
TL;DR: Tranh Tết Việt không phải một dòng duy nhất mà là nhiều dòng khác nhau rõ rệt về kỹ thuật in, chất liệu và đề tài. Đông Hồ in mộc bản trên giấy điệp, Hàng Trống in nét rồi vẽ tay trên giấy dó, Kim Hoàng in nét đen trên giấy đỏ rồi chấm phá màu bằng tay, còn làng Sình in mộc bản trên giấy dó và gắn chặt với tín ngưỡng thờ cúng của xứ Huế. Ngày nay mỗi dòng có tình trạng bảo tồn rất khác nhau, riêng Kim Hoàng thất truyền khoảng bảy thập kỷ rồi mới được phục dựng từ năm 2016.
Tranh Tết Việt có mấy dòng chính và chúng khác nhau ở đâu?
Tranh Tết Việt không phải một dòng duy nhất mà là một nhóm dòng tranh khác nhau khá rõ về kỹ thuật in, chất liệu và mục đích sử dụng. Sáu dòng tranh dân gian tiêu biểu từng được giới thiệu cùng lúc trong một triển lãm tại Văn Miếu, Quốc Tử Giám (Hà Nội) năm 2018 gồm tranh Kim Hoàng, tranh Hàng Trống, tranh Đông Hồ, tranh kính, tranh gói vải và tranh làng Sình[5]. Trong số này, bốn dòng gắn trực tiếp với thị trường tranh Tết ở đồng bằng Bắc Bộ và miền Trung là Đông Hồ, Hàng Trống, Kim Hoàng và làng Sình.
Điểm chung của các dòng tranh này là đều dùng ván khắc gỗ để in, đều phục vụ nhu cầu trang trí và tâm linh dịp Tết, và đều từng có thời kỳ hưng thịnh rồi suy tàn. Điểm khác nhau nằm ở chỗ dòng nào in hoàn toàn bằng mộc bản, dòng nào in nét rồi vẽ tay, dùng giấy gì, màu lấy từ đâu và đề tài xoay quanh những chủ đề nào.
| Dòng tranh | Kỹ thuật chính | Chất liệu giấy và màu | Đề tài tiêu biểu |
|---|---|---|---|
| Đông Hồ (Bắc Ninh) | In mộc bản toàn bộ, mỗi màu một ván | Giấy dó quét điệp, màu từ nguyên liệu tự nhiên | Tranh chúc tụng, tranh sinh hoạt, phong tục |
| Hàng Trống (Hà Nội) | Chỉ in bản nét bằng ván khắc, rồi vẽ màu bằng tay | Giấy dó; hòa sắc lam, hồng, lục, đỏ, da cam, vàng | Tranh thờ, tranh Tết, tranh truyện, tranh thế sự |
| Kim Hoàng (Hà Nội) | In nét đen bằng một ván khắc, rồi chấm phá màu bằng tay | Giấy đỏ, giấy hồng điều hoặc giấy vàng tàu; mực tàu và màu gốc tự nhiên | Tranh gà, tranh lợn, ông Công ông Táo; góc tranh có thơ đề |
| Làng Sình (Huế) | In nét và màu chính bằng mộc bản, tô tay các màu còn lại | Giấy dó hoặc giấy mộc quét điệp, màu tự nhiên; nay nhiều hộ dùng giấy và phẩm màu công nghiệp | Tranh thờ cúng: tranh nhân vật (thế mạng, bổn mạng), tranh đồ vật, tranh con vật |
Tranh Đông Hồ làm ra sao và vì sao được coi là dòng tranh tiêu biểu?
Tranh Đông Hồ được làm hoàn toàn bằng kỹ thuật in mộc bản, mỗi màu là một ván khắc riêng, in chồng lên nhau theo thứ tự để tạo thành bức tranh hoàn chỉnh. Nghề làm tranh ở làng Đông Hồ, nay thuộc khu phố Đông Khê, phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, được ghi nhận có tuổi đời khoảng 500 năm[7]. Theo các tài liệu cũ được dẫn lại, nghề làm tranh dân gian đã hình thành ở Đông Hồ vào thế kỷ XVI, và đến năm 1945, có tới 17 dòng họ còn theo đuổi nghề làm tranh truyền thống với nhiều xưởng làm tranh trong làng[8].
Chất liệu làm nên nét đặc trưng của tranh Đông Hồ là giấy điệp, làm từ giấy dó quét một lớp bột vỏ điệp tạo ánh sáng lấp lánh, kết hợp với màu lấy từ tự nhiên như trắng của vỏ sò điệp, vàng của hoa hòe, đỏ của gỗ vang, xanh của lá chàm, đen của than lá tre[5]. Đề tài tranh Đông Hồ rất phong phú, phục vụ nhu cầu tâm linh, chúc tụng và sinh hoạt của người dân, đặc biệt vào mỗi dịp Tết Nguyên đán, với những màu sắc tươi tắn và chất liệu độc đáo từ thiên nhiên[7].
Giai đoạn rực rỡ nhất của tranh Đông Hồ được ghi nhận là vào thập niên 40 của thế kỷ XX, khi tại làng có tới 17 dòng họ cùng tham gia sản xuất, tạo ra số lượng tranh lớn và đa dạng về đề tài[7]. Sau năm 1945, nghề làm tranh đứng trước nguy cơ mai một, nhiều gia đình chuyển sang làm hàng mã[7][8].
Tranh Hàng Trống khác tranh Đông Hồ ở chỗ nào?
Tranh Hàng Trống khác tranh Đông Hồ ở chỗ chỉ in nét đen bằng ván khắc, sau đó nghệ nhân vẽ tay phẩm màu lên từng bức, nên mỗi bức tranh có thể có sắc độ khác nhau. Đây là dòng tranh gắn với phố phường Hà Nội, và theo họa sĩ Phan Ngọc Khuê, trước năm 1945, Hà Nội có nhiều hiệu tranh, phường tranh khắc ván, in và vẽ tranh ở các phố hàng[6].
Điểm đáng chú ý là tranh Hàng Trống không chỉ có tranh Tết mà còn có mảng tranh thờ và tranh truyện. Họa sĩ Phan Ngọc Khuê, người sưu tầm tranh dân gian lâu năm, từng giới thiệu một bộ tranh truyện Hàng Trống gần trăm năm tuổi, cho thấy dòng tranh này có những mảng đề tài ít được biết đến hơn so với tranh chúc tụng và tranh thờ quen thuộc[6].
Nghệ nhân Lê Đình Nghiên được ghi nhận có 62 năm làm tranh Hàng Trống, cho thấy nghề này vẫn còn người theo đuổi dù số lượng nghệ nhân đã giảm rất nhiều so với thời hưng thịnh[1].
Tranh Kim Hoàng có gì đặc biệt và vì sao từng thất truyền?
Tranh Kim Hoàng nổi bật ở chỗ in trên nền giấy đỏ, nên còn được gọi là tranh Đỏ, và từng nức danh khắp đất Thăng Long một thời. Làng Kim Hoàng nằm ven đô, phía Tây thành Thăng Long xưa, trước tháng 7/2025 thuộc xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, Hà Nội[2]. Báo Pháp luật Việt Nam viết dòng tranh bắt đầu xuất hiện từ thời vua Lê Hy Tông, khi đình Kim Hoàng được dựng với bức hoành phi Lưỡng Bảng hội đình, đánh dấu việc hai làng Kim Bảng và Hoàng Bảng hợp thành làng Kim Hoàng[2]; bài giới thiệu triển lãm năm 2018 thì ghi tranh Kim Hoàng hình thành vào nửa sau thế kỷ 18[5].
Tranh Kim Hoàng kết hợp kỹ thuật của hai dòng Đông Hồ và Hàng Trống: nghệ nhân chỉ dùng một bản khắc để in nét đen lên giấy, rồi chấm phá màu bằng tay, nên mỗi bức một vẻ dù in từ cùng một ván[2][5]. Theo báo Pháp luật Việt Nam, màu không phải màu phẩm mà là mực tàu và các màu gốc tự nhiên trộn keo da trâu, như trắng từ thạch cao, đỏ từ đất son, đen từ tro rơm rạ; góc tranh còn có thơ đề[2]. Tranh được yêu mến bởi sự sáng tạo nhưng phù hợp với nông dân cả về thẩm mỹ và túi tiền[2]. Theo bài báo, gần trăm năm trước, mỗi dịp Tết khắp ngõ ngách của làng Kim Hoàng đều rộn rã tiếng cười nói, tiếng gõ gạch non, và những bức tranh đỏ mang danh Kim Hoàng theo những đôi quang gánh của người làng đi khắp mọi nơi xứ Đoài[2].
Theo bài báo, năm 1915 một trận lụt lớn cuốn trôi phần lớn ván in tranh, nghề từ đó suy giảm, chỉ còn lác đác vài hộ; thị hiếu chuyển sang tranh Hàng Trống, tranh Kim Hoàng lại không cạnh tranh được về giá với tranh Đông Hồ, và sau năm 1945 thì không còn nghệ nhân nào theo nghề[2]. Các bậc cao niên trong làng kể rằng đến cuối những năm 1950, ván in còn lại bị chẻ làm củi trong phong trào chống mê tín dị đoan[2]. Những năm gần đây, các nhà nghiên cứu như Nguyễn Thị Thu Hòa và Tiến sĩ Trịnh Sinh đang nối lại khoảng đứt gãy của lịch sử để đưa dòng tranh này trở về với đời sống hiện đại[2].
Tranh làng Sình có gì khác so với các dòng tranh miền Bắc?
Tranh làng Sình khác các dòng tranh miền Bắc ở chỗ gắn chặt với đời sống văn hóa tâm linh và tín ngưỡng thờ cúng của xứ Huế, hơn là với nhu cầu trang trí Tết thuần túy. Làng Sình, tên chữ là làng Lại Ân, theo bài báo đầu năm 2025 thuộc phường Dương Nỗ, quận Thuận Hóa, thành phố Huế (từ tháng 7/2025 không còn cấp quận), có lịch sử hơn 400 năm làm tranh dân gian[3]. Nghề làm tranh ở làng Sình được cho là xuất hiện không lâu sau khi thành lập làng, và ông tổ của làng cũng là người từ Bắc Ninh vào[3].
Vì có chung nguồn gốc với tranh Đông Hồ, tranh làng Sình có nhiều đặc điểm giống tranh Đông Hồ như lối in tranh mộc bản, sử dụng giấy dó hoặc giấy mộc quét điệp và dùng nguyên liệu tự nhiên để tạo màu[3]. Tuy nhiên, mục đích sử dụng của tranh làng Sình mang tính tín ngưỡng rõ hơn, phục vụ nhu cầu thờ cúng và cầu an của người dân xứ Huế[3].
Theo nghệ nhân Kỳ Hữu Phước, truyền nhân thứ 9 của cụ tổ làng tranh, nghề làm tranh ở làng Sình đã tồn tại hàng trăm năm qua[3]. Mỗi dịp Tết đến, Xuân về, không khí làm tranh tại làng Sình lại rộn ràng hơn để phục vụ nhu cầu của người dân[3].
Tranh làng Sình đã trải qua những thăng trầm gì?
Báo Thanh Niên ghi nghề làm tranh mộc bản làng Sình có tuổi đời hơn 500 năm, khác con số hơn 400 năm của Thông tấn xã Việt Nam; theo gia phả họ Kỳ mà bài báo dẫn, ông Kỳ Hữu Hòa mang nghề làm tranh giấy mộc bản đến làng Sình và được coi là ông tổ nghề[4]. Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước được ghi nhận là người duy nhất của dòng họ còn kiên trì giữ nghề tranh mộc bản của làng Sình[4].
Ông Phước kể rằng những năm sau 1975, người làm tranh thờ cúng bị xem là truyền bá mê tín dị đoan, mộc bản bị tịch thu chẻ làm củi; ông lén đào hầm chôn các bản khắc, đêm xuống hầm thắp đèn làm tranh rồi mang đi bán, nhờ vậy giữ được một bộ khuôn in, về sau hiến tặng Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế[4].
Tình trạng các dòng tranh Tết Việt hôm nay ra sao?
Tình trạng các dòng tranh Tết Việt hôm nay rất khác nhau: Đông Hồ còn hai dòng họ theo nghề và đang được hỗ trợ bảo tồn, Hàng Trống còn rất ít nghệ nhân, Kim Hoàng đã đứt gãy và đang được phục dựng, còn làng Sình vẫn duy trì được nghề nhờ gắn với du lịch cộng đồng.
Với tranh Đông Hồ, sau năm 1945, nghề đứng trước nguy cơ mai một khi không có người đến mua tranh, các hộ gia đình chuyển sang làm hàng mã[8]. Đến nay, làng Đông Hồ chỉ còn hai dòng họ làm tranh là gia đình cụ nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam (mất năm 2017) và gia đình nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế[8]. Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế đã thu thập và tìm cách mua lại những bản khắc của các gia đình rời bỏ nghề[8].
Tháng 12 năm 2025, tại kỳ họp ở New Delhi (Ấn Độ), UNESCO ghi danh Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp[7]. Gia đình nghệ nhân Nguyễn Hữu Hoa và vợ là Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Thị Oanh vẫn bền bỉ gìn giữ và phát huy nghề làm tranh dân gian Đông Hồ[7].
Với tranh Hàng Trống, số nghệ nhân còn theo nghề rất ít. Nghệ nhân Lê Đình Nghiên đã có 62 năm làm tranh Hàng Trống[1]; theo họa sĩ Phan Ngọc Khuê, dòng tranh này chỉ còn gia đình ông theo nghề, chủ yếu vẽ theo các bản in, còn việc sáng tác bản khắc gỗ mới thì không ai làm nữa[6]. Họa sĩ Phan Ngọc Khuê vẫn tiếp tục sưu tầm và giới thiệu các bộ tranh Hàng Trống quý, góp phần gìn giữ tư liệu về dòng tranh này[6].
Với tranh Kim Hoàng, sau khoảng bảy thập kỷ thất truyền, Dự án phục hồi tranh Kim Hoàng do nhà sưu tập Nguyễn Thị Thu Hòa, Giám đốc Bảo tàng Gốm sứ Hà Nội, cùng các nhà nghiên cứu, họa sĩ và nghệ nhân triển khai từ năm 2016; sau ba năm nhóm phục hồi được 33 mẫu tranh khắc gỗ và 19 mẫu vẽ tay, và theo bài báo năm 2021, làng có ba người theo đuổi dòng tranh này[2]. Triển lãm Tranh dân gian Việt Nam và ứng dụng năm 2018 đã giới thiệu các sản phẩm ứng dụng sử dụng họa tiết trang trí của dòng tranh Kim Hoàng, với hơn 300 bài dự thi từ các bạn nhỏ trên địa bàn Hà Nội[5]. Đây là hướng đi mới nhằm đưa tranh dân gian trở lại với đời sống đương đại.
Với tranh làng Sình, chính quyền địa phương đang tích cực triển khai công tác truyền nghề cũng như quảng bá, gìn giữ nghề gắn với phát triển du lịch cộng đồng[3]. Số hộ còn làm tranh được hai bài báo ghi khác nhau: hơn 40 hộ theo báo Thanh Niên cuối năm 2023[4], hơn 20 hộ theo Thông tấn xã Việt Nam đầu năm 2025[3].
Tóm lại, cần nhớ gì khi phân biệt các dòng tranh Tết Việt?
Điểm mấu chốt để phân biệt các dòng tranh Tết Việt là kỹ thuật in và chất liệu giấy. Đông Hồ in hoàn toàn bằng mộc bản trên giấy điệp, Hàng Trống in nét rồi vẽ tay trên giấy dó, Kim Hoàng in nét trên nền giấy đỏ, còn làng Sình in mộc bản trên giấy dó và phục vụ chủ yếu nhu cầu tín ngưỡng. Về tình trạng hiện nay, Đông Hồ và làng Sình còn duy trì được nghề, Hàng Trống còn rất ít nghệ nhân, còn Kim Hoàng đã đứt gãy và đang được phục dựng. Việc hiểu rõ sự khác nhau này không chỉ giúp phân biệt các dòng tranh mà còn thấy được sự đa dạng của nghệ thuật dân gian Việt Nam trong dòng chảy lịch sử.