Văn hoá miền Tây Nam Bộ hình thành từ đâu?
Văn hoá miền Tây Nam Bộ, hay văn hoá đồng bằng sông Cửu Long, hình thành trong quá trình khai hoang vùng đất phương Nam của người Việt và gắn chặt với hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt. Theo nghiên cứu của Tiến sỹ Hồ Thanh Hớn và Hồ Thị Cẩm Linh, Học viện Chính trị khu vực IV, các lễ hội ở đây ra đời trong chính quá trình khai hoang ấy, giúp người dân nâng cao ý thức biết ơn tiền nhân mở cõi và củng cố quan hệ gia đình, làng xóm, cộng đồng.
Sông nước ở miền Tây không chỉ là điều kiện tự nhiên mà còn là không gian sinh tồn, là mạch sống gắn bó với nhiều thế hệ cư dân. Trên những dòng sông ấy, ghe thuyền xuôi ngược, chợ nổi hình thành, làng nghề ven sông phát triển, tạo nên một nền văn hoá đặc thù khó trộn lẫn với vùng đất khác.
Nếp sống sông nước thể hiện qua những mặt nào?
Nếp sống sông nước hiện diện trong sinh hoạt đời thường, trong phương thức mưu sinh và trong cả nếp nghĩ của người dân. Đó là hình ảnh những chiếc ghe chở đầy nông sản, tiếng rao hàng vang vọng giữa sông, bữa cơm đậm vị phù sa và tình nghĩa xóm giềng. Tất cả hoà quyện thành một không gian văn hoá vừa mộc mạc vừa giàu chiều sâu nhân văn.
Cần Thơ là ví dụ rõ nét khi thành phố này gắn liền với hệ thống sông ngòi chằng chịt và xác định du lịch đường sông là một trong những sản phẩm đặc trưng. Câu ca dao quen thuộc "Cần Thơ gạo trắng nước trong, ai đi đến đó lòng không muốn về" không chỉ ngợi ca vùng đất trù phú mà còn hàm chứa chiều sâu văn hoá sông nước, nơi dòng sông Hậu bồi đắp nên tính cách phóng khoáng, nghĩa tình của cư dân.
Chợ nổi đồng bằng sông Cửu Long ra đời như thế nào?
Chợ nổi ra đời từ nhu cầu giao thương hàng hoá của cư dân vùng sông nước, khi giao thông đường bộ còn hạn chế. Các nhà nghiên cứu khẳng định chợ nổi hình thành theo quy luật tất yếu của phát triển thương mại, đáp ứng nhu cầu phân phối và tiêu thụ hàng hoá, đồng thời thể hiện tập quán đi lại, mua bán trên sông của cư dân Nam Bộ.
Địa hình hợp lưu của các nhánh sông tạo thành ngã ba, ngã tư, ngã năm, ngã sáu, thậm chí ngã bảy trên sông, là một trong những yếu tố quan trọng góp phần hình thành chợ nổi. Thạc sỹ Trần Thị Bích Thủy, Phân viện Văn hoá Nghệ thuật quốc gia Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, lý giải rằng để thích nghi với điều kiện sống nhiều sông rạch, cư dân miền sông nước đã hình thành phương thức mưu sinh đặc thù, mua bán và trao đổi hàng hoá trên sông nước bằng phương tiện vận tải đường thuỷ.
Về mốc thời gian, Tiến sỹ Nguyễn Trọng Nhân, Trường Đại học Cần Thơ, cho rằng chợ nổi ra đời tự nhiên từ hoạt động đi lại và mua bán trên sông, nên năm ra đời cụ thể của từng chợ chưa thấy tài liệu nào ghi chép lại. Qua tham vấn người dân địa phương và cư dân thương hồ, chợ nổi Cái Bè (Tiền Giang) có thể ra đời vào cuối thế kỷ XVIII, chợ nổi Cái Răng (Cần Thơ) hình thành vào đầu thế kỷ XX sau khi luồng lưu thông giữa sông Cần Thơ với rạch Cái Tư và sông Cái Lớn thuận tiện. Chợ nổi ở Cà Mau hay ở Long Xuyên, Châu Đốc (An Giang) có thể ra đời muộn hơn.
Các chợ nổi tiêu biểu ở đồng bằng sông Cửu Long
| Chợ nổi | Địa phương | Ghi chú |
|---|---|---|
| Cái Răng | Cần Thơ | Di sản văn hoá phi vật thể cấp quốc gia, được Tạp chí Rough Guide (Anh) bình chọn vào top 10 khu chợ ấn tượng nhất thế giới |
| Phong Điền | Cần Thơ | Chợ nổi gắn với vùng miệt vườn |
| Cái Bè | Tiền Giang | Có thể ra đời vào cuối thế kỷ XVIII |
| An Hữu | Tiền Giang | Chợ nổi trên sông Tiền |
| Ngã Năm | Sóc Trăng | Điểm giao của năm con sông, thuộc nhóm chợ nổi lâu đời và nhộn nhịp |
| Trà Men | Sóc Trăng | Chợ nổi tại địa bàn Sóc Trăng |
| Năm Căn | Cà Mau | Chợ nổi vùng đất mũi |
| Thới Bình | Cà Mau | Chợ nổi ở Cà Mau |
Cây bẹo và văn hoá kinh doanh thương hồ
Điểm nổi bật của giao thương ở chợ nổi là sự xuất hiện của những cây bẹo, cách thức tiếp thị, quảng cáo độc đáo giúp người mua nhận biết trên ghe, xuồng bán loại nông sản nào để ghé lại. Theo Nhà nghiên cứu văn hoá Trần Phỏng Diều, cây bẹo được coi là linh hồn của chợ nổi, thường là cây sào làm bằng tre tầm vông, treo lên đầu ngọn sào các loại trái cây, rau củ mà trên ghe có bày bán để từ xa người mua đã nhận biết được.
Thạc sỹ Trần Thị Bích Thủy cho rằng đây là cách quảng bá hàng hoá tại chỗ rất sinh động và cụ thể. Trước mũi ghe, người bán chỉ cần cắm hoặc gác một cây bẹo là sào dài, treo lủng lẳng nông sản, hàng hoá muốn bán. Vì thế, đến chợ sẽ thấy cây bẹo treo trái bí, trái bầu, có cây bẹo lại treo xoài, chôm chôm, nhãn, thơm. Đây là lối rao hàng độc đáo, không ồn ào, không níu kéo nhưng có sức thu hút khách hàng, là nét văn hoá kinh doanh thương hồ của chợ nổi.
Các thương hồ ở chợ nổi Cái Răng cho biết cây bẹo thường được dùng để giới thiệu trái cây, rau củ, hàng tạp hoá, nhưng cũng có mặt hàng bán mà không treo lên cây bẹo như xuồng, ghe bán hàng ăn uống và nước giải khát. Ngược lại, có mặt hàng treo mà không bán, chẳng hạn quần áo của chính thương hồ phơi trên ghe.
Nhịp sinh hoạt và hình thức mua bán
Tuỳ theo ngành hàng buôn bán, chợ nổi có thể họp cả ngày hoặc chỉ một buổi, nhưng điểm chung là đông nhất vào buổi sáng sớm, khoảng 3 đến 5 giờ sáng tuỳ từng chợ. Trước đây, khi chưa kết hợp với hoạt động du lịch, hầu hết chợ nổi là chợ bán sỉ, ít bán lẻ nông sản, hàng hoá. Hằng ngày, sau khi khách mua sỉ đã gần hết, người bán mới chuyển sang bán lẻ.
Chợ nổi còn là nơi hình thành nhiều điệu hò đối đáp độc đáo giữa những chàng trai thương hồ và cô gái miệt vườn, giao lưu văn nghệ bằng những câu hò trên mênh mang sông nước. Nhà nghiên cứu văn hoá Nam Bộ Nhâm Hùng ghi nhận đây là một nét đặc sắc của đời sống tinh thần ở chợ nổi.
Hệ thống lễ hội đồng bằng sông Cửu Long có gì đặc biệt?
Đồng bằng sông Cửu Long là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc cùng cộng cư, và các lễ hội ở đây là loại hình sinh hoạt văn hoá dân gian tổng hợp, hội tụ văn học, nghệ thuật biểu diễn, tôn giáo, phong tục và tín ngưỡng. Theo Tiến sỹ Hồ Thanh Hớn và Hồ Thị Cẩm Linh, vùng này có trên 1.230 lễ hội, trong đó lễ hội dân gian, truyền thống chiếm gần 70%.
Các lễ hội tiêu biểu có thể kể đến như cúng biển Mỹ Long, lễ Vu Lan thắng hội (lễ hội cúng ông Bổn Cầu Kè), lễ hội Ok Om Bok, Chôl Chnăm Thmây, Sen Dolta, lễ hội cúng Neak Tà, Nghinh Ông và tục thờ cúng Quan Âm Nam Hải. Ở tầm cấp quốc gia có Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam (An Giang), kỷ niệm Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực (Kiên Giang), lễ hội Nghinh Ông (Cà Mau).
Nhiều lễ hội mang dấu ấn của các dân tộc sinh sống trong vùng, như lễ hội Ok Om Bok, Sen Dolta, hội đua bò Bảy Núi của người Khmer, lễ Ramadan và Roya của người Chăm, cúng Bà Thiên Hậu của người Hoa. Ngoài ra còn có lễ hội quảng bá đặc sản vùng sông nước như Dừa Bến Tre, Bánh dân gian Nam Bộ.
Sự cộng cư của các dân tộc trong vùng
Đồng bằng sông Cửu Long là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc cùng cộng cư, có vai trò quan trọng đối với sự hình thành bản sắc văn hoá toàn vùng. Tỉnh Trà Vinh có nhiều lễ hội truyền thống của người Kinh, Khmer, Hoa như cúng biển Mỹ Long (huyện Cầu Ngang), cúng biển Động Cao (huyện Duyên Hải), lễ Vu Lan thắng hội, lễ Sel Dolta, Ok Om Bok.
Tại Long An, lễ hội Làm Chay, Vía bà Ngũ Hành và Đại lễ Kỳ Yên đình Tân Phước Tây đã được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể cấp quốc gia. Bến Tre hiện có 18 di tích lịch sử cấp quốc gia và quốc gia đặc biệt, cùng 4 di sản văn hoá phi vật thể được đưa vào danh mục quốc gia gồm lễ hội Nghinh Ông Bình Thắng, hát sắc bùa Phú Lễ, nghề truyền thống làm bánh tráng Mỹ Lồng, nghề truyền thống làm bánh phồng Sơn Đốc.
Chợ nổi và lễ hội đang được bảo tồn, phát huy ra sao?
Các địa phương trong vùng coi trọng bảo tồn di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, trong đó có lễ hội, và xem đây là nguồn lực quý góp phần phát triển kinh tế xã hội. Định hướng chung là phát triển kinh tế gắn kết với phát triển văn hoá.
Tại Cần Thơ, dù đời sống hiện đại đã làm thay đổi phần nào phương thức giao thương truyền thống, chợ nổi vẫn giữ vai trò quan trọng trong ký ức văn hoá cộng đồng và trở thành sản phẩm du lịch đặc trưng. Thành phố xác định du lịch đường sông là một trong những sản phẩm đặc trưng, có khả năng tạo sự khác biệt so với nhiều địa phương khác trong khu vực. Nhiều tour, tuyến du lịch gắn với sông nước, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng đã được hình thành, từng bước khai thác giá trị văn hoá bản địa.
Năm 2025, Cần Thơ đón hơn 11,1 triệu lượt khách, tăng 18% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách lưu trú đạt gần 5 triệu lượt. Doanh thu du lịch ước đạt gần 10.000 tỷ đồng, tăng 20% so với cùng kỳ năm 2024.
Tại Bến Tre, tỉnh kết hợp hài hoà việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá với các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch bền vững. Ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch cùng các địa phương tổ chức trưng bày, trình diễn, giới thiệu, truyền dạy các loại hình di sản đặc sắc, có nguy cơ mai một.
Tại Long An, tỉnh coi trọng công tác truyền thông nâng cao nhận thức và quảng bá di sản qua nhiều hình thức như tuyên truyền, quảng bá di tích trên phương tiện thông tin đại chúng, các diễn đàn, ấn phẩm để giáo dục lịch sử, văn hoá truyền thống. Nhiều di tích, cũng chính là nơi diễn ra các lễ hội truyền thống, đã trở thành nơi về nguồn của thanh thiếu niên, học sinh trong và ngoài tỉnh.
Tại Trà Vinh, các di sản văn hoá nói chung và lễ hội nói riêng là tài nguyên quý luôn được địa phương quan tâm bảo tồn, là nền tảng để tỉnh hình thành các sản phẩm du lịch đặc sắc, chương trình chuyên đề di sản. Công tác khai thác và phát huy giá trị di sản gắn với du lịch được tiến hành song song với công tác bảo tồn và trùng tu.
Đâu là điểm khác biệt so với các vùng văn hoá khác?
Điểm khác biệt căn bản nằm ở chỗ sông nước là không gian sinh tồn chính chứ không chỉ là yếu tố cảnh quan. Ở nhiều vùng khác, chợ họp trên đất liền và giao thương đường bộ đóng vai trò chủ đạo, còn ở đồng bằng sông Cửu Long, chợ nổi và giao thương đường thuỷ từng là phương thức mưu sinh đặc thù. Cách tiếp thị bằng cây bẹo cũng là nét riêng, phản ánh văn hoá kinh doanh thương hồ.
Về lễ hội, đồng bằng sông Cửu Long là nơi cộng cư của nhiều dân tộc, nên hệ thống lễ hội mang tính đan xen, hội tụ nhiều truyền thống tín ngưỡng khác nhau. Đây là đặc điểm ít gặp ở những vùng có thành phần dân tộc đồng nhất hơn. Sự đa dạng này thể hiện qua các lễ hội của người Kinh, Khmer, Hoa, Chăm cùng tồn tại và giao lưu trong một không gian văn hoá chung.
Các phái nghiên cứu có thống nhất về nguồn gốc chợ nổi không?
Không hoàn toàn thống nhất về mốc thời gian cụ thể. Từ góc độ nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đều khẳng định chợ nổi ra đời tự nhiên từ hoạt động đi lại và mua bán trên sông, nhưng năm ra đời cụ thể của từng chợ chưa thấy tài liệu nào ghi chép lại. Những mốc như chợ nổi Cái Bè cuối thế kỷ XVIII hay chợ nổi Cái Răng đầu thế kỷ XX là kết quả tham vấn người dân địa phương và cư dân thương hồ, không phải tài liệu lịch sử ghi chép chính thức. Các thương hồ khi được hỏi cũng cho biết họ không rõ chợ có chính xác từ khi nào, chỉ biết từ thuở ấu thơ đã theo cha mẹ lên ghe xuồng rong ruổi trên sông.
Về giá trị của chợ nổi, các nhà nghiên cứu đều thống nhất đây là nét văn hoá đặc trưng cần được duy trì và phát huy. Chợ nổi Cái Răng đã được công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể cấp quốc gia, và được Tạp chí du lịch Rough Guide (Anh) bình chọn là một trong 10 khu chợ ấn tượng nhất thế giới.
