
TL;DR: Theo phục chế Nho giáo, con để tang cha mẹ ba năm (thực tế 27 tháng), còn các bậc họ hàng để tang từ ba tháng đến một năm tùy vai vế. Từ lễ thành phục đến lễ trừ phục gồm các mốc: ba ngày tế ngu, trăm ngày tốt khốc, giỗ đầu tiểu tường, giỗ hết đại tường, rồi một tới ba tháng sau (tùy sách) làm lễ đàm, trừ phục, mới bỏ hết đồ tang. Nguyên tắc chung là phân bậc theo quan hệ huyết thống.
Để tang bao lâu? Con số ba năm và hai mươi bảy tháng
Theo phục chế Nho giáo ghi trong sách Gia lễ giản yếu của Dương Bá Trạc (1932), con để tang cha mẹ là trảm thôi ba năm, cha dùng gậy tre, mẹ dùng gậy vông[1]. Sách Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ (bản dịch Nguyễn Hữu Tiến) lại cho biết khoảng thời gian từ khi bắt đầu để tang đến lúc đàm tất chỉ có hai mươi bảy tháng, chứ không tròn 36 tháng[2]. Theo ông, lòng người con hiếu thương xót không cùng, nên thánh nhân chế lễ để tang ba năm là vừa phải[2].
Đối với các bậc họ hàng khác, thời gian để tang giảm dần theo vai vế. Theo Gia lễ giản yếu, cháu để tang ông bà nội một năm, không gậy; để tang bác, chú, thím và cô ruột (anh chị em ruột của cha) một năm, cô đã xuất giá thì chín tháng; anh chị em ruột một năm, chị em dâu chín tháng, chị em gái đã xuất giá chín tháng; anh chị em con chú con bác chín tháng; ông bà ngoại năm tháng[1]. Như vậy, càng gần về huyết thống trực hệ thì thời gian để tang càng dài, càng xa thì càng ngắn.
Năm bậc tang phục và nguyên tắc phân bậc
Theo sách Gia lễ giản yếu, phục chế chia thành năm bậc chính: trảm thôi ba năm (con để tang cha mẹ), ti thôi, cũng đọc tư thôi (ba năm với mẹ đích, mẹ kế, mẹ nuôi; một năm với ông bà nội), đại công chín tháng (anh chị em con chú con bác, cô ruột đã xuất giá), tiểu công năm tháng (bác, chú, cô họ là con chú con bác với cha), ti ma ba tháng (họ hàng xa hơn)[1]. Sách Le rituel funéraire des Annamites của Gustave Dumoutier (1904) cũng ghi nhận bậc tang nhẹ nhất là áo gai mỏng, mặc ba tháng vì đó là độ dài một mùa[4].
Bậc tang phục không chỉ là thời gian, mà còn là loại vải, kiểu mũ, dây lưng và đồ phụ trợ. Con thì đội mũ sô, mặc áo gai, thắt dây lưng chuối; cháu thì đội mũ vải to, mặc áo vải to; anh em thì dùng khăn vải trắng và áo vải trắng[1]. Sách của Dumoutier chép năm loại áo tang, trong đó áo gai mịn (ti ma) là nhẹ nhất, còn khăn tang quấn đầu chỉ là phần phụ thêm, không tính là đồ tang hoàn chỉnh[4].
Bảng tóm tắt tang phục theo vai vế
| Vai vế | Bậc tang | Thời gian | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Cha mẹ | Trảm thôi | 3 năm (thực tế 27 tháng) | Cha dùng gậy tre, mẹ dùng gậy vông |
| Mẹ đích, mẹ kế, mẹ nuôi, từ mẫu | Ti thôi | 3 năm | Nếu kế mẫu bị dẫy bỏ thì không tang |
| Ông bà nội | Ti thôi | 1 năm | Không gậy |
| Bác, chú, thím, cô ruột | Cơ niên | 1 năm | Cô đã xuất giá: đại công 9 tháng |
| Anh chị em ruột | Cơ niên | 1 năm | Chị em dâu: 9 tháng; chị em gái đã xuất giá: 9 tháng |
| Anh chị em con chú con bác | Đại công | 9 tháng | |
| Ông bà ngoại | Tiểu công | 5 tháng | |
| Bác, chú, cô họ (con chú con bác với cha) | Tiểu công | 5 tháng | Cô đã xuất giá: ti ma 3 tháng |
| Họ hàng xa hơn | Ti ma | 3 tháng |
Các mốc lễ trong tang lễ và thời điểm trừ phục là gì?
Tang lễ truyền thống không chỉ có một lễ duy nhất, mà là chuỗi lễ kéo dài từ khi mất đến khi mãn tang. Theo ghi chép trong sách Gia lễ giản yếu, sau khi qua đời, lễ nhập quan được tiến hành; tiếp đó là lễ thành phục, nghĩa là mặc tang phục theo thứ tự năm bậc; trước lúc đưa đi táng một giờ, lễ đem táng được cử hành; sau khi táng hoàn tất, vào ngày thứ ba, lễ ngu (an vi) được làm; khi đã mất đủ trăm ngày, lễ tốt khốc được thực hiện; đến giỗ đầu, lễ tiểu tường được tổ chức; tới giỗ hết, lễ đại tường được làm; sau giỗ hết ba tháng, toàn thể gia đình đều cởi bỏ tang phục và làm lễ trừ phục[1]. Sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính (1915) ghi rõ hơn: bốn mươi chín ngày gọi là tuần chung thất, một trăm ngày là tuần tốt khốc, một năm là giỗ đầu (tiểu tường), hai năm là giỗ hết (đại tường), sau đại tường hai tháng chọn ngày làm lễ trừ phục gọi là đàm tế[3].
Trình tự này cũng được Phạm Đình Hổ xác nhận trong Vũ trung tùy bút: liệm vào ngày thứ ba, mặc áo tang vào ngày thứ tư, chôn sau ba tháng, lễ tiểu tường khi hết một năm, lễ đại tường khi quá hai năm, và lễ đàm tất (tức hết chở) sau đó một tháng[2]. Tuy vậy, Phạm Đình Hổ chê trách tục lựa chọn ngày tháng khiến mãi hơn một năm sau mới cử hành lễ thành phục, do đó thời gian mặc áo gai thủ hiếu chẳng còn được bao nhiêu tháng[2].
Nhà giàu, nhà nghèo làm khác nhau
Sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính ghi rằng từ khi khâm liệm tới khi đàm tất, tuần tiết nào nhà giàu cũng tế bái linh đình, nhà nghèo thì cúng cấp, người có nhiều tốn nhiều, người có ít tốn ít[3].
Tang phục và sự phân biệt theo vai vế trong thực hành như thế nào?
Sách Le rituel funéraire des Annamites của Dumoutier mô tả rằng đối với họ hàng xa từ năm đời trở lên, đồ tang chỉ dừng ở áo gai mỏng, ngoài trường hợp đó thì chỉ còn khăn tang[4]. Như vậy, có sự phân biệt rõ giữa người trong họ gần và người ngoài họ. Khi đi đưa tang hoặc đến viếng, người ta phải mặc áo không nhuộm và quấn đầu bằng một miếng vải trắng, nhưng miếng vải ấy không tạo thành bộ đồ tang hoàn chỉnh[4].
Sách Gia lễ giản yếu cũng ghi nhận các trường hợp đặc biệt: cha ghẻ (người chồng sau của mẹ) nếu ở cùng thì để tang một năm, nếu trước ở cùng mà sau không ở nữa thì ti thôi ba tháng, nếu trước sau đều không ở cùng thì không tang[1]. Mẹ đích, mẹ kế, mẹ nuôi thì ti thôi ba năm, nhưng nếu kế mẫu bị dẫy bỏ thì không tang[1]. Từ mẫu (mẹ sinh ra mình đã mất, cha cho người thiếp khác nuôi) cũng ti thôi ba năm[1]. Giá mẫu (mẹ sinh ra mình sau khi mất chồng lại đi lấy chồng khác) để tang một năm, xuất mẫu (mẹ bị cha dẫy bỏ) để tang một năm, thứ mẫu (vợ lẽ của cha có con) để tang một năm, còn con của thứ mẫu để tang mẹ đẻ ra mình (sinh mẫu) là ti thôi ba năm[1].
Trường hợp đặc biệt: đương trọng tang lại gặp trọng tang
Sách Gia lễ giản yếu dành một mục riêng cho trường hợp đang có tang cha mà lại gặp tang mẹ. Khi ấy, đến lúc làm lễ trừ phục cho tang cha, người con vẫn phải mặc áo trừ tang để làm lễ đại tường, tỏ ý rằng đã hết tang trước, rồi sau đó lại mặc áo trở tang mẹ[1]. Trường hợp người con đang chịu tang mẹ chưa táng, nếu đến tiết đại tường của cha thì không được mặc tường phục[1]. Quy tắc này cho thấy người xưa rất chú trọng thứ tự và sự chồng lấn giữa các tang, không để cho việc trừ phục của tang này làm mờ đi tang khác.
Vai trò của Nho giáo trong việc định hình tang phục là gì?
Sách Nho giáo của Trần Trọng Kim (1930) dẫn lại lời Khổng Tử trong Luận Ngữ: cha còn thì xem chí của cha, cha mất rồi xem việc làm của cha, ba năm không đổi đạo của cha mới gọi là hiếu[5]. Trần Trọng Kim giải thích rằng khi việc cha đã làm mà thấy cần thay đổi, người con phải chờ mãn ba năm tang chế rồi mới được đổi, trước hết là để bày tỏ lòng bất nhẫn của kẻ hiếu tử, sau nữa là để giữ sự cẩn trọng lúc thay đổi[5]. Như vậy, thời gian ba năm không chỉ là quy định về hình thức mà còn gắn với đạo hiếu và sự kế thừa trách nhiệm trong gia đình.
Sách Nho giáo cũng ghi nhận rằng sau khi Khổng Tử mất, học trò thương khóc, ai cũng để tâm tang ba năm, nghĩa là để tang trong lòng chứ không mặc đồ tang phục, và có hơn một trăm người làm nhà ở gần mộ đến hết tang, riêng Tử Cống ở đó đến sáu năm mới thôi[5]. Điều này cho thấy ngay trong truyền thống Nho giáo, bên cạnh tang phục chính thức còn có hình thức tâm tang, tức là để tang trong lòng mà không cần mặc đồ tang. Đây là một điểm đáng lưu ý khi bàn về tang phục: hình thức bên ngoài có thể thay đổi, nhưng tinh thần bên trong mới là điều cốt lõi.
Tang lễ ngày nay kế thừa và biến đổi như thế nào?
Sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính viết năm 1915 đã phản ánh những biến đổi của tang lễ so với lễ cổ. Vào các kỳ tiểu tường, đại tường, tác giả ghi nhận tục đốt mã; việc đốt mã có nhà thực hiện tại gia, có nhà thực hiện tại chùa, lại có người làm chay cúng tam tứ phủ năm bảy ngày[3]. Tác giả cũng phê phán tục ăn uống linh đình trong tang lễ, cho rằng nên giảm bớt phiền văn để người giàu đỡ tốn của, người nghèo khỏi vay công lĩnh nợ.
Trong Vũ trung tùy bút, Phạm Đình Hổ cũng đả kích tục lệ làng xã sách nhiễu tang gia, thậm chí có nhà phải bán vườn ruộng để cung phụng cái mồm cái bụng của bọn hạch ăn[2]. Tác giả cũng phê phán tục đến ngày thành phục thì bày cỗ bàn tế lễ linh đình, người làng xóm cũng đến, không khác gì một cuộc khánh hội[2]. Những phê phán này cho thấy ngay từ thời phong kiến, đã có sự khác biệt giữa lễ chế lý thuyết và thực hành dân gian.
Ảnh hưởng của Phật giáo và tín ngưỡng dân gian
Căn cứ vào những gì chép trong Vũ trung tùy bút, các lễ như tuần bốn chín ngày, tuần trăm ngày, cáo hè, điện hè, tống hè và Trung nguyên đốt mã đều là lễ nhà Phật, chứ chẳng phải lễ cổ nhân[2]. Theo thuyết nhà Phật mà ông thuật lại, người chết cứ bảy ngày một lần bị duyệt án ở tòa vua Diêm Vương; tới tháng hè, minh phủ thương kẻ tù tội chịu nắng nực nên có lúc đem xét hỏi để đại xá[2]. Điều này lý giải vì sao tang lễ Việt Nam có sự hòa trộn giữa lễ chế Nho giáo và nghi lễ Phật giáo.
Tổng kết về tang lễ truyền thống như thế nào?
Để tang bao lâu phụ thuộc vào vai vế của người chịu tang đối với người quá cố. Theo phục chế Nho giáo, con để tang cha mẹ ba năm (thực tế 27 tháng), các bậc họ hàng để tang từ ba tháng đến một năm. Tang phục gồm năm bậc chính, mỗi bậc có loại vải và thời gian khác nhau. Các mốc lễ từ thành phục đến trừ phục gồm ba ngày tế ngu, trăm ngày tốt khốc, giỗ đầu tiểu tường, giỗ hết đại tường, rồi tới lễ trừ phục (đàm), mà ba sách chép lệch nhau: một tháng sau đại tường theo Phạm Đình Hổ, hai tháng theo Phan Kế Bính, ba tháng theo Dương Bá Trạc.
