn giữ tục này hôm nay

Đến thập niên 2010, những người còn giữ được hàm răng đen chỉ còn lác đác ở các vùng quê. Tại xã Lộc Bổn, huyện Phú Lộc (nay thuộc thành phố Huế), một cụ bà 76 tuổi vẫn giữ hàm răng đen bóng, đều và chắc, có thể cắn vỡ càng cua trong bữa ăn gia đình[1]. Tại huyện miền núi A Lưới (nay thuộc thành phố Huế), một cụ bà 85 tuổi người Pa Cô ở làng Pe Dụt vẫn giữ được hàm răng đen tuyền và là người hiếm hoi còn nhớ rõ về tục mài và nhuộm răng[1].

Nghề làm thuốc nhuộm răng đen cũng gần như thất truyền. Một gia đình ở phố cổ Gia Hội, thành phố Huế, có gốc gác Minh Hương, đã làm thuốc gia truyền hơn 100 năm, trong đó thuốc nhuộm răng đen từng là mặt hàng chủ lực[3]. Theo lời kể trong gia đình, thời bà nội của người vợ, tức ba đời trước, thuốc này bán rất chạy vì người ta coi răng đen là sang; nhà nào có con gái đến tuổi 12 tới 13 là đã mua về dùng[3]. Đến nay, họ làm thuốc không phải để mưu sinh mà để níu giữ ký ức về một tục lệ từng góp phần làm nên bản sắc văn hóa đất kinh kỳ[3].

Về sau, khi răng trắng thành chuẩn đẹp, nhiều người lớn tuổi ngại bị chê nên tìm cách cạo lớp đen đi; cạo xong răng lại loang lổ, trông kém hơn trước[3]. Có người tiếc, và nói hàm răng đen ngày trước mới thật là hàm răng khỏe[3].

Tục nhuộm răng đen có phải là chuyện riêng của người Kinh?

Không. Như đã nêu, tục này còn được ghi nhận ở một số dân tộc miền núi ở dãy Trường Sơn như Pa Cô, Vân Kiều, Tà Ôi[1]. Ở A Lưới, người Pa Cô ngoài nhuộm còn cà răng cho bằng, và dùng củ turda giã nhuyễn trộn nhựa đen trong tẩu thuốc thay cho thuốc nhuộm của người miền xuôi[1].

Câu hỏi thường gặp

Nhuộm răng đen có ảnh hưởng gì đến sức khỏe răng miệng không?

Theo lời kể của những người từng nhuộm răng và từng hành nghề, thuốc nhuộm răng đen có tác dụng sát trùng, chống viêm nướu, hạn chế rụng răng, và răng nhuộm thì không bị sâu[1][3]. Đây là kinh nghiệm dân gian và lời kể của người trong cuộc, không phải kết quả nghiên cứu y học hiện đại. Phan Kế Bính, viết năm 1915, cho rằng nói nhuộm răng để khỏi sâu thì "vị tất đã phải, vì chán người nhuộm răng mà vẫn sâu răng"[4].

Tại sao người xưa lại coi răng đen là đẹp?

Trong xã hội Việt Nam truyền thống, răng đen gắn với quan niệm về sự trưởng thành, nết na và vẻ đẹp kín đáo. Ca dao xếp răng đen vào hàng thứ tư trong cái duyên của người con gái[2], và răng trắng từng bị coi là thô, thậm chí bị ví như răng chó[2]. Quan niệm này thay đổi khi văn hóa phương Tây du nhập và chuẩn mực thẩm mỹ mới lấy răng trắng làm đẹp.

Ngày nay còn ai nhuộm răng đen không?

Tục nhuộm răng đen hiện nay gần như không còn được thực hành phổ biến. Chỉ còn lác đác vài người đến mua thuốc nhuộm để nghiên cứu, trình diễn hoặc lưu giữ phong tục[3]. Những người còn giữ được hàm răng đen chủ yếu là các cụ bà cao tuổi ở một số vùng quê[1]. Nghề làm thuốc nhuộm răng đen cũng gần như thất truyền, chỉ còn rất ít gia đình lưu giữ bí kíp[3].

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Tục nhuộm răng đen bắt đầu từ khi nào?

Rất khó xác định chính xác thời điểm bắt đầu. Sách Lịch sử Việt Nam (tập 1, NXB Khoa học xã hội, 1971) chép lại lời truyền về sứ thần Văn Lang trả lời vua Chu về tục nhuộm răng đen, và viết rằng thời Hùng Vương người ta nhuộm răng, ăn trầu. Các nhà khảo cổ cũng tìm thấy răng người Việt cổ có vết nhuộm đen tại di chỉ văn hóa Đông Sơn ở Thanh Hóa, khoảng thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Người xưa nhuộm răng đen bằng nguyên liệu gì?

Theo ghi nhận của những người còn giữ nghề ở Huế, thành phần chính của thuốc nhuộm gồm ba vị chủ đạo là thanh phàn, hắc phàn và ngũ bội tử, cùng một số vị khác. Trước khi nhuộm, người ta ngậm nước chua từ lá cây sôn để làm sạch răng, sau đó để răng khô tự nhiên vài ngày rồi mới bôi thuốc nhuộm.

Tục nhuộm răng đen mất đi từ khi nào?

Quá trình suy giảm gắn với phong trào canh tân đầu thế kỷ 20. Tháng 3 năm 1907, Trường Đông Kinh Nghĩa Thục ra đời, nhiều người Hà Nội cạo răng đen thành răng trắng. Đến năm 1936, theo luận văn bác sĩ của Vũ Ngọc Quỳnh, số phụ nữ răng đen ở Hà Nội tuổi từ 18 trở xuống còn rất ít. Ở các vùng quê, phong tục tồn tại lâu hơn: năm 2014 một cụ bà 76 tuổi ở Huế kể mình nhuộm răng năm 16 tuổi và thuộc lớp người cuối cùng còn nhuộm.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefghijklmnoBáo Thanh Niên, Người xưa làm đẹp - Kỳ 4: Hàm răng hạt huyền, Bài báo ngày 21/03/2014, mục Người răng đen còn sót lại và Một nét văn hóa bị tàn phaiCụ bà tên Nguyễn Thị Gái, 76 tuổi, ở đội 7 thôn Thuận Hóa, xã Lộc Bổn, một vùng quê thuần nông của Thừa Thiên-Huế.
  2. ↑ abcdefghijklmnopqrstuBáo Thanh Niên, Hà Nội kỳ nhân, kỳ sự - Kỳ 2: Răng đen, răng trắng và răng... tetracyline, Bài báo ngày 28/08/2012, trích Đi dọc Hà Nội, ChibooksTháng 3.1907, Trường Đông Kinh Nghĩa Thục ra đời ở phố Hàng Đào với mục tiêu xóa bỏ tư tưởng Khổng giáo, Tống nho, Hán nho, tiếp nhận tư tưởng mới
  3. ↑ abcdefghijklmnopBáo Thanh Niên, Người giữ bí kíp thuốc nhuộm răng đen, Bài báo ngày 04/02/2026, chuyên mục Nghề xưa cố đô còn một chút nàyGia đình tôi có gốc gác Minh Hương ở Trung Quốc. Ông nội tôi chuyển về khu phố cổ Gia Hội này sinh sống với nghề làm thuốc gia truyền từ hơn 100 năm trước
  4. ↑ abPhan Kế Bính (1915). Việt Nam phong tục, thiên III, mục XL. Nhuộm răng (bản vi.wikisource)
#NhuộmRăngĐen#RăngĐenHạtHuyền#PhongTụcViệtNam#TụcNhuộmRăng#ThuốcNhuộmRăngĐen#RăngĐenNgườiViệt#PhongTụcDânTộcThiểuSố