
TL;DR: Tết thời bao cấp gắn với tem phiếu và túi hàng Tết tiêu chuẩn, gồm mứt, chè, thuốc lá, rượu, miến, bánh đa, mì chính và bóng bì. Người dân phải xếp hàng từ sáng sớm để mua, dành dụm tem phiếu từ nhiều tháng trước, và nhiều gia đình cùng góp lá dong, gạo nếp, chất đốt để luộc chung một nồi bánh chưng.
Tết thời bao cấp là gì?
Tết thời bao cấp là cái Tết của những năm nhu yếu phẩm được phân phối theo tem phiếu và mua ở cửa hàng mậu dịch. Hàng Tết về với mỗi gia đình qua "túi hàng Tết" mua bằng phiếu, theo tiêu chuẩn[2]. Những ký ức dẫn trong bài là của vài người kể lại trên báo, phần lớn ở Hà Nội. Trong ký ức của nhiều người, Tết thời ấy bắt đầu từ lúc nhìn thấy túi hàng Tết được bố mẹ mang về, thường trước Tết khoảng một tuần, có năm sớm hơn hoặc muộn hơn tùy thời điểm xếp hàng mua được[1].
Nhà nghiên cứu lịch sử Ngô Vương Anh kể lại rằng với trẻ con thời bao cấp, Tết bắt đầu khi nhìn thấy "túi hàng Tết" mua bằng phiếu mua hàng, chứa một hộp mứt thập cẩm 250 gram, một miếng bóng bì 150 gram, một túi kẹo, một gói chè Ba Đình, một gói thuốc lá Điện Biên, một chai rượu mùi, 200 gram miến, một xấp bánh đa, một túi nhỏ hạt tiêu và một túi mì chính khoảng 50 gram[1].
Túi hàng Tết thời bao cấp gồm những gì?
Túi hàng Tết là một chiếc túi nilon to đựng gần như trọn vẹn phong vị Tết mà ngày thường không thể có. Theo ghi chép của nhà nghiên cứu Ngô Vương Anh, các món trong túi gần như năm nào cũng giống nhau: hộp mứt thập cẩm 250 gram với năm sáu vị mứt, nhiều nhất là mứt bí, vài viên lạc bọc đường trắng mà trẻ con gọi là "trứng chim", vài miếng cà rốt, vài miếng khoai tây, vài miếng mứt gừng, có năm thêm vài quả táo khô hoặc một quả quất[1].
Bài báo trên Báo Nhân Dân kể túi hàng Tết có bóng bì, bánh đa nem, mộc nhĩ, nấm hương, miến dong, hạt tiêu, mì chính, chè gói Ba Đình, thuốc lá giấy bạc Điện Biên, tất cả đựng trong túi nylon và bán với giá rẻ[2].
Cô Trịnh Thị Thúy, khi được phỏng vấn năm 2019, nhớ lại túi hàng Tết thời bao cấp gồm một bánh pháo, một hộp mứt Tết, chè, một chai rượu hoa quả và một gói kẹo của Xí nghiệp Bánh Mứt Kẹo Hà Nội[3].
| Món trong túi hàng Tết | Định lượng ghi trong ký ức | Ghi chú |
|---|---|---|
| Mứt thập cẩm | 250 gram | Nhiều mứt bí, lạc bọc đường, cà rốt, khoai tây, mứt gừng[1] |
| Bóng bì | 150 gram | Miếng bóng bì cong queo[1] |
| Miến | 200 gram | Miến dong[2] |
| Mì chính | Khoảng 50 gram | Thứ các bà mẹ thích nhất[1] |
| Chè | Một gói | Thường mang nhãn Ba Đình[1] |
| Thuốc lá | Một gói | Thường là loại Điện Biên bao bạc[1] |
| Rượu mùi | Một chai | Chanh hoặc cam, thực chất là cồn pha phẩm và hương liệu[1] |
| Bánh đa nem | Một xấp | Dùng để gói nem[1] |
| Hạt tiêu | Một túi nhỏ | Gia vị[1] |
Xếp hàng mua bánh mứt Tết diễn ra như thế nào?
Xếp hàng là hoạt động trung tâm của Tết thời bao cấp. Người dân phải đến cửa hàng mậu dịch từ sáng sớm, có khi từ 3 đến 4 giờ sáng, để chờ mua hàng Tết theo tiêu chuẩn[3]. Mỗi người chỉ được mua một định lượng nhất định: 3 lạng thịt, 1 cân bột mì, 1 túi hàng Tết[3].
Cô Trịnh Thị Thúy kể: "Xếp hàng từ 3 - 4 giờ sáng nhưng mỗi người chỉ được 3 lạng thịt, 1 cân bột mì, 1 túi hàng Tết trong đó có: 1 bánh pháo, 1 hộp mứt Tết, chè, 1 chai rượu hoa quả và 1 gói kẹo của Xí nghiệp Bánh Mứt Kẹo Hà Nội lúc bấy giờ"[3].
Nhà nghiên cứu Ngô Vương Anh cũng nhớ lại rằng túi hàng Tết được mua bằng phiếu mua hàng, bố mẹ mang về nhà trước Tết khoảng một tuần, tùy theo thời gian có thể đi xếp hàng mà mua về từ cửa hàng mậu dịch[1].
Vì sao phải dành dụm tem phiếu từ nhiều tháng trước?
Vì tem phiếu có hạn và định lượng thấp, muốn có đủ nguyên liệu cho Tết, nhiều gia đình phải dành dụm từ nhiều tháng trước. Những người biết lo xa tích cóp nhu yếu phẩm cho ngày Tết từ trước đó[2]. Các bà nội trợ gom góp đường, sữa tiêu chuẩn để dành làm mứt, chè kho, quy gai, quy xốp, vì thiếu đường và sữa thì không thể làm được những thứ ấy[2].
Để có nếp gói bánh chưng, các bà bớt gạo tiêu chuẩn trong sổ để đổi lấy nếp, cất kỹ để dành gói bánh[2]. Việc dành dụm này diễn ra âm thầm nhưng quyết định thành bại của cái Tết: không có nếp thì không có bánh chưng, mà không có bánh chưng thì với nhiều người, Tết mất đi ý nghĩa trọn vẹn[2].
Nồi bánh chưng tập thể thời bao cấp hoạt động ra sao?
Nồi bánh chưng tập thể là một nét đặc trưng trong ký ức Tết thời bao cấp ở khu phố, làng xóm. Nhiều gia đình chung nhau một cái nồi to, thường là thùng phuy 200 lít, để luộc bánh chưng[1]. Bánh của mỗi nhà được đánh dấu bằng lạt buộc để không bị lẫn[1].
Nhà nghiên cứu Ngô Vương Anh kể: "Mấy nhà sẽ chọn một khoảnh làm bếp chung, kê nồi luộc bánh chưng. Lại có khi mấy nhà cùng chung nhau một cái nồi to (thường là cái thùng phuy 200 lít) mà luộc bánh, tất nhiên bánh của nhà nào đã được đánh dấu bằng lạt buộc, chẳng thể sai được"[1].
Chất đốt để luộc bánh cũng phải dành dụm: củi nhặt được dồn lại riêng cho nồi bánh chưng[1]. Trẻ con và người lớn tụ tập quanh bếp lửa trông bánh, kể chuyện, đến khi những đứa bé nhất ngủ rũ ra trong lòng người lớn[1].
Bài báo trên Báo Nhân Dân cũng ghi lại cảnh nhiều gia đình đụng lợn, chung lá dong, đóng tiền chất đốt, dạm trước thùng luộc bánh, gói riêng to nhỏ tùy ý[2].
Tết thời bao cấp có gì khác với Tết hôm nay?
Khác biệt lớn nhất nằm ở cách chuẩn bị. Tết thời bao cấp là cả một quá trình chuẩn bị kéo dài hàng tháng, từ dành dụm tem phiếu, xếp hàng mua hàng, đến gói bánh, luộc bánh, sửa nhà. Ngày nay, việc mua sắm Tết theo lời ông chỉ là sát Tết đi mua một vòng là xong[1].
Một khác biệt khác là thời gian nghỉ. Thời bao cấp, công nhân viên chức chỉ được nghỉ ba ngày Tết, không có nghỉ dồn dài như bây giờ[1]. Trẻ con thích Tết vì được ăn ngon, mặc đẹp hơn ngày thường, trong khi ngày nay điều đó đã trở nên phổ biến quanh năm[1].
Việc đi lại thăm quê cũng khác. Phương tiện thời bao cấp ít và kém hơn, mỗi chuyến đi là một thử thách, có khi phải dành phép từ giữa năm mới về được quê vài ngày[1].
Những món ăn và hương vị Tết thời bao cấp để lại ký ức gì?
Cũng trong bài báo trên Báo Nhân Dân, tác giả nhớ thứ bánh Tết của quê mình ở Bắc Ninh: bánh phu thê làng Đình Bảng. Bánh phu thê làm từ nếp cái hoa vàng, đu đủ sợi, đậu xanh, dừa, mứt sen, nước quả dành dành và nước hoa bưởi chưng cất, gói lá dong và luộc trong 40 phút[2].
Người làng Đình Bảng từ xưa dành riêng một thửa ruộng để cấy lúa nếp cái hoa vàng; cứ 10 kg gạo nếp lọc được 4 kg bột bánh[2]. Bánh phu thê được dùng làm lễ dâng trên bàn thờ gia tiên cùng bánh chưng[2].
Theo lời kể ấy, khi các việc khác đã lo xong, mâm ngũ quả trên bàn thờ gia tiên "chỉ còn thiếu bánh chưng Tết để được trân trọng dâng lễ"[2].
Ký ức Tết thời bao cấp được ghi lại như thế nào?
Ký ức Tết thời bao cấp chủ yếu được ghi lại qua hồi ức cá nhân đăng trên báo chí, qua các bài phỏng vấn người từng trải, và qua một số nghiên cứu lịch sử. Nhà nghiên cứu Ngô Vương Anh, trong bài viết đăng Báo Đại Đoàn Kết đầu năm 2020, nhấn mạnh rằng Tết của thế hệ ông mang dấu ấn của thời đại, và dù màu sắc nào thì Tết với mỗi người luôn đẹp[1].
Ông cũng cho rằng cần giữ những "hằng số Tết" như tinh thần tống cựu nghinh tân, tình cảm hiếu đễ, không khí gia đình thuận hòa, truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo[1].
Bài báo trên VietNamNet năm 2019 ghi lại ký ức của cô Trịnh Thị Thúy về thời tem phiếu và nhận xét rằng dù vất vả khó khăn, ngày Tết vẫn đầy niềm vui và sự háo hức[3].
Tết thời bao cấp có còn ảnh hưởng đến Tết hôm nay?
Ảnh hưởng rõ nhất là ở cách nhớ và cách kể. Nhiều người lớn lên thời bao cấp vẫn tìm về hương vị truyền thống qua mứt Tết, bánh kẹo cổ truyền, như cô Trịnh Thị Thúy vẫn mua bánh mứt của Công ty Cổ phần bánh mứt kẹo Hà Nội, tiền thân là Xí nghiệp Bánh Mứt Kẹo Hà Nội[3].
Một ảnh hưởng khác là sự trân trọng những giá trị sum họp. Tết trong quan niệm người Việt là thời gian cả gia đình quây quần bên mâm cỗ, bên bàn trà, hàn huyên tâm sự[3]. Điều này vẫn được nhắc đến như một hằng số của Tết, dù hình thức có thay đổi.
Cách nhìn nhận Tết thời bao cấp như một thời đáng nhớ là cách nhìn của những người từng trải qua, được ghi lại trên báo chí[1][2][3].