Nhật Nguyệt

Tri thức / Đông phương / Tử Vi Đẩu Số

Tử vi

Đại hạn trong tử vi là gì, khởi từ cung nào, đi chiều nào và bắt đầu từ tuổi nào?

Chia sẻ:
Đại hạn trong tử vi là gì, khởi từ cung nào, đi chiều nào và bắt đầu từ tuổi nào?
TL;DR: Đại hạn là khung thời gian mười năm trong lá số tử vi, khởi từ cung Mệnh rồi đi lần lượt qua các cung: Dương Nam và Âm Nữ đi thuận chiều kim đồng hồ, Âm Nam và Dương Nữ đi ngược chiều. Tuổi bắt đầu đại hạn thứ nhất bằng số cục, tính theo tuổi mụ: Thủy nhị cục khởi hai tuổi, Mộc tam cục khởi ba, Kim tứ cục khởi bốn, Thổ ngũ cục khởi năm, Hỏa lục cục khởi sáu. Đại hạn chỉ là khung thời gian để đối chiếu với bản mệnh, không phải lời phán mười năm tốt hay xấu.

Đại hạn trong tử vi là gì?

Đại hạn là một trong hai tầng vận hạn chính của lá số tử vi, bên cạnh tiểu hạn. Nếu lá số gốc, còn gọi là lá số cố định, mô tả toàn bộ con người, gia đình, công danh, tài lộc, sức khỏe của đương số trong suốt cuộc đời, thì đại hạn chia cuộc đời ấy thành những chặng mười năm. Mỗi chặng neo vào một cung trong mười hai cung, và cung ấy tạm thời đóng vai trò cung Mệnh của cả thập kỷ.

Đại hạn đi thuận hay nghịch tùy âm dương của năm sinh và giới tính.
Đại hạn đi thuận hay nghịch tùy âm dương của năm sinh và giới tính.

Trang tracuutuvi.com mô tả vận hạn là sự biến đổi về may mắn, tai họa hoặc thăng trầm trong một khoảng thời gian nhất định, và phân vận hạn thành hai loại: đại vận và tiểu vận. Cách nói "đại vận" và "đại hạn" trong tử vi Việt Nam thường được dùng thay nhau, cùng chỉ chặng mười năm. Muốn luận một năm cụ thể thì phải dựng thêm lớp tiểu hạn, muốn luận tháng thì dựng thêm lớp nguyệt hạn; càng đi vào đơn vị thời gian nhỏ thì càng nhiều yếu tố phải cân nhắc và càng dễ sai.

Đại hạn khởi từ cung nào và đi theo chiều nào?

Đại hạn thứ nhất luôn khởi từ cung Mệnh của lá số gốc. Từ đó trở đi, mỗi đại hạn kế tiếp dịch sang một cung liền kề, theo chiều tùy thuộc vào giới tính và âm dương của năm sinh. Sách Đẩu số tinh thành, tập 1, phần 1, ghi rõ quy tắc: Dương Nam và Âm Nữ đi thuận, Âm Nam và Dương Nữ đi nghịch, mỗi cung quản mười năm.

Nói cách khác, có bốn nhóm đương số:

  • Dương Nam, tức nam sinh năm dương lịch âm: đi thuận, lần lượt từ Mệnh sang Phụ Mẫu, Phúc Đức, Điền Trạch và tiếp tục.
  • Âm Nữ, tức nữ sinh năm âm lịch âm: cũng đi thuận như Dương Nam.
  • Âm Nam, tức nam sinh năm âm lịch âm: đi nghịch, từ Mệnh sang Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức và tiếp tục.
  • Dương Nữ, tức nữ sinh năm dương lịch âm: cũng đi nghịch như Âm Nam.

Trong Tử vi đẩu số Mệnh vận phân tích, Từ Tăng Sinh dẫn ra trường hợp một tiểu thư có năm sinh Giáp Thìn; vì thuộc Dương Nữ nên hướng đại hạn của cô là ngược chiều. Khởi điểm đại hạn thứ nhất của cô rơi vào khoảng 5 đến 14 tuổi; qua mốc 14 tuổi, cung đại hạn chuyển tới cung Huynh Đệ, nắm mười năm 15 đến 24 tuổi. Trình tự tương tự tiếp tục cho mười một cung còn lại.

Đại hạn bắt đầu từ tuổi nào?

Tuổi bắt đầu của đại hạn thứ nhất không phải lúc nào cũng là một, mà bằng số cục của cung Mệnh, tính theo tuổi mụ. Sách Đẩu số tinh thành nêu ví dụ Thủy nhị cục thì đại hạn thứ nhất ở cung Mệnh, từ 2 đến 11 tuổi; đại hạn thứ hai từ 12 đến 21 tuổi; các hạn sau suy rộng ra theo cùng nguyên tắc. Từ con số khởi đầu ấy, mỗi chặng cộng thêm mười tuổi.

Cục của cung MệnhTuổi khởi đại hạn thứ nhất (tuổi mụ)Đại hạn thứ nhấtĐại hạn thứ hai
Thủy nhị cục22 đến 1112 đến 21
Mộc tam cục33 đến 1213 đến 22
Kim tứ cục44 đến 1314 đến 23
Thổ ngũ cục55 đến 1415 đến 24
Hỏa lục cục66 đến 1516 đến 25

Bảng trên chỉ là khung chuẩn cho đại hạn thứ nhất và thứ hai; các đại hạn từ thứ ba trở đi cứ cộng thêm mười tuổi vào mốc trước đó. Cần lưu ý rằng phần lớn tài liệu Việt Nam tính theo tuổi mụ, tức tuổi âm cộng thêm một so với tuổi dương. Đây là một trong những chỗ các phái không hoàn toàn thống nhất, sẽ bàn ở phần dưới.

Cách đọc một đại hạn cụ thể

Khi đại hạn nhập vào một cung, cung ấy được coi như cung Mệnh của mười năm đó. Muốn luận, ta làm hai việc song song: xét tam phương tứ chính của cung đại hạn, và xét can của cung đại hạn.

Về tam phương tứ chính, cung đại hạn đóng vai trò chính, ba cung tam hợp và cung xung chiếu đóng vai trò phụ trợ. Các sao tọa thủ tại cung đại hạn, các sao hội chiếu từ tam hợp và xung chiếu, cùng các sao giáp cung, đều được đưa vào cân nhắc. Sách Tử vi kinh nghiệm, quyển hạ, có câu phú đoán rằng nếu tam phương đầy sát tinh mà gặp Triệt thì còn có thể cứu được, còn nếu bốn hướng đều đẹp mà gặp Tuần thì mất vẻ đẹp. Ý nói Triệt và Tuần có thể làm đổi chiều cục diện của một đại hạn, theo hướng này hay hướng kia.

Về can của cung đại hạn, đây là điểm thường bị bỏ sót. Can của cung đại hạn không giống can năm sinh, nên nó dẫn ra một bộ Tứ Hóa riêng cho mười năm ấy. Từ Tăng Sinh dẫn một lá số trong sách của ông, nơi đại vận nhập cung Tý, khoảng 33 đến 42 tuổi. Ở đây, cung Tài Bạch của đại hạn nằm tại Canh Thân, khiến Thiên Đồng Hóa Kỵ rơi vào cung Mệnh của đại hạn; đồng thời cung Quan Lộc của đại hạn nằm tại Bính Thìn, khiến Thiên Đồng Hóa Lộc cũng rơi vào cung Mệnh của đại hạn. Chỉ một sao Thiên Đồng mà mang cả Hóa Lộc lẫn Hóa Kỵ, thành ra thế vừa thuận vừa nghịch ngay trong chính mười năm đó. Đây là lý do vì sao không thể chỉ đọc các sao có sẵn trên lá số gốc rồi kết luận cho cả thập kỷ.

Vì sao cùng một cung đại hạn lại cho kết quả khác nhau?

Bản thân cung đại hạn không tự nói lên tốt hay xấu. Sách Tử vi đẩu số Mệnh vận phân tích nhấn mạnh rằng bốn lớp lá số là Bản Mệnh, Đại Hạn, Lưu Niên và Lưu Nguyệt liên kết với nhau theo kiểu tầng tầng điều khiển; nếu một khâu nào đó đứt mối liên hệ thì kết quả sau cùng không thể hình thành. Cùng một cung đại hạn, đặt vào hai lá số gốc khác nhau, sẽ cho hai câu chuyện khác nhau.

Một ví dụ được ghi trong các tài liệu tử vi Việt Nam: có người gặp đại vận bị xem là rất dở, chính tinh lạc hãm và khắc mệnh, nhưng lại tay trắng làm nên. Theo cách giải thích được đưa ra, cung đại vận ấy có thể nằm trong tam hợp tuổi, hoặc mệnh có Tuần, Triệt gỡ bỏ thế kẹt. Điều này cho thấy không nên áp một công thức cứng nhắc lên mọi lá số.

Sách Tử vi kinh nghiệm, quyển hạ, cũng có những cặp đối chiếu đáng chú ý giữa đại hạn và tiểu hạn: mười năm xấu mà gặp một năm tốt thì chỉ ở mức bình thường; mười năm tốt mà gặp một năm xấu thì đỡ xấu; mười năm tốt gặp năm tốt thì phát đạt; mười năm xấu gặp năm xấu thì rất gian nan. Đây là lối luận theo tỷ lệ, không phải theo lối cộng trừ sao tốt sao xấu.

Một lá số ví dụ hư cấu

Để hình dung cách đi, ta dựng một lá số giả định: nam sinh năm dương lịch âm, tức Dương Nam, cung Mệnh đóng tại Dần, cục là Thổ ngũ cục.

Vì là Dương Nam nên đại hạn đi thuận. Vì là Thổ ngũ cục nên tuổi khởi là 5.

Đại hạnCungKhoảng tuổi (tuổi mụ)
Thứ nhấtMệnh tại Dần5 đến 14
Thứ haiPhụ Mẫu tại Mão15 đến 24
Thứ baPhúc Đức tại Thìn25 đến 34
Thứ tưĐiền Trạch tại Tỵ35 đến 44
Thứ nămQuan Lộc tại Ngọ45 đến 54

Giả sử cung Quan Lộc tại Ngọ có can là Bính. Khi đại hạn thứ năm nhập cung này, ta lấy can Bính để phi hóa, rồi xem các hóa ấy rơi vào cung nào của lá số gốc, đồng thời xét tam phương tứ chính của cung Ngọ. Nếu cung Ngọ vốn có chính tinh hãm địa nhưng được tam hợp và xung chiếu hội về nhiều cát tinh, đại hạn vẫn có thể dùng được. Ngược lại, nếu chính tinh miếu vượng mà bốn phía đều là sát tinh, cái đẹp bị phá.

Ví dụ này chỉ để minh họa cách đi và cách đọc. Không có lá số thật nào được dựng ở đây, và không có kết luận nào về một cá nhân cụ thể.

Chỗ các phái không thống nhất

Có ít nhất ba điểm khác biệt đáng kể giữa các phái và các sách.

Thứ nhất là mốc đổi đại hạn. Phần lớn tài liệu Việt Nam tính theo tuổi mụ, tức tuổi âm cộng thêm một. Nhưng một số người luận theo sinh nhật thật, cho rằng đại hạn đổi vào đúng ngày sinh chứ không đổi vào đầu năm âm lịch. Sách Đẩu số tinh thành ghi rõ là tuổi mụ, còn các tài liệu tử vi Việt Nam phần lớn theo cách này. Hai lối cho ra lệch nhau khoảng vài tháng đến một năm ở mỗi mốc, đủ để đổi kết luận của một sự kiện rơi đúng vào giao điểm.

Thứ hai là lối "lưu đại hạn" đếm từng năm trong đại hạn, phổ biến trong các sách Việt. Thay vì chỉ xét cả khối mười năm, người ta còn đếm từng năm một trong khối ấy để biết năm nào là trọng tâm. Sách Tử vi kinh nghiệm, quyển hạ, có phần đối chiếu đại hạn và tiểu hạn theo lối này. Cách đếm cụ thể khác nhau giữa các sách, và không phải sách nào cũng ghi giống nhau.

Thứ ba là lối của phái Tứ Hóa. Phái này không chỉ đọc các sao có sẵn tại cung đại hạn, mà xếp lại mười hai cung đại hạn thành một lá số mới, rồi dùng can của từng cung trong lá số mới ấy để phi hóa. Trong Khâm Thiên Tứ Hóa, tuyển tập số 1, có một đoạn bàn rằng khi đại hạn trùng điệp với vị trí của Hóa Kỵ gắn với vật tượng, chẳng hạn bất động sản, thì mười năm ấy sẽ xảy ra sự việc liên quan đến bất động sản. Cách luận này đòi hỏi dựng cả một bàn đại hạn riêng, chứ không chỉ nhìn các sao tọa thủ.

Cũng cần nói thêm rằng chính cách khởi đại hạn cũng từng bị đặt lại vấn đề. Có tài liệu ghi nhận rằng khi kiểm tra nhiều lá số có sự kiện bất thường, người ta thấy áp dụng một cách khởi khác biệt lại cho kết quả khớp hơn; nhưng cũng có ý kiến cho rằng không thể vội bác bỏ cách khởi thông thường, mà phải chiêm nghiệm thêm trên nhiều lá số có sự kiện rõ rệt. Đây là vấn đề còn để ngỏ, không có kết luận chung.

Đại hạn chỉ là khung, không phải lời phán

Điều quan trọng nhất khi đọc một đại hạn là nhớ nó là khung thời gian để đối chiếu, không phải bản án cho mười năm. Cùng một cung đại hạn, đặt cạnh một bản mệnh vững thì câu chuyện khác hẳn đặt cạnh một bản mệnh yếu. Cùng một bộ sao, gặp Tuần hay Triệt thì đổi chiều. Cùng một chính tinh, tùy can cung mà hóa Lộc hay hóa Kỵ. Và cùng một đại hạn, đặt trong chuỗi các đại hạn liền kề thì ý nghĩa lại khác, vì đại hạn trước và đại hạn sau có thể hóa giải hoặc làm nặng thêm cho nhau.

Vì vậy, khi thấy một đại hạn có nhiều cát tinh, không nên kết luận ngay là mười năm ấy chắc chắn tốt. Khi thấy một đại hạn có nhiều sát tinh, cũng không nên kết luận ngay là mười năm ấy chắc chắn xấu. Cách đọc có trách nhiệm là nêu rõ cung đại hạn, các sao hội chiếu, can cung và các lớp vận hạn liên quan, rồi để người đọc tự đối chiếu với hoàn cảnh thật của mình.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Đại hạn trong tử vi kéo dài bao nhiêu năm và khởi từ đâu?

Mỗi đại hạn kéo dài mười năm. Đại hạn thứ nhất luôn khởi từ cung Mệnh của lá số gốc, sau đó mỗi chặng kế tiếp dịch sang một cung liền kề theo chiều thuận hoặc nghịch tùy giới tính và âm dương của năm sinh.

Dương Nam Âm Nữ và Âm Nam Dương Nữ khác nhau thế nào khi tính đại hạn?

Dương Nam và Âm Nữ đi thuận chiều, lần lượt từ Mệnh sang Phụ Mẫu, Phúc Đức, Điền Trạch. Âm Nam và Dương Nữ đi ngược chiều, từ Mệnh sang Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức. Cả hai nhóm đều mỗi cung quản mười năm.

Tuổi bắt đầu đại hạn thứ nhất được tính như thế nào?

Lấy số cục của cung Mệnh làm tuổi khởi, tính theo tuổi mụ. Thủy nhị cục khởi hai tuổi, Mộc tam cục khởi ba, Kim tứ cục khởi bốn, Thổ ngũ cục khởi năm, Hỏa lục cục khởi sáu. Các đại hạn sau cộng thêm mười tuổi vào mốc trước.

Bài này thuộc chủ đề Tử Vi Đẩu Số. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Tử Vi Đẩu Số.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Cách tính vận hạn trong tử vi
  2. Giải đoán Đại Tiểu Hạn: Một vài khía cạnh cần nhớ
#ĐạiHạn#TửVi#ĐạiVận#CáchTínhĐạiHạn#TuổiMụ#ThủyNhịCục#HỏaLụcCục#TamPhươngTứChính