Tri thức / Việt Nam

Phong tục Tết

Câu đối Tết có từ đâu và người xưa treo ở đâu?

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Câu đối Tết có từ đâu và người xưa treo ở đâu?

TL;DR: Câu đối Tết là hai vế đối nhau viết trên giấy đỏ, được cho là bắt nguồn từ tục treo thẻ gỗ đào khắc hình thần giữ cửa của người Trung Hoa cổ; ở Việt Nam có giai thoại tương truyền từ thời vua Lê Thánh Tông. Người xưa dán, treo câu đối ở cửa ra vào, cột nhà và bàn thờ tổ tiên để cầu bình an, thịnh vượng. Muốn viết được một đôi câu đối phải nắm luật bằng trắc, niêm luật và các lối đối như câu cách cú, câu gối hạc.

Câu đối Tết là gì và có từ bao giờ?

Câu đối Tết là hai vế song hành, số chữ bằng nhau, đối nhau về âm, nghĩa và từ loại, thường được viết trên giấy đỏ hoặc gỗ sơn son thếp vàng, treo ở cửa nhà, cột cái, bàn thờ tổ tiên trong dịp Tết Nguyên Đán. Trong tâm thức người Việt, câu đối Tết là một trong sáu thứ tiêu biểu nhất của ngày Tết cổ truyền, bên cạnh bánh chưng, cây nêu, tràng pháo, dưa hành và thịt mỡ[2].

Về nguồn gốc, có nhiều thuyết khác nhau và giới nghiên cứu không hoàn toàn thống nhất. Bài trên báo Nhân Dân dẫn một từ điển Trung Quốc: ngày trước, đến Tết dân chúng lấy gỗ đào khắc hình hai vị thần treo ngoài cửa để đuổi tà ma, đó là thẻ đào (đào phù); sau thay bằng giấy vẽ, và đến đời Hậu Thục thì phát triển thành câu đối, người treo câu đối đầu tiên là Mạnh Xưởng[1]. Bài báo ghi tên hai thần là Trần Trà và Quách Lũy; Phan Kế Bính chép là Thần trà, Uất lũy[4].

Bài báo cũng nhắc bài thơ Nguyên đán của Vương An Thạch đời Tống, trong đó có câu nói chuyện thay thẻ đào đón năm mới, và ghi thêm rằng có nhà nghiên cứu cho là câu đối xuân đã có trước đó nhiều[1].

Ở Việt Nam, theo Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, câu đối là một phần của cảnh sắm Tết. Sách chép: trước Tết nửa tháng, các thầy đồ nhà quê ra chợ viết câu đối bán, và cách Tết một vài hôm thì "Câu đối đỏ dán cửa, dán cột sáng choang, treo tranh treo liễn trang hoàng lịch sự"[4]. Điều này cho thấy ít nhất đến đầu thế kỷ 20, câu đối Tết đã trở thành một phần không thể thiếu trong không gian Tết Việt.

Người xưa treo câu đối Tết ở đâu?

Người xưa treo câu đối Tết ở những vị trí trang trọng nhất trong ngôi nhà, nơi khách đến chơi và con cháu nhìn thấy đầu tiên. Cụ thể:

  • Cửa ra vào: Phan Kế Bính chép câu đối đỏ dán cửa[4]; bài trên Tuổi Trẻ ghi người ta dán trước cửa những câu như Xuất nhập bình an, Ngũ phúc lâm môn[5].
  • Cột nhà: câu đối giấy đỏ dán cột[4]; câu đối gỗ sơn then hoặc sơn son, chữ vàng, có khi làm hình cong để ốp vào cột[1].
  • Bàn thờ tổ tiên: ngày Tết bàn thờ gia tiên thường có một vài câu đối đỏ, gửi lòng thành kính với tổ tiên và lời cầu cho con cháu khỏe mạnh, làm ăn phát đạt[2].
  • Trong nhà: nhà khá giả mua thêm đôi câu đối hay để trang hoàng hoặc thờ trong nhà[1]; Tuổi Trẻ còn kể chữ Đại kiết dán trên tủ, chữ Mãn dán ở lu gạo[5].

Theo Phan Kế Bính, nhiều nhà còn dán tranh Quan tướng hoặc bốn chữ "Thần trà Uất lũy" trước cửa, với ý nghĩa để quỷ sợ mà không dám vào nhà[4]. Tục này có cùng gốc với tục treo câu đối: đều xuất phát từ quan niệm dùng chữ nghĩa và biểu tượng để trấn áp tà ma, cầu an lành.

Luật đối cơ bản: viết câu đối Tết cần tuân theo những gì?

Muốn viết một đôi câu đối Tết đúng chuẩn, người viết phải nắm được các luật cơ bản sau:

Quy tắcNội dungVí dụ
Đối ýHai vế phải cân xứng với nhau về ý"Ngói đỏ lợp nghè" đối với "Đá xanh xây cống"
Đối từ loạiDanh từ đối danh từ, động từ đối động từ, tính từ đối tính từ"Trời" đối với "Đất"
Đối thanh (bằng trắc)Chữ bằng (không dấu hoặc dấu huyền) phải đối với chữ trắc (dấu sắc, hỏi, ngã, nặng)"Xuân" (bằng) đối với "Tết" (trắc)
Số chữHai vế phải có số chữ bằng nhauVế 1 bảy chữ thì vế 2 cũng bảy chữ

Theo bài viết trên báo Nhân Dân, ngoài các quy tắc trên, câu đối còn chia thành nhiều lối khác nhau[1]:

  • Câu cách cú: mỗi vế gồm hai đoạn đối, ngắn dài tiếp nhau. Ví dụ: "Ngói đỏ lợp nghè // lớp trên đè lớp dưới. Đá xanh xây cống // hòn dưới nống hòn trên."
  • Câu gối hạc (hạc tất): mỗi vế có từ ba đoạn trở lên, giống chân con hạc. Ví dụ: "Nào thuở trước dưới rừng cây // nghe nhạc ngựa // thấp thoáng bóng dù dáng kiệu // những than dài chí cả trượng phu. Mà đến nay ngồi bệ ngọc ngắm tranh người // xôn xao đầu mũ gót hài // lại làm khoảng ngôi sang hoàng đế."

Câu đối không quy định số chữ, có thể ngắn hoặc dài, miễn là hai vế đối chỉnh và đúng luật bằng trắc[1].

Câu đối Tết ở Việt Nam có gì đặc biệt?

Theo báo Nhân Dân, ngày nay câu đối Tết không chỉ viết bằng chữ Hán mà còn viết bằng chữ Việt[1].

Theo bài viết trên báo VTC News, tương truyền vào một năm nọ, vua Lê Thánh Tông dạo phố xem dân ăn Tết, thấy một nhà không treo câu đối bèn vào hỏi. Biết đó là nhà một người thợ nhuộm vợ góa, con trai đi vắng, vua sai lấy giấy bút viết tặng: "Thiên hạ thanh hoàng giai ngã thủ; Triều đình chu tử tổng ngô gia" (Xanh vàng thiên hạ đều tay tớ; Đỏ tía triều đình tự cửa ta)[2]. Đây là chuyện tương truyền, không phải sử liệu; nó cho thấy trong trí nhớ dân gian, câu đối Tết gắn với cả vua lẫn dân.

Vì sao câu đối Tết thường viết trên giấy đỏ?

Theo bài viết trên VTC News, câu đối Tết thường được viết trên giấy màu đỏ, vì màu đỏ tượng trưng cho sự đầm ấm, hợp với không khí thiêng liêng của ngày Tết[2]. Bài báo nêu thêm rằng màu đỏ có lẽ còn mang hàm ý của tục dùng màu đỏ để dọa con quỷ trong truyền thuyết, rằng cũng có khi người ta viết trên giấy vàng nhưng ít hơn, và vì chữ đen viết trên giấy đỏ hay hồng đào nên gọi chung là câu đối đỏ[2].

Những câu đối Tết nổi tiếng và cách chơi câu đối ngày xuân

Câu đối Tết nổi tiếng nhất trong văn hóa Việt Nam có lẽ là đôi câu đối dân gian: "Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ / Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh"[3]. Đôi câu đối này liệt kê sáu thứ không thể thiếu trong ngày Tết cổ truyền, trong đó câu đối đỏ đứng cạnh thịt mỡ và dưa hành, gợi lên một không gian Tết vừa vật chất vừa tinh thần.

Một giai thoại khác kể về Vương Hi Chi đời Tấn, nhà thư pháp trứ danh, chiều ba mươi Tết treo đôi câu đối "Phúc vô song chí" (Phúc không đến hai lần) và "Họa bất đơn hành" (Họa chẳng đi một mình). Ai xem cũng cau mày bỏ đi vì cho là điềm gở. Đến hôm sau, Vương Hi Chi viết thêm vào phần dưới: "Phúc không đến cặp, sớm nay đến. Họa chẳng đi xuông, tối trước đi", biến đôi câu đối thành lời chúc thâm thúy[1]. Giai thoại này cho thấy câu đối không chỉ là văn chương mà còn là trò chơi chữ nghĩa đầy thú vị.

Theo bài viết trên báo VietnamNet, viết câu đối, trưng câu đối và bình luận về lời hay ý đẹp của câu đối vốn là phong tục đầy bản sắc văn hóa của ông cha ta[3]. Xưa kia, những bậc danh nho nổi tiếng đều tự tay viết câu đối trên nền giấy đỏ, treo trang trọng trong nhà để dịp Tết cùng bạn bè đàm đạo. Người ít chữ thì đến xin câu đối của bậc danh nho, hoặc mua câu đối ở những phiên chợ Tết[3].

Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục cũng ghi nhận rằng câu đối liễn còn được dùng trong các dịp mừng thọ, mừng đỗ đạt, với các hình thức như sơn son thếp vàng, khảm trai, hoặc thêu vóc[4]. Điều này cho thấy câu đối không chỉ gắn với Tết mà còn là một hình thức văn hóa chúc tụng trong nhiều dịp trọng đại của đời người.

Câu đối Tết ngày nay còn được chơi không?

Theo báo Nhân Dân, ngày nay nhiều nhà thư pháp và người dân vẫn giữ thú chơi câu đối Tết, và mục câu đối vẫn có trên các tờ báo Tết[1]. VietnamNet ghi rằng câu đối in sẵn ít nơi còn bán như trước, chỉ còn các ông đồ thời nay bày sạp ở Văn Miếu[3].

Câu đối Tết khác câu đối thờ và câu đối mừng như thế nào?

Câu đối Tết, câu đối thờ và câu đối mừng đều là câu đối, nhưng khác nhau về mục đích sử dụng và nội dung:

Loại câu đốiMục đíchVị trí treoNội dung thường gặp
Câu đối TếtChúc mừng năm mới, cầu bình anCửa ra vào, cột nhà, bàn thờ gia tiênChúc xuân, ca ngợi thiên nhiên, cầu an khang
Câu đối thờCa ngợi công đức tổ tiên, thần thánhBàn thờ, đình chùaNhắc đến công lao tiền nhân, cầu phù hộ
Câu đối mừngChúc mừng thọ, mừng đỗ đạt, mừng tân giaNhà riêng, từ đườngCa ngợi người được mừng, chúc phúc

Theo Phan Kế Bính, câu đối liễn trong các dịp mừng thọ hoặc mừng đỗ đạt thường được làm bằng vóc, vải tây đỏ, hoặc sơn son thếp vàng, khảm trai[4]. Trong khi đó, câu đối Tết chủ yếu viết trên giấy đỏ để dán và thay mới hàng năm[2].

Tổng kết

Câu đối Tết là một phong tục văn hóa lâu đời, được cho là bắt nguồn từ tục treo thẻ gỗ đào khắc hình thần giữ cửa của người Trung Hoa cổ, rồi thành một thú chơi ngày xuân của người Việt, với giai thoại tương truyền từ thời vua Lê Thánh Tông. Người xưa treo câu đối ở cửa ra vào, cột nhà, bàn thờ và những nơi trang trọng khác trong nhà. Muốn viết được một đôi câu đối đúng chuẩn, người viết phải nắm vững luật đối về ý, từ loại, thanh bằng trắc và các lối đối như câu cách cú, câu gối hạc. Ngày nay, dù hình ảnh ông đồ viết câu đối ngày Tết đã mai một, câu đối Tết vẫn là một biểu tượng đẹp của văn hóa Việt Nam trong dịp Tết Nguyên Đán.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Câu đối Tết có nguồn gốc từ đâu?

Theo báo Nhân Dân, câu đối Tết bắt nguồn từ tục khắc hình hai vị thần giữ cửa trên gỗ đào để đuổi tà ma, sau thay bằng giấy vẽ và đến đời Hậu Thục thì thành câu đối; cũng có nhà nghiên cứu cho là câu đối xuân có từ trước đó. Ở Việt Nam có giai thoại vua Lê Thánh Tông viết câu đối tặng dân, và Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính tả cảnh thầy đồ ra chợ viết câu đối bán trước Tết.

Người xưa thường treo câu đối Tết ở đâu trong nhà?

Người xưa treo câu đối Tết ở cửa ra vào, cột cái, cột hiên và bàn thờ tổ tiên. Theo Phan Kế Bính, nhiều nhà còn dán tranh Quan tướng hoặc bốn chữ Thần trà Uất lũy trước cửa để trấn tà.

Muốn viết một đôi câu đối Tết cần tuân theo những luật gì?

Câu đối Tết phải tuân theo các luật cơ bản: đối ý, đối từ loại, đối thanh bằng trắc và số chữ hai vế phải bằng nhau. Ngoài ra còn có các lối đối như câu cách cú (mỗi vế hai đoạn) và câu gối hạc (mỗi vế ba đoạn trở lên). Câu đối không quy định số chữ, có thể ngắn hoặc dài miễn là đối chỉnh.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefghiNhân Dân, Đoạn về nguồn gốc câu đối và các lối đốiCâu đối Tết-thú chơi đặc biệt
  2. ↑ abcdefVTC News, Đoạn về giai thoại vua Lê Thánh Tông và tục viết câu đối trên giấy đỏCâu đối Tết thường viết vào giấy màu đỏ, tượng trưng cho sự đầm ấm
  3. ↑ abcdVietnamNet, Đoạn về câu đối trong đời sống TếtViết câu đối, trưng câu đối và bình luận về lời hay, ý đẹp của câu đối vốn là phong tục đầy bản sắc văn hóa của ông cha ta
  4. ↑ abcdefgPhan Kế Bính (1915). Việt Nam phong tục. Đăng trên Đông Dương tạp chí 1913-1914, in thành sách 1915; bản số hoá: Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, in lại 1973, Trang 9, mục Tết nguyên đánCác thầy đồ nhà quê ra chợ viết câu đối bản
  5. ↑ abTuổi Trẻ Online, Đoạn về thú chơi câu đối của trí thứcSáng tác câu đối là một thú chơi tao nhã của các bậc trí thức nhiều thời
#CâuĐốiTết#CâuĐốiĐỏ#PhongTụcTết#TếtNguyênĐán#VănHóaTết#CâuĐốiXuân#LuậtĐối