
TL;DR: Tết miền Bắc xoay quanh ba trục: mâm cỗ cúng gia tiên với bánh chưng, giò, chả, dưa hành; hoa đào gắn với mùa xuân vùng châu thổ sông Hồng cùng chợ hoa Hà Nội, mà Đại Việt sử ký toàn thư ghi tên từ năm 1516; và nếp nhà sum họp trong ba ngày đầu năm. Đây là các tục lệ có ghi chép trong chính sử và sách phong tục, không phải một khuôn mẫu cố định cho mọi nhà, vì mỗi vùng, mỗi thời đều có biến đổi riêng.
Ăn Tết miền Bắc là gì và gồm những tục lệ nào?
Tết miền Bắc là cách gọi quen miệng cho tập hợp các tục lệ đón Tết Nguyên đán ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, gồm ba nhóm chính: cúng lễ trong nhà, sắm và bày biện (hoa, cỗ, tranh, câu đối), và sinh hoạt cộng đồng trong ba ngày đầu năm. Tết Nguyên đán (nguyên nghĩa là bắt đầu, đán là buổi sáng) còn được gọi là Tết ta hoặc Tết cả theo nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm, và theo tác giả Nguyễn Thị Hà thì đây là ngày lễ cổ truyền lớn nhất, lâu đời nhất, phổ biến rộng nhất trong cả nước[1].
Tết bắt nguồn từ đời sống nông nghiệp lúa nước của người Việt cổ, với ý nghĩa đón mùa gặt thành công sau một vụ gieo trồng và chào đón vụ cấy kế tiếp[1].
Bài này tập trung vào ba trục mà người đọc thường hỏi nhất: mâm cỗ, hoa đào và nếp nhà ba ngày Tết. Các tục khác như dựng nêu, đốt pháo, hái lộc, khai xuân, chơi xuân, chúc Tết cũng thuộc Tết miền Bắc nhưng sẽ chỉ nhắc khi cần đối chiếu[1].
Mâm cỗ Tết miền Bắc truyền thống gồm những gì?
Mâm cỗ Tết miền Bắc truyền thống là mâm cúng gia tiên sáng mồng một, bắt buộc phải có bánh chưng, cỗ gồm giò, chả, dưa hành, thịt bò, và tuỳ nhà còn có thêm các món khác. Đây là mô tả của Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục, in lần đầu năm 1915[2].
Sách không ràng buộc cỗ to hay nhỏ, nhưng để đúng là cỗ ngày Tết thì nhất thiết phải hội đủ bánh chưng, cá kho, giò, chả, dưa hành và thịt bò[2]. Như vậy, danh sách món không phải một thực đơn cứng mà là bộ món tối thiểu làm nên tính chất ngày Tết.
Một số nhà còn dựng hai cây mía cạnh bàn thờ để làm gậy cho ông vải, tức tổ tiên[2]. Đây là tục vùng, không phải nhà nào cũng làm.
Kiêng quét nhà ngày Tết
Phan Kế Bính còn ghi tục kiêng quét nhà và hốt rác trong ba ngày Tết, chỉ vun rác vào một xó, đợi hết ba ngày mới đem đổ[2]. Ông dẫn chuyện người lái buôn Âu Minh trong Sưu thần ký làm gốc cho tục kiêng này[2].
Vì sao người miền Bắc chưng hoa đào ngày Tết?
Người miền Bắc chưng hoa đào ngày Tết vì đào nở đúng vào mùa xuân ở vùng châu thổ sông Hồng, và vì sắc đào đã trở thành biểu tượng mùa xuân trong thơ văn Việt từ nhiều thế kỷ. Theo nghiên cứu của GS Trần Quốc Vượng được dẫn lại trên báo Nhân Dân, kiểu khí hậu vùng châu thổ sông Hồng với gió Đông (ấm hơn gió mùa Đông Bắc) khiến hoa đào trở thành minh chứng cho loài hoa có thể nở trong gió bấc, và chính sự gặp gỡ giữa hoa đào và gió bấc đã kết thành biểu tượng mùa xuân[3].
Nhà nghiên cứu này cũng phản bác ý kiến cho rằng đào Nhật Tân gốc Trung Quốc mới có mặt ở nước ta khoảng 300 năm, lập luận rằng giao lưu văn hoá tất yếu kéo theo hội nhập cây ngoại sinh, và đã có đào ta, đào phai, đào bích, đào phớt kép gốc Vân Nam cùng tồn tại[3].
Đào cũng xuất hiện trong thơ chữ Nôm cổ: Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi có tới sáu bài về hoa đào, trong đó có bài Một đoá đào hoa khéo tốt tươi, và Đào Duy Anh chú chữ kiện tiễn là quý mến phi thường[3]. Đây là bằng chứng văn bản cho thấy đào đã đi vào tâm thức người Việt ít nhất từ thế kỷ 15.
Chợ hoa Hàng Lược và tuổi của chợ hoa Hà Nội
Chợ hoa Hàng Lược là chợ hoa Tết nổi tiếng của Hà Nội, họp vào ngày áp Tết. Theo bài trên báo Nhân Dân, chợ hoa của đất Thăng Long xưa mang tên chợ Hoàng Hoa, được Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ thực lục quyển XV ghi là thuộc trại Ngọc Hà, với niên đại 1516, năm thứ nhất niên hiệu Quang Thiệu đời Lê Chiêu Tông[3].
Như vậy, chính sử đã chỉ đích danh làng hoa Ngọc Hà và chợ hoa cạnh đó có niên đại 500 năm tính đến thời điểm bài báo viết[3]. GS Trần Quốc Vượng lưu ý rằng tên phường An Hoa với cánh đồng Bông ở Yên Phụ đã có từ thời Lý, và dẫn ca dao về chợ hoa An Quang: Phiên Rằm chợ chính An Quang, yêu hoa anh đợi hoa nàng mới mua[3].
Cũng theo bài báo, Toàn thư Bản kỷ thực lục quyển X chép việc năm Kỷ Dậu Thuận Thiên thứ hai (1429), tháng 3, ngày 20, vua Lê Thái Tổ hạ lệnh cho đô tổng quản cùng các quan viên ở các phường trong kinh thành phải trồng cây, trồng hoa và rau đậu, không được bỏ hoang[3].
Cần lưu ý sự khác biệt giữa hai mốc: chợ hoa có thể có trước khi sử chép, còn đoạn phố Hàng Lược ngày nay vốn là lòng sông Tô Lịch bị lấp cuối thế kỷ 19, nên tuổi của con phố không đồng nhất với tuổi của tục họp chợ hoa[3].
Ba ngày Tết ở miền Bắc diễn ra như thế nào?
Ba ngày Tết ở miền Bắc là ba ngày đầu năm âm lịch, mỗi ngày có trọng tâm riêng trong tín ngưỡng và sinh hoạt, nhưng không có một kịch bản chung bắt buộc cho mọi nhà. Phan Kế Bính mô tả trình tự: nửa đêm hôm ba mươi rạng mồng một cúng giao thừa, sáng mồng một làm cỗ cúng gia tiên và cúng cả Thổ công, Táo quân, Nghệ sư[2].
Theo sách chép, phong tục giao thừa xuất phát từ niềm tin rằng mỗi năm có một ông Hành khiển trông coi việc nhân gian; khi năm hết, vị thần này chuyển giao công việc cho vị thần khác, vì vậy người ta cúng tế nhằm tiễn ông cũ và đón ông mới[2]. Tại thành phố, mọi nhà đều đặt hương án giữa sân để cúng giao thừa; còn ở thôn quê, các xóm tế giao thừa tại điếm sở, trống đánh, pháo đốt[2].
Sách cũng ghi tục chọn người xông đất: nhiều nhà nhờ một người phúc hậu dễ tính đến sáng sớm xông đất, để cả năm được bán đắt buôn may[2]. Đây là tục có ghi chép, không phải suy diễn của người viết sau này.
Trong dân gian, ngày mồng một người ta giữ gìn lời ăn tiếng nói, vì cho rằng nói bậy thì giông cả năm[2]. Đây là lời của quan niệm, không phải mệnh đề về hiệu lực thực tế của việc kiêng lời.
Nếp nhà và sự sum họp
Nếp nhà ba ngày Tết ở miền Bắc được mô tả trong nhiều tư liệu văn học: sum họp gia đình, cúng gia tiên, mừng tuổi, chơi xuân. Bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Hà trên Tạp chí Khoa học (2023) tổng hợp rằng nét đẹp Tết Việt thời phong kiến được lưu lại qua văn hoá vật chất (trang trí nhà cửa, mua sắm Tết, ăn uống) và văn hoá tinh thần (cúng kính, chơi hoa, dựng nêu, đốt pháo, đón giao thừa, khai xuân, hái lộc, chơi xuân, chúc Tết)[1].
Trong bài nghiên cứu ấy, thơ Đoàn Văn Cừ được dẫn ra kèm những chi tiết: gạo nếp ngày xuân để gói bánh chưng, cá đêm cuối chạp nướng trên than hồng, quần đào áo đỏ, tranh gà lợn, cùng cơm tám, dưa hành, thịt mỡ đông[1]. Đây là bằng chứng văn học cho thấy các món cỗ và sắc màu Tết đã ăn sâu vào thi ca từ nửa đầu thế kỷ 20.
Bảng đối chiếu các tục Tết miền Bắc theo nguồn
| Tục lệ | Nguồn ghi nhận | Thời điểm trong Tết | Ghi chú phạm vi |
|---|---|---|---|
| Cúng giao thừa tại sân hoặc điếm sở | Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục[2] | Nửa đêm hôm ba mươi rạng mồng một | Thành thị và thôn quê có cách làm khác nhau[2] |
| Cỗ cúng gia tiên có bánh chưng, giò, chả, dưa hành | Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục[2] | Sáng mồng một | Cỗ to nhỏ tuỳ nhà, không có thực đơn cứng[2] |
| Dựng hai cây mía cạnh bàn thờ | Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục[2] | Ba ngày Tết | Sách ghi có nhà làm, không phải tục phổ quát[2] |
| Kiêng quét nhà, hốt rác | Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục[2] | Ba ngày Tết | Sách nêu gốc từ Sưu thần ký[2] |
| Chọn người xông đất | Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục[2] | Sáng sớm mồng một | Tiêu chí chọn là người phúc hậu, dễ tính[2] |
| Chưng hoa đào | Nhân Dân dẫn nghiên cứu Trần Quốc Vượng[3] | Suốt Tết | Gắn với khí hậu châu thổ sông Hồng[3] |
| Chợ hoa Hàng Lược | Nhân Dân, dẫn Đại Việt sử ký toàn thư[3] | Ngày áp Tết | Tên cũ là chợ Hoàng Hoa, thuộc trại Ngọc Hà[3] |
Những điểm các nguồn không thống nhất
Có ít nhất hai chỗ tư liệu không đồng thuận, và người đọc nên biết để không bị một nguồn duy nhất dẫn dắt.
Thứ nhất là nguồn gốc cây đào Nhật Tân. Có ý kiến cho rằng đào Nhật Tân gốc Trung Quốc và mới có mặt ở Việt Nam khoảng 300 năm; GS Trần Quốc Vượng phản bác và cho rằng giao lưu văn hoá tất yếu dẫn đến hội nhập cây ngoại sinh, trong khi đào ta, đào phai, đào bích, đào phớt kép gốc Vân Nam cùng tồn tại[3]. Đây là chỗ các nhà nghiên cứu chưa thống nhất, và bài này trình bày cả hai phía.
Thứ hai là tuổi của chợ hoa Hàng Lược. Mốc 500 năm dựa trên ghi chép năm 1516 trong chính sử, nhưng bản thân GS Trần Quốc Vượng cũng lưu ý rằng chợ hoa có trước khi sử chép, và con phố Hàng Lược ngày nay vốn là lòng sông Tô Lịch bị lấp cuối thế kỷ 19[3]. Nghĩa là tuổi của tục họp chợ hoa và tuổi của con phố là hai chuyện khác nhau, không nên đánh đồng.
Gợi ý của Nhật Nguyệt khi đọc về Tết miền Bắc
Khi tìm hiểu Tết miền Bắc, nên tách ba tầng thông tin: tầng dữ kiện (chính sử chép chợ hoa năm 1516, sách phong tục 1915 ghi mâm cỗ), tầng quan niệm (kiêng quét nhà, chọn người xông đất), và tầng diễn giải văn học (thơ Đoàn Văn Cừ, Nguyễn Bính). Ba tầng này không thay thế nhau.
Gợi ý của Nhật Nguyệt: nếu bạn đang tìm hiểu để làm nội dung, dạy học, hoặc phục dựng Tết cho gia đình, hãy dùng bảng đối chiếu ở trên làm khung, rồi bổ sung chi tiết của địa phương mình. Không có bản gốc hay bản chuẩn của tục Tết để các nơi khác bị đo theo; khác biệt giữa các vùng là khác biệt, không phải sai lệch.
