Nhật Nguyệt

Tri thức / Đông phương

Tâm lý học

Giám đốc ở tuổi hạn 49 đến 53 có đầu tư ít hơn không? Niềm tin tuổi hạn và quyết định kinh doanh ở doanh nghiệp Việt Nam

Chia sẻ:
Giám đốc ở tuổi hạn 49 đến 53 có đầu tư ít hơn không? Niềm tin tuổi hạn và quyết định kinh doanh ở doanh nghiệp Việt Nam
TL;DR: Có. Nghiên cứu của Đại học Kinh tế Quốc dân (Phạm Xuân Hậu, 2024) trên dữ liệu doanh nghiệp Việt Nam cho thấy đầu tư tài sản cố định giảm rõ khi giám đốc ở tuổi 49 tới 53, và mức giảm mạnh hơn ở doanh nghiệp nhỏ. Đây là bằng chứng về sức mạnh của niềm tin trong quyết định kinh tế, không phải bằng chứng cho việc tuổi hạn gây ra vận hạn.

Nhãn trong bài:Quan niệm dân gianDiễn giải trường pháiChưa đủ bằng chứngCách đọc nhãn

Vì sao câu hỏi này quan trọng với người đang ở tuổi 49 tới 53?

Nếu bạn đang điều hành doanh nghiệp và bước vào tuổi 49, 50, 51, 52 hay 53, có thể bạn đã nghe ai đó nhắc: năm nay tuổi hạn, nên cẩn thận, không nên mở rộng đầu tư. Câu hỏi đặt ra không phải là bạn có tin hay không, mà là: niềm tin ấy có để lại dấu vết đo được trong hành vi kinh doanh hay không?

Nghiên cứu của Phạm Xuân Hậu (2024) công bố trên Journal of Comparative Economics cho thấy doanh nghiệp Việt Nam giảm đầu tư tài sản cố định khi giám đốc ở độ tuổi 49 tới 53, và mức giảm mạnh hơn ở các doanh nghiệp nhỏ. Đây là kết quả của một thiết kế hồi quy gián đoạn, so sánh doanh nghiệp có giám đốc vừa bước qua mốc tuổi với doanh nghiệp có giám đốc chưa tới mốc, trong khi mọi yếu tố khác được kiểm soát.

Nghiên cứu này không chứng minh tuổi hạn là thật. Nó chứng minh rằng niềm tin vào tuổi hạn có sức nặng trong quyết định kinh tế. Đó là hai điều hoàn toàn khác nhau, và phân biệt được hai điều ấy là bước đầu tiên để cân nhắc xem mình có đang để niềm tin dẫn dắt quyết định một cách vô thức hay không.

Thiết kế nghiên cứu: vì sao so sánh ngay trước và sau mốc tuổi lại thuyết phục?

Điểm mạnh của hồi quy gián đoạn (regression discontinuity design) nằm ở chỗ nó so sánh những người gần như giống hệt nhau về mọi mặt, chỉ khác một mốc tuổi. Người sinh tháng 12 năm 1974 và người sinh tháng 1 năm 1975 có thể cùng tuổi trong phần lớn thời gian của năm, nhưng nếu mốc tuổi hạn được tính theo năm sinh, một người đã bước vào tuổi 49 còn người kia chưa.

Phạm Xuân Hậu (2024) sử dụng chính xác cách tiếp cận này: so sánh các doanh nghiệp có giám đốc ngay trên và dưới mốc tuổi hạn, trong cùng một giai đoạn, cùng ngành, cùng quy mô, để loại trừ ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế và đặc điểm doanh nghiệp.

Nếu kết quả chỉ phản ánh rằng người lớn tuổi đầu tư ít hơn vì lý do sinh học hay vòng đời, thì hiệu ứng sẽ xuất hiện dần dần, không tập trung đúng vào mốc 49 tới 53. Việc kết quả tập trung vào đúng dải tuổi mà dân gian gọi là tuổi hạn là dấu hiệu cho thấy niềm tin văn hóa, chứ không phải tuổi tác sinh học, đang đóng vai trò.

Tuy nhiên, thiết kế này cũng có giới hạn. Nó không đo được động cơ của từng giám đốc. Nó không phân biệt được giữa người tin thật và người không tin nhưng vẫn hành động theo áp lực xã hội. Và nó không cho biết liệu việc hoãn đầu tư ấy có dẫn tới kết quả kinh doanh tốt hơn hay xấu hơn về dài hạn. Đó là chỗ bằng chứng còn thiếu, và cần nói rõ.

Tuổi hạn trong dân gian: 49 và 53 có giống kim lâu, tam tai không?

Loại tri thức: Dân gianQuan niệm dân gian. Điều người ta tin, kiêng hay truyền miệng, ghi lại như một niềm tin chứ không như một sự thật đã kiểm. Năm loại nhãnTrong quan niệm dân gian Việt Nam, tuổi 49 và 53 thường được xem là hai mốc xấu của đời người, với câu "49 chưa qua, 53 đã tới". Đây là cách nói truyền miệng, không có cơ sở trong các phép tính lịch pháp cụ thể.

Cần phân biệt rõ: tuổi 49 và 53 trong dân gian không phải là kim lâu, không phải tam tai, cũng không phải hoang ốc. Kim lâu là phép tính dựa trên tuổi âm lịch của người chủ sự, dùng để xem ngày cưới hỏi hoặc làm nhà. Tam tai là chu kỳ ba năm gắn với con giáp của từng tuổi. Hoang ốc là sáu cung tính theo tuổi âm. Ba phép này có cách tính khác nhau, phạm vi áp dụng khác nhau, và không phép nào nói rằng 49 hay 53 là tuổi hạn cố định cho mọi người.

Loại tri thức: Trường phái: sách thuật sốDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnCác phép kim lâu, tam tai, hoang ốc là quy ước của sách thuật số, không phải dữ kiện lịch pháp có thể kiểm chứng độc lập. Chúng chỉ chứng minh được rằng hệ thống ấy quy định như vậy, không chứng minh rằng quy định ấy đúng trong thực tế.

Nếu bạn muốn hiểu sâu hơn về cách tính kim lâu, hoang ốc, tam tai và vì sao ba phép ấy không phải một, có thể đọc bài Xem tuổi làm nhà năm Đinh Mùi 2027: tuổi nào phạm Kim Lâu, Hoang Ốc, Tam Tai, và vì sao ba phép ấy không phải một. Bài đó đi sâu vào từng phép, còn bài này tập trung vào câu hỏi khác: niềm tin tuổi hạn ảnh hưởng thế nào tới quyết định đầu tư.

Niềm tin tác động mạnh nhất khi người ta không ý thức về nó

Kramer và Block (2008) công bố trên Journal of Consumer Research đã chỉ ra rằng niềm tin mê tín có hai tầng: tầng ý thức, khi người ta biết mình tin, và tầng vô thức, khi niềm tin ảnh hưởng tới quyết định mà người ta không nhận ra. Tầng vô thức ảnh hưởng mạnh hơn tới quyết định rủi ro.

Điều này rất quan trọng với câu hỏi về tuổi hạn. Một giám đốc có thể nói rằng mình không tin tuổi hạn, nhưng vẫn trì hoãn một dự án vì "thấy chưa chắc chắn", vẫn yêu cầu thêm thời gian để "cân nhắc kỹ", vẫn giảm quy mô đầu tư vì "năm nay kinh tế khó". Những lý do ấy nghe rất hợp lý, và có thể một phần là hợp lý thật. Nhưng nếu chúng xuất hiện đúng vào năm giám đốc bước vào tuổi 49 tới 53, thì rất có thể niềm tin vô thức đang đóng góp vào quyết định.

Kramer và Block cho thấy tầng vô thức hoạt động độc lập với tầng ý thức. Người ta không cần tin để bị ảnh hưởng. Chỉ cần niềm tin ấy tồn tại trong môi trường văn hóa xung quanh, trong câu chuyện của gia đình, trong lời nhắc của đối tác, trong cách báo chí nói về tuổi hạn.

Doanh nhân và phong thủy: nửa tin để giảm lo âu

Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnTsang (2004) công bố trên Academy of Management Executive lập luận rằng mê tín vừa mâu thuẫn vừa bổ sung cho quyết định kinh doanh. Mâu thuẫn ở chỗ nó dựa trên niềm tin không có cơ sở thực nghiệm. Bổ sung ở chỗ nó giúp người ra quyết định giảm lo âu trong môi trường bất định cao.

Kết quả này của Tsang là một luận điểm lý thuyết, chưa được lặp lại trong nhiều nghiên cứu thực nghiệm khác, nên cần đọc như một cách giải thích có sức gợi, không phải như kết luận đã được kiểm chứng rộng rãi. Tsang cũng không nghiên cứu trên doanh nhân Việt Nam, mà dựa trên phân tích khái niệm và quan sát chung.

Nguyễn Hữu Thụ (2019) trong nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu và kinh tế đã ghi nhận rằng đối tượng tìm đến thờ Mẫu ở Việt Nam phần lớn là người kinh doanh, buôn bán. Tác giả dẫn nhận định của Ngô Đức Thịnh rằng giới kinh doanh chiếm tuyệt đại bộ phận trong số người thực hành tín ngưỡng này. Điều đó cho thấy ở Việt Nam, niềm tin tâm linh và hoạt động kinh tế có mối liên hệ chặt chẽ trong thực tế, không phải hai lĩnh vực tách rời.

Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnNghiên cứu của Nguyễn Hữu Thụ tập trung vào tín ngưỡng thờ Mẫu, không trực tiếp đo ảnh hưởng của tuổi hạn tới đầu tư. Nhưng nó cho thấy một điều quan trọng: ở Việt Nam, người kinh doanh không xem tâm linh và kinh tế là hai chuyện khác nhau. Họ tìm đến các nghi lễ để cầu may mắn trong làm ăn, và niềm tin ấy có thể ảnh hưởng tới cách họ ra quyết định.

Bảng đối chiếu các nghiên cứu

Nghiên cứuPhạm vi dữ liệuPhương phápKết quả chính
Phạm Xuân Hậu (2024)Doanh nghiệp Việt NamHồi quy gián đoạnĐầu tư tài sản cố định giảm khi giám đốc ở tuổi 49 tới 53, mạnh hơn ở doanh nghiệp nhỏ
Kramer và Block (2008)Người tiêu dùng (Hoa Kỳ)Thực nghiệm tâm lýNiềm tin mê tín ảnh hưởng quyết định rủi ro, mạnh hơn khi tác động vô thức
Tsang (2004)Phân tích khái niệmLý thuyết quản trịMê tín vừa mâu thuẫn vừa bổ sung cho quyết định kinh doanh
Nguyễn Hữu Thụ (2019)Người thực hành thờ Mẫu ở Việt NamNghiên cứu định tínhPhần lớn người tìm đến thờ Mẫu là giới kinh doanh, buôn bán

Cần lưu ý rằng bốn nghiên cứu này có phạm vi dữ liệu khác nhau. Kramer và Block nghiên cứu người tiêu dùng Hoa Kỳ, không phải doanh nhân Việt Nam. Tsang phân tích khái niệm, không dùng dữ liệu thực địa. Nguyễn Hữu Thụ nghiên cứu tín ngưỡng thờ Mẫu, không đo tuổi hạn. Chỉ có Phạm Xuân Hậu (2024) là nghiên cứu trực tiếp trên doanh nghiệp Việt Nam với câu hỏi về tuổi hạn và đầu tư. Vì vậy, không thể suy ra từ ba nghiên cứu kia rằng người Việt bị ảnh hưởng bởi tuổi hạn như thế nào. Chỉ có thể nói rằng các cơ chế tâm lý được mô tả trong Kramer và Block, hay luận điểm của Tsang, là những cách giải thích khả dĩ cho kết quả của Phạm Xuân Hậu.

Vì sao doanh nghiệp nhỏ bị ảnh hưởng mạnh hơn?

Phạm Xuân Hậu (2024) ghi nhận mức giảm đầu tư mạnh hơn ở các doanh nghiệp nhỏ. Điều này phù hợp với logic: ở doanh nghiệp nhỏ, quyết định đầu tư thường do một người hoặc một nhóm nhỏ đưa ra, ít qua quy trình kiểm soát, ít bị ràng buộc bởi hội đồng quản trị hay cổ đông. Ở doanh nghiệp lớn, quyết định đầu tư thường qua nhiều tầng, có ban điều hành, có kế hoạch dài hạn, nên niềm tin cá nhân của một người khó ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động.

Điều này cũng gợi ý rằng ở doanh nghiệp nhỏ, chi phí của việc hoãn đầu tư có thể lớn hơn về dài hạn, vì doanh nghiệp nhỏ thường ít có nguồn lực dự phòng, ít có khả năng bù đắp khi bỏ lỡ cơ hội. Nhưng đây là suy luận logic, không phải kết quả nghiên cứu. Phạm Xuân Hậu (2024) đo hành vi đầu tư, không đo kết quả kinh doanh dài hạn của việc hoãn đầu tư.

Gợi ý của Nhật Nguyệt: hoãn một quyết định vì tuổi hạn cũng là một quyết định có chi phí

Đây là phần diễn giải của Nhật Nguyệt, không phải lời khuyên đầu tư hay kết luận khoa học.

Khi bạn cân nhắc hoãn một dự án vì năm nay là tuổi hạn, có hai điều đáng để bạn tự hỏi. Thứ nhất: nếu không có yếu tố tuổi hạn, bạn có hoãn không? Nếu câu trả lời là có, thì tuổi hạn không phải là lý do thật. Nếu câu trả lời là không, thì bạn đang để một niềm tin văn hóa ảnh hưởng tới quyết định kinh tế. Thứ hai: chi phí của việc hoãn là gì? Một cơ hội bị bỏ lỡ, một đối tác chuyển sang người khác, một thị trường bị đối thủ chiếm trước. Những chi phí ấy có thể đo được, còn lợi ích của việc hoãn thì thường không.

Không có câu trả lời đúng cho mọi người. Có người thấy rằng hoãn một năm để yên tâm là quyết định hợp lý. Có người thấy rằng đó là chi phí không cần thiết. Điều quan trọng là bạn nhận ra mình đang chọn, chứ không phải để niềm tin vô thức chọn thay.

Chỗ bằng chứng còn thiếu

Cần nói rõ ba điều.

Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnThứ nhất, chỉ có một nghiên cứu duy nhất đo trực tiếp ảnh hưởng của tuổi hạn tới đầu tư doanh nghiệp Việt Nam. Một nghiên cứu chưa đủ để kết luận chắc chắn. Kết quả cần được lặp lại trên dữ liệu khác, giai đoạn khác, ngành khác.

Thứ hai, nghiên cứu đo hành vi đầu tư, không đo kết quả kinh doanh. Không rõ việc giảm đầu tư ở tuổi 49 tới 53 là quyết định đúng hay sai về dài hạn. Có thể nó giúp tránh rủi ro, cũng có thể nó khiến doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội.

Thứ ba, nghiên cứu không phân biệt được giữa giám đốc tin thật và giám đốc không tin nhưng chịu áp lực xã hội. Cả hai nhóm đều có thể giảm đầu tư, nhưng động cơ khác nhau, và cách ứng xử phù hợp cũng khác nhau.

Hiện chưa có nghiên cứu đo lường mức độ tin tưởng cá nhân của giám đốc vào tuổi hạn và đối chiếu với hành vi đầu tư của chính người đó. Cũng chưa có nghiên cứu so sánh hiệu quả kinh doanh dài hạn giữa doanh nghiệp hoãn đầu tư vì tuổi hạn và doanh nghiệp không hoãn.

Kết luận: bằng chứng về niềm tin, không phải về tuổi hạn

Niềm tin tuổi hạn để lại dấu vết đo được trong đầu tư doanh nghiệp Việt Nam. Đó là kết quả của Phạm Xuân Hậu (2024). Đó là bằng chứng về sức mạnh của niềm tin trong quyết định kinh tế, không phải bằng chứng cho việc tuổi hạn gây ra vận hạn.

Hiệu ứng này có thật, và nó sinh ra từ niềm tin: niềm tin đổi hành vi, hành vi đổi kết quả. Không cần gọi đó là tuổi hạn đoán đúng, cũng không cần phủ nhận rằng hiệu ứng ấy đang diễn ra. Điều đáng quan tâm là bạn có nhận ra mình đang để niềm tin ấy ảnh hưởng tới quyết định hay không.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Nghiên cứu 2024 nói gì về đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam khi giám đốc ở tuổi 49 tới 53?

Nghiên cứu của Phạm Xuân Hậu (2024) trên Journal of Comparative Economics cho thấy doanh nghiệp Việt Nam giảm đầu tư tài sản cố định khi giám đốc ở tuổi 49 tới 53, và mức giảm mạnh hơn ở doanh nghiệp nhỏ. Đây là kết quả từ thiết kế hồi quy gián đoạn, so sánh doanh nghiệp có giám đốc ngay trên và dưới mốc tuổi.

Tuổi 49 và 53 trong dân gian có phải là kim lâu hay tam tai không?

Không. Tuổi 49 và 53 là cách nói truyền miệng trong dân gian, không phải phép tính kim lâu, tam tai hay hoang ốc. Kim lâu dùng để xem ngày cưới hỏi hoặc làm nhà, tam tai là chu kỳ ba năm theo con giáp, hoang ốc là sáu cung tính theo tuổi âm. Ba phép này có cách tính và phạm vi áp dụng khác nhau, không phép nào quy định 49 hay 53 là tuổi hạn cho mọi người.

Nếu giám đốc không tin tuổi hạn thì có bị ảnh hưởng không?

Theo Kramer và Block (2008), niềm tin mê tín có tầng vô thức hoạt động độc lập với tầng ý thức. Người ta không cần tin để bị ảnh hưởng. Chỉ cần niềm tin ấy tồn tại trong môi trường văn hóa xung quanh, trong câu chuyện gia đình hay lời nhắc của đối tác, thì nó có thể ảnh hưởng tới quyết định rủi ro mà người ta không nhận ra.

Bài viết liên quan

Nguồn tham khảo

  1. pham xuan hau 2020 tam linh mieu ba chua xu du lich
  2. mocan 2017 superstition self fulfilling dragon children
  3. nguyen huu thu 2019 tho mau khia canh kinh te
  4. pokryshevskaya 2015 numerological superstitions apartments
  5. ng 2010 value of superstitions
  6. pennycook 2020 beliefs change evidence
  7. malinowski 1925 magic science religion
#TuổiHạn#Tuổi49#Tuổi53#TâmLýHọcQuyếtĐịnh#ĐầuTưDoanhNghiệp#NiềmTinDânGian#MêTínVàKinhTế