Tri thức / Đông phương / Tử Vi Đẩu Số

Tử vi

Sao Quan Phủ vòng Bác Sĩ và Quan Phù vòng Thái Tuế khác nhau thế nào?

Thuật số truyền thống Hệ diễn giải cổ.

Sao Quan Phủ vòng Bác Sĩ và Quan Phù vòng Thái Tuế khác nhau thế nào?

TL;DR: Theo Tử Vi Việt Nam, Quan Phù và Quan Phủ là hai sao khác vòng. Quan Phù là sao thứ năm của vòng Thái Tuế, an theo chi năm sinh, luôn đi thuận. Quan Phủ là sao cuối của vòng Lộc Tồn (vòng Bác Sĩ), an theo can năm sinh, thuận hay nghịch tùy âm dương nam nữ. Tử Vi áo bí biện chứng học của Việt Viêm Tử ghi cả hai hành Hỏa, Quan Phù chủ thông minh, cơ mưu, quyền bính, Quan Phủ chủ thị phi, miệng tiếng; Tử Vi tổng hợp của Nguyễn Phát Lộc coi hai sao đồng nghĩa, cùng chỉ việc luật pháp, kiện tụng; Tử Vi đẩu số tân biên in cả hai là Quan Phù.

Quan Phủ và Quan Phù khác nhau như thế nào?

Trong Tử Vi, hai sao Quan Phù và Quan Phủ dễ bị nhầm vì tên gần giống nhau, nhưng chúng thuộc hai vòng sao khác nhau và an theo hai cách khác nhau. Bài này trình bày cách an và cách hiểu theo Tử Vi Việt Nam, dựa trên Tử Vi áo bí biện chứng học của Việt Viêm Tử, Tử Vi đẩu số tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi tổng hợp của Nguyễn Phát Lộc và Tử Vi nghiệm lý của Thiên Lương; chỗ nào các sách nói khác nhau thì nêu riêng từng sách.

Quan Phù trong vòng Thái Tuế là gì?

Quan Phù là một trong 12 sao thuộc vòng Thái Tuế, an theo chi của năm sinh. Việt Viêm Tử chép vòng này gồm 12 sao "an thuận mỗi cung một sao": Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù[1]. Tử Vi đẩu số tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang ghi cùng thứ tự và nói rõ "dù là nam số hay nữ số, cứ theo chiều thuận"[2].

Ví dụ: người sinh năm Dần, an Thái Tuế tại cung Dần. Sau đó an Thiếu Dương tại cung Mão, Tang Môn tại Thìn, Thiếu Âm tại Tỵ, Quan Phù tại Ngọ, Tử Phù tại Mùi, Tuế Phá tại Thân, Long Đức tại Dậu, Bạch Hổ tại Tuất, Phúc Đức tại Hợi, Điếu Khách tại Tý, Trực Phù tại Sửu.

Như vậy, Quan Phù luôn đứng thứ năm kể từ Thái Tuế, tức ở thế tam hợp với Thái Tuế và Bạch Hổ. Việt Viêm Tử viết: "Quan-Phù thuộc Hỏa. Chủ thông minh, cơ mưu quyền bính"[1]. Theo sách này, Quan Phù hợp với Thái Tuế, Tuế Phá, hay hội với Thiên Cơ, Thiên Lương, Tang Môn, Bạch Hổ, Thiên Hình ở miếu địa thì thêm phần tốt đẹp về văn chương, binh nghiệp. Vân Đằng Thái Thứ Lang cũng ghi Quan Phù hành Hỏa, "Biết xét đoán, lý luận. Hay giúp đỡ", chủ thị phi, kiện cáo, những việc liên quan đến pháp luật[2].

Cũng theo Tử Vi áo bí biện chứng học, khi Quan Phù hội với Thái Tuế, Đà La, Thiên Hình, Hóa Kỵ ở hãm địa thì sách luận là dễ gặp chuyện hình pháp hoặc thị phi nơi cửa công, và chép câu: "Quan-phù Tấu Tuế một đoàn / Đêm ngày chầu chực cửa quan mỏi mòn"[1], tức Quan Phù đi cùng Tấu Thư, Thái Tuế thì sách cho là hay phải lui tới cửa quan. Thiên Lương đọc theo hướng khác: ông đặt Quan Phù trong thế tam hợp Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ và tả người có Mệnh ở vị trí Quan Phù là người "có ý tứ tính toán kỹ càng"[4].

Quan Phủ trong vòng Bác Sĩ là gì?

Quan Phủ là sao cuối cùng của vòng Bác Sĩ, vòng sao mà Tử Vi đẩu số tân biên gọi là Lộc Tồn tinh hệ. Theo Vân Đằng Thái Thứ Lang, trước hết an Lộc Tồn theo can của năm sinh, rồi "dương nam, âm nữ theo chiều thuận còn âm nam, dương nữ theo chiều nghịch", mỗi cung an một sao theo thứ tự Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh và sao cuối cùng[2]. Tử Vi áo bí biện chứng học chép cùng cách an và ghi thêm rằng Bác Sĩ bao giờ cũng đồng cung với Lộc Tồn[1].

Điểm khác căn bản là vòng an. Quan Phù theo chi năm sinh và luôn đi thuận; Quan Phủ theo can năm sinh và đổi chiều theo âm dương nam nữ. Vì là sao thứ mười hai của vòng, Quan Phủ luôn đứng sát cạnh Lộc Tồn: Tử Vi áo bí biện chứng học nêu ví dụ Lộc Tồn ở Tỵ, an thuận thì Quan Phủ ở Thìn cùng Đà La, an nghịch thì Quan Phủ ở Ngọ cùng Kình Dương[1]. Về tên gọi, phần an sao và phần nghĩa sao của Tử Vi đẩu số tân biên in cả hai sao là Quan Phù (mục 3.60 và 3.73, đều hành Hỏa), trong khi các lá số mẫu của chính sách ấy in sao vòng Lộc Tồn là Quan Phủ[2].

Về nghĩa, Việt Viêm Tử ghi Quan Phủ thuộc Hỏa, chủ thị phi, miệng tiếng; hội với Thái Tuế, Thiên Hình, Cự Môn ở miếu địa thì sách cho "lại là người rất giỏi về luật pháp có tài biện thuyết"[1]. Vân Đằng Thái Thứ Lang ghi gọn hơn: sao này "Gây rắc rối, phiền nhiễu. Ngăn trở mọi công việc"[2]. Nguyễn Phát Lộc thì coi hai sao là một nghĩa: "Thái Tuế bao giờ cũng tam chiếu với Quan phù. Còn Quan Phủ thì lại đồng nghĩa với Quan Phù"[3]; theo ông, ba sao này điển hình cho ngành luật và mọi chuyện liên quan đến luật pháp.

Ở các cung Tài Bạch, Điền Trạch, Tử Vi tổng hợp viết về nhóm Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ, Hóa Kỵ: "Những sao này chỉ cách hao tài sản do sự lường gạt, phản bội"[3], và giải rằng ứng vào điền sản thì nhóm sao này chỉ việc tranh chấp, kiện thưa về nhà đất. Đây là lời luận của sách về cả nhóm sao, không riêng Quan Phủ.

Bảng so sánh Quan Phủ và Quan Phù có những tiêu chí nào?

Tiêu chíQuan PhùQuan Phủ
Vòng an saoVòng Thái TuếVòng Lộc Tồn (vòng Bác Sĩ)
Căn cứ anChi năm sinh, luôn đi thuậnCan năm sinh, thuận hay nghịch theo âm dương nam nữ
Vị trí trong vòngSao thứ 5, tam hợp với Thái TuếSao thứ 12, đứng cạnh Lộc Tồn
HànhHỏa (Áo bí, Tân biên)Hỏa (Áo bí, Tân biên)
Nghĩa theo Tử Vi áo bí biện chứng họcThông minh, cơ mưu, quyền bínhThị phi, miệng tiếng
Nghĩa theo Tử Vi đẩu số tân biênXét đoán, lý luận; thị phi, kiện cáo, việc pháp luậtGây rắc rối, phiền nhiễu, ngăn trở công việc
Nghĩa theo Tử Vi tổng hợpViệc luật pháp, kiện tụngĐồng nghĩa với Quan Phù

Vì sao dễ nhầm lẫn giữa Quan Phủ và Quan Phù?

Có ba lý do chính khiến người học Tử Vi dễ nhầm hai sao này:

Thứ nhất, tên gọi gần giống nhau: "Quan Phủ" và "Quan Phù" chỉ khác một dấu thanh. Trong tiếng Việt, "Phủ" và "Phù" là hai chữ Hán khác nhau, nhưng khi đọc lên rất dễ lẫn.

Thứ hai, cả hai đều mang chữ "Quan", gợi liên tưởng đến quan trường, công môn, kiện tụng. Điều này khiến người học mới dễ nghĩ chúng là một sao hoặc cùng một nhóm.

Thứ ba, chính các sách cũng không tách bạch: Tử Vi tổng hợp của Nguyễn Phát Lộc coi Quan Phủ đồng nghĩa với Quan Phù và thường luận hai sao chung một nhóm với Thái Tuế, còn Tử Vi đẩu số tân biên in tên cả hai là Quan Phù.

Tuy nhiên, về mặt cấu trúc lá số, Quan Phù thuộc vòng Thái Tuế, còn Quan Phủ thuộc vòng Bác Sĩ. Đây là điểm khác biệt căn bản mà người học cần nắm vững.

Cách an Quan Phù và Quan Phủ trong lá số như thế nào?

Để tránh nhầm lẫn, người học cần nắm rõ quy tắc an sao của từng vòng.

An Quan Phù (vòng Thái Tuế):

  • Xác định cung Thái Tuế: cung có địa chi trùng với chi năm sinh. Ví dụ: sinh năm Dần, an Thái Tuế tại cung Dần.
  • An thuận 12 sao theo thứ tự: Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù.
  • Quan Phù luôn ở vị trí thứ 5, cách Thái Tuế 4 cung theo chiều thuận.

Theo sách Tử Vi áo bí biện chứng học của Việt Viêm Tử, vòng Thái Tuế có 12 sao, cứ mỗi cung thì đặt một sao theo chiều thuận. Sách cũng nhắc nhở: Thái Tuế với Tuế Phá hay được gọi chung là bộ lưỡng tuế, hai sao này lúc nào cũng nằm ở hai cung đối nhau. Tang Môn và Bạch Hổ gọi là bộ Tang Hổ, cũng luôn xung chiếu[1].

An Quan Phủ (vòng Bác Sĩ):

  • An Lộc Tồn theo can năm sinh: Giáp ở Dần, Ất ở Mão, Bính và Mậu ở Tỵ, Đinh và Kỷ ở Ngọ, Canh ở Thân, Tân ở Dậu, Nhâm ở Hợi, Quý ở Tý. Bác Sĩ đồng cung với Lộc Tồn.
  • Dương nam, âm nữ đi thuận; âm nam, dương nữ đi nghịch; mỗi cung một sao: Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ.
  • Quan Phủ là sao thứ 12: vòng đi thuận thì Quan Phủ ở cung liền sau Lộc Tồn, cùng Đà La; vòng đi nghịch thì ở cung liền trước Lộc Tồn, cùng Kình Dương.

Cách an này giống nhau ở Tử Vi đẩu số tân biên và Tử Vi áo bí biện chứng học[2]. Ví dụ: nam sinh năm Giáp (dương nam) có Lộc Tồn ở Dần, vòng đi thuận, Quan Phủ ở Sửu; nữ sinh năm Giáp (dương nữ) vòng đi nghịch, Quan Phủ ở Mão. Vì hai vòng độc lập, có lá số Quan Phủ và Quan Phù rơi vào cùng một cung, chẳng hạn nam sinh năm Bính Tý: Quan Phù ở Thìn (cách Thái Tuế ở Tý bốn cung), Quan Phủ cũng ở Thìn (liền sau Lộc Tồn ở Tỵ).

Các sách luận Quan Phù và Quan Phủ ra sao?

Dưới đây là lời luận của từng sách về tổ hợp sao, không phải lời đoán cho một lá số cụ thể.

Quan Phù, theo Tử Vi áo bí biện chứng học:

  • Bản tính sao: thông minh, cơ mưu, quyền bính.
  • Hội với Thái Tuế, Tuế Phá, hay với Thiên Cơ, Thiên Lương, Tang Môn, Bạch Hổ, Thiên Hình ở miếu địa: sách cho là thêm tốt đẹp về văn chương, binh nghiệp.
  • Hội với Thái Tuế, Đà La, Thiên Hình, Hóa Kỵ ở hãm địa: sách luận là dễ vướng chuyện hình pháp, thị phi nơi cửa công.
  • Đi cùng Tấu Thư, Thái Tuế: sách chép là hay phải lui tới cửa quan.

Quan Phủ, theo từng sách:

  • Tử Vi áo bí biện chứng học: hội với Liêm Trinh, Thiên Hình và Thái Tuế ở hãm địa thì sách luận là hay mắc thị phi, quan tụng; hội với Thái Tuế, Thiên Hình, Cự Môn ở miếu địa thì giỏi luật pháp, có tài biện thuyết.
  • Tử Vi đẩu số tân biên: gây rắc rối, phiền nhiễu, ngăn trở công việc.
  • Tử Vi tổng hợp: cùng Quan Phù, Thái Tuế chỉ việc kiện tụng vì tiền bạc, tranh chấp tài sản; riêng với người làm nghề luật thì sách không luận theo nghĩa ấy.

Những điểm cần lưu ý khi luận giải Quan Phù và Quan Phủ là gì?

Thứ nhất, không nên gộp chung Quan Phủ và Quan Phù thành một sao hoặc một nhóm sao duy nhất. Dù cả hai đều có thể chỉ về kiện tụng, hao tài, nhưng cơ chế và vòng an sao khác nhau.

Thứ hai, Quan Phù thuộc vòng Thái Tuế, an theo chi năm sinh và luôn đi thuận. Quan Phủ thuộc vòng Lộc Tồn, an theo can năm sinh và đổi chiều theo âm dương nam nữ, nên phải biết giới tính mới an được.

Thứ ba, khi luận giải, cần xem xét Quan Phù và Quan Phủ trong tổng thể lá số, kết hợp với các sao khác như Thái Tuế, Hóa Kỵ, Phục Binh, Thiên Không, Tang Môn, Bạch Hổ, Thiên Hình. Không nên chỉ dựa vào một sao để kết luận.

Thứ tư, các sách không nói giống nhau. Tử Vi áo bí biện chứng học cho mỗi sao một nghĩa riêng; Tử Vi tổng hợp coi hai sao đồng nghĩa; Tử Vi đẩu số tân biên in chung một tên Quan Phù; Tử Vi nghiệm lý của Thiên Lương chỉ bàn Quan Phù trong thế tam hợp với Thái Tuế, Bạch Hổ. Khi đọc một lời luận, nên biết nó thuộc sách nào.

Tóm tắt về Quan Phù và Quan Phủ như thế nào?

Quan Phù và Quan Phủ là hai sao khác vòng an. Quan Phù thuộc vòng Thái Tuế, an theo chi năm sinh; Tử Vi áo bí biện chứng học ghi sao này chủ thông minh, cơ mưu, quyền bính. Quan Phủ thuộc vòng Lộc Tồn (vòng Bác Sĩ), an theo can năm sinh và âm dương nam nữ; cùng sách ấy ghi sao này chủ thị phi, miệng tiếng. Cả hai được các sách ghi hành Hỏa, và Tử Vi tổng hợp luận chung hai sao trong nhóm chỉ việc luật pháp, kiện tụng.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Quan Phủ và Quan Phù có phải là một sao không?

Không. Quan Phủ thuộc vòng Lộc Tồn (vòng Bác Sĩ), an theo can năm sinh; Quan Phù thuộc vòng Thái Tuế, an theo chi năm sinh. Các sách đều ghi hai sao hành Hỏa; Tử Vi tổng hợp của Nguyễn Phát Lộc coi hai sao đồng nghĩa, còn Tử Vi áo bí biện chứng học cho mỗi sao một nghĩa riêng.

Quan Phù thuộc hành gì và có ý nghĩa gì?

Theo sách Tử Vi áo bí biện chứng học của Việt Viêm Tử, Quan Phù thuộc Hỏa, chủ về thông minh, cơ mưu, quyền bính. Sao này hợp với Thái Tuế, Tuế Phá, hoặc hội với Cơ, Lương, Tang, Hổ, Hình ở miếu địa thì tăng phần rực rỡ về văn chương, binh nghiệp.

Khi nào Quan Phủ và Quan Phù gây hao tài, kiện tụng?

Theo sách Tử Vi tổng hợp của Nguyễn Phát Lộc, khi Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ hội với Hóa Kỵ, thường chỉ cách hao tài do lường gạt, phản bội, giựt nợ, trốn nợ, quỵt hụi, hoặc do kiện tụng mà hao hụt của cải. Ứng vào điền trạch, có thể có tranh chấp đất đai, ruộng vườn.

Bài này thuộc chủ đề Tử Vi Đẩu Số. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Tử Vi Đẩu Số.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefgViệt Viêm Tử (Hà Lạc Dã Phu). Tử Vi áo bí biện chứng học
  2. ↑ abcdefVân Đằng Thái Thứ Lang (1956). Tử Vi đẩu số tân biên. Sài Gòn
  3. ↑ abNguyễn Phát Lộc. Tử Vi tổng hợp
  4. ↑Thiên Lương. Tử Vi nghiệm lý toàn thư (Tử Vi nghiệm lý, in lần đầu 1974)
#QuanPhủ#QuanPhù#VòngTháiTuế#VòngBácSĩ#TửVi#SaoTửVi