
TL;DR: Sau khi chôn, người Việt theo tục xưa còn một chuỗi lễ: lễ ngu (ba ngày), lễ tốt khốc (trăm ngày), lễ tiểu tường (giỗ đầu), lễ đại tường (giỗ hết) và lễ trừ phục (đàm tất, sau đại tường một tới ba tháng tùy sách). Các tuần 49 ngày, lễ Trung nguyên đốt mã là lớp nghi lễ Phật giáo nhập vào sau, không có trong lễ cổ. Thời gian để tang theo lễ cổ khoảng 27 tháng, tính từ lúc mất tới lúc trừ phục.
Sau đám tang còn những lễ nào và kéo dài bao lâu?
Sau khi chôn cất, người Việt theo tục xưa còn một chuỗi lễ kéo dài tới khoảng hai mươi bảy tháng, kết thúc bằng lễ trừ phục. Các lễ chính gồm: lễ ngu (ba ngày), lễ tốt khốc (trăm ngày), lễ tiểu tường (giỗ đầu), lễ đại tường (giỗ hết) và lễ trừ phục (đàm tất). Xen giữa còn có các tuần thất thất (bốn chín ngày), lễ Trung nguyên đốt mã, và các kỳ cúng cơm hằng ngày buổi sớm buổi chiều.
Cách đếm và cách gọi tên các lễ này không hoàn toàn thống nhất giữa các sách. Dương Bá Trạc trong *Gia lễ giản yếu* (1932) và Phan Kế Bính trong *Việt Nam phong tục* (1915) đều ghi các mốc cơ bản giống nhau, nhưng lệch nhau về thời điểm làm lễ trừ phục. Việc lễ nào là lễ cổ, lễ nào theo nhà Phật thì do Phạm Đình Hổ bàn trong *Vũ trung tùy bút*.
Lịch các lễ sau đám tang diễn ra như thế nào?
Dưới đây là bảng đối chiếu các mốc lễ chính, dựa theo cách ghi trong *Gia lễ giản yếu* của Dương Bá Trạc và *Việt Nam phong tục* của Phan Kế Bính. Cột cuối ghi theo cách phân của Phạm Đình Hổ trong *Vũ trung tùy bút*: lễ cổ hay lễ nhà Phật.
| Lễ | Thời điểm | Nội dung chính | Nguồn gốc theo sách |
|---|---|---|---|
| Lễ ngu (an vi) | Ngày thứ ba sau khi táng (Gia lễ giản yếu); ba lần trong ba ngày (Việt Nam phong tục) | Tế tại nhà để yên hồn phách người mất | Cổ lễ |
| Cúng cơm hai buổi | Hằng ngày từ sau lễ thành phục tới trăm ngày | Con cháu dâng cơm buổi sớm, buổi chiều | Cổ lễ |
| Tuần chung thất | Bốn mươi chín ngày | Tụng kinh, sám hối, cầu siêu | Lễ nhà Phật |
| Lễ tốt khốc | Một trăm ngày | Tế lễ một tiệc, thôi cúng cơm hai buổi | Cổ lễ (riêng mốc tuần trăm ngày, Phạm Đình Hổ xếp vào lễ nhà Phật) |
| Lễ tiểu tường | Giỗ đầu (một năm) | Trừ bỏ đồ hung phục như gậy, mũ gai | Cổ lễ |
| Lễ đại tường | Giỗ hết (hai năm) | Tế lễ, chuẩn bị hết tang | Cổ lễ |
| Lễ trừ phục (đàm tất) | Sau đại tường một, hai hoặc ba tháng, tùy sách | Bỏ hết đồ tang, mặc áo thường | Cổ lễ |
| Lễ Trung nguyên đốt mã | Rằm tháng bảy | Cúng độ vong, đốt đồ mã | Lễ nhà Phật |
Cần lưu ý: riêng thời điểm làm lễ trừ phục, ba cuốn sách ghi ba khoảng khác nhau sau đại tường: một tháng, hai tháng và ba tháng (xem mục dưới).
Lễ ngu và lễ tốt khốc khác nhau thế nào?
Lễ ngu (còn gọi là lễ an vi) là lễ làm vào ngày thứ ba sau khi chôn. Theo *Gia lễ giản yếu*, sau khi táng xong, đến ngày thứ ba thì làm lễ ngu. Sách chú rằng ngu nghĩa là an, làm lễ an thần. *Việt Nam phong tục* của Phan Kế Bính ghi an táng rồi trở về nhà lại tế, gọi là ngu tế, làm ba lần trong ba ngày (sơ ngu, tái ngu, tam ngu) để yên hồn phách người mất, và chỉ nhà phú quý mới có. Cũng sách ấy ghi một tục riêng trong ba ngày này: mỗi buổi chiều trong ba ngày đầu sau khi chôn, con cái mang cơi trầu ra mộ khóc, tục gọi là viếng mộ. Người mình thường chờ tới hôm thứ ba mới đắp lại mộ cho đàng hoàng, hoặc dựng nhà mộ.
Lễ tốt khốc là lễ vào ngày thứ một trăm. Theo *Việt Nam phong tục*, tuần trăm ngày mang tên tuần tốt khốc, ý nói tới lúc này mới thôi khóc. Sau khi tế một tiệc trong tuần này, việc cúng cơm hai buổi cũng chấm dứt. Như vậy, lễ tốt khốc đánh dấu việc chấm dứt giai đoạn cúng cơm hằng ngày, chuyển sang giai đoạn cúng theo kỳ giỗ.
Điểm khác biệt cơ bản: lễ ngu là lễ tế để yên hồn phách người mất ngay sau khi an táng; lễ tốt khốc gắn với việc chấm dứt khóc lóc và cúng cơm hằng ngày.
Lễ tiểu tường và lễ đại tường được hiểu là gì?
Lễ tiểu tường là lễ giỗ đầu, tức là sau khi mất được một năm. Theo *Việt Nam phong tục*, đến một năm thì giỗ đầu gọi là lễ tiểu tường. Bấy giờ mới trừ bỏ đồ hung phục như gậy, mũ gai, nhưng vẫn còn mặc đồ tang chế cho hết ba năm.
Lễ đại tường là lễ giỗ hết, tức là sau khi mất được hai năm. Theo *Việt Nam phong tục*, đến hai năm giỗ hết gọi là đại tường.
Lễ trừ phục (đàm tất) diễn ra khi nào?
Lễ trừ phục (còn gọi là đàm tất, đàm tế) là lễ bỏ hết đồ tang phục, trở về mặc áo thường. Thời điểm làm lễ này có chỗ khác nhau giữa các sách.
Theo *Gia lễ giản yếu* của Dương Bá Trạc: mất được trăm ngày thì làm lễ tốt khốc; giỗ đầu làm lễ tiểu tường; giỗ hết làm lễ đại tường; ba tháng sau giỗ hết thì cả nhà đều bỏ đồ để tang và làm lễ trừ phục.
Theo *Việt Nam phong tục* của Phan Kế Bính: hai tháng sau đại tường, chọn một ngày làm lễ trừ phục, gọi là đàm tế. Lúc ấy mới bỏ hết đồ tang phục và mặc các sắc phục thường.
Như vậy, Dương Bá Trạc ghi sau đại tường ba tháng, còn Phan Kế Bính ghi sau đại tường hai tháng. Đây là một điểm không thống nhất giữa hai nguồn. Người đọc nên biết rằng cả hai cách ghi đều tồn tại trong sách, và tùy theo gia đình, tùy theo vùng miền mà chọn thời điểm phù hợp.
Trong *Vũ trung tùy bút*, Phạm Đình Hổ chép rằng tang lễ có trình tự: sau khi mất ba ngày thì liệm, bốn ngày thì mặc áo tang, đến ba tháng mới chôn, tròn một năm cử hành lễ tiểu tường, quá hai năm cử hành lễ đại tường, và sau đó một tháng nữa làm lễ đàm tất, tức là lúc kết thúc tang chở. Như vậy, Phạm Đình Hổ ghi cách một tháng, khác với cả Dương Bá Trạc và Phan Kế Bính. Lời giải thích của ông cũng được ghi lại: tính từ khi bắt đầu để tang cho tới khi đàm tất, toàn bộ chỉ vỏn vẹn hai mươi bảy tháng.
Vì sao thời gian để tang lại là hai mươi bảy tháng?
Theo Phạm Đình Hổ trong *Vũ trung tùy bút*, lễ để chở ba năm là dạy cho dân theo bậc trung thường. Tính từ khi bắt đầu để tang cho đến khi đàm tất, toàn bộ quá trình chỉ kéo dài hai mươi bảy tháng. Ông giải thích: lòng người con hiếu vẫn thương xót khôn nguôi, nên có kẻ đã hết chở rồi mà cầm đàn lên đánh chẳng nên tiếng. Vì thế, thánh nhân mới đặt ra lễ để chở tới ba năm, coi vậy là vừa phải.
Con số hai mươi bảy tháng này là cách tính gộp: ba năm theo lễ cổ thường được tính là hai mươi bảy tháng, không phải ba mươi sáu tháng. Cách tính này có từ lễ cổ và được các sách Việt Nam ghi lại. Cần lưu ý rằng đây là quy ước của lễ cổ, không phải là một quy luật tự nhiên hay một tính toán thiên văn.
Tuần 49 ngày và lễ Trung nguyên đốt mã có nguồn gốc từ đâu?
Phạm Đình Hổ trong *Vũ trung tùy bút* cho hay: những nghi lễ như tuần thất thất (tức lễ tuần bốn chín ngày), tuần trăm ngày, cáo hè, điện hè, tống hè cùng Trung nguyên đốt mã đều thuộc lễ nhà Phật, không phải lễ của cổ nhân. Theo lời ông kể, thuyết Phật cho rằng cứ bảy ngày thì người chết phải một phen bị vua Diêm Vương đem ra tòa án duyệt án; đến tháng hè, minh phủ thương những kẻ tù tội đang chịu nắng nực, đôi khi đưa họ ra xét hỏi để đại xá. Bởi vậy, những ngày ấy ắt phải lập đàn chay để cầu phúc.
Theo ghi chép của Phạm Đình Hổ về ngày rằm tháng bảy: kinh Phật gọi đây là tết Trung nguyên, đồng thời cũng là dịp mà nơi âm phủ các quan âm tiến hành xét định tội án. Vì lẽ đó, vào ngày này người ta cũng cử hành theo nghi lễ Phật giáo, làm lễ cúng để độ vong và đốt đồ mã nhằm giúp người chết có thứ tiêu dùng. Ông cũng phê phán những kẻ không hiểu, hễ tới những ngày ấy là sát sinh bày cỗ, tụ họp thân bằng cố hữu để ăn uống.
Theo ghi nhận của Phan Kế Bính trong *Việt Nam phong tục*: tuần bốn mươi chín ngày được gọi là tuần chung thất. Tuần này có tế; có nhà làm chay ở chùa, nhờ nhà sư tụng kinh sám hối suốt ba đêm hoặc bảy đêm ngày, mục đích chính là để vong hồn được siêu thăng tịnh độ. Phan Kế Bính ghi về đốt mã rằng: có hai kỳ đốt mã trong khoảng tiểu, đại tường. Mã biếu là tên gọi của kỳ mã đầu tiên, còn kỳ mã thứ hai mới đúng là mã dâng cho người mất dùng. Vào dịp tuần trung nguyên tháng bảy, tục đốt diễn ra phổ biến, và không ít nhà cũng đốt vào ngày giỗ đầu cùng ngày giỗ hết.
Như vậy, có thể thấy rõ hai lớp nghi lễ: lớp cổ lễ (ngu, tốt khốc, tiểu tường, đại tường, trừ phục) và lớp Phật giáo nhập vào sau (tuần thất thất, tuần trăm ngày, Trung nguyên đốt mã). Các sách đều phân biệt hai lớp này, dù cách gọi tên và cách đếm ngày có chỗ khác nhau.
Lễ giỗ hằng năm được tổ chức như thế nào?
Sau khi đã làm lễ trừ phục, việc thờ cúng người mất chuyển sang chế độ giỗ hằng năm. Theo *Việt Nam phong tục* của Phan Kế Bính, ngày giỗ cụ kỵ, ông bà, cha mẹ gọi là ngày kỵ nhật. Chiều hôm trước cúng tiên thường, hôm sau mới là ngày chính kỵ. Đối với giỗ của các bậc xa như cụ kỵ ông bà, người ta sắm sửa gà, xôi hoặc vài mâm cỗ; lễ gia tiên được dâng trước, kế đó con cháu quây quần ăn uống. Còn ngày giỗ cha mẹ thì tục thường làm phong hơn.
Theo ghi chép của Phan Kế Bính: dù đám giỗ được tổ chức lớn hay nhỏ thế nào đi nữa, thế nào cũng phải có một bát cơm úp cùng một quả trứng luộc đặt lên trước tiên. Việc bày biện cỗ bàn, tùy theo điều kiện giàu nghèo của từng nhà, mà được tổ chức theo lối phong kiệm khác nhau. Nhiều nhà mời bà con khách khứa. Trong lễ giỗ, kẻ thì đem trà, cau, rượu, người thì mang vàng hương đến dâng cúng, sau đó mới uống rượu.
Trong *Gia lễ giản yếu*, Dương Bá Trạc đã đề cao tinh thần của lễ giỗ: lễ chẳng qua chỉ cần lòng thành kính cùng hương hoa dầu nước, quy tụ mọi người trong nhà trước ban thờ. Người gia trưởng, trước lúc hành lễ, kể lại các sự việc thời người được giỗ còn sống và nhắc nhở người nhà khắc ghi ân đức của người ấy đối với mình hiện nay ra sao, đoạn nghiêm trang sửa soạn bước vào lễ, sau khi lễ xong lại cùng ngồi im lặng suy ngẫm trong vài mươi phút.
Vì sao các sách xưa phàn nàn về tục lệ đám tang?
Cả Phạm Đình Hổ và Phan Kế Bính đều phàn nàn về việc đám tang, đám giỗ bị biến thành dịp ăn uống, hội họp, làm phiền tang gia.
Theo ghi chép của Phạm Đình Hổ trong *Vũ trung tùy bút*: kể từ khi người mới qua đời cho tới lúc chôn cất, nếu có điều chi không vừa ý thì người ta lại vin vào lệ làng để hạch sách, thậm chí có nhà phải bán sạch vườn ruộng chỉ để lo cúng vào cái mồm, cái bụng của những kẻ hạch ăn. Thói ấy dù đã nhiều lần ra lệnh cấm, rút cuộc vẫn không sao sửa hết được. Ông cũng phàn nàn về việc lễ thành phục bị biến thành cỗ bàn tế lễ rình rang, làng xóm cũng kéo tới, tụ họp tại nhà tang gia, soạn văn tế, giảng nghi tiết, rồi chén anh chén chú, bàn tán huyên thiên, chẳng khác nào một cuộc khánh hội.
Phan Kế Bính đã ghi nhận trong *Việt Nam phong tục* rằng: đối với nhà hào trưởng trong làng, đôi khi cả làng tới dự giỗ; đối với nhà ông thầy có đông học trò, học trò đều tới dự giỗ; còn đối với nhà quan trưởng, thường thì cả tổng lý phủ huyện tới lễ giỗ, việc ăn uống rất phiền phí.
Đây là những lời phàn nàn của người xưa về thực trạng, không phải là quy định của lễ. Các sách vẫn ghi rõ nghi thức chuẩn, nhưng đồng thời ghi lại cả những biến tướng trong thực tế.
Các sách này ghi tục ở đâu, vào lúc nào?
Các sách được dẫn ở trên chủ yếu ghi tục lệ ở miền Bắc Việt Nam đầu thế kỷ XX. *Gia lễ giản yếu* của Dương Bá Trạc in tại Hà Nội năm 1932. *Việt Nam phong tục* của Phan Kế Bính in lần đầu năm 1915, cũng ở Hà Nội. *Vũ trung tùy bút* của Phạm Đình Hổ viết vào đầu thế kỷ XIX, thời Nguyễn.
Vì vậy, các sách ấy không cho biết tục lệ ở từng vùng miền khác nhau ra sao. Ngay giữa ba cuốn sách, thời điểm làm lễ trừ phục đã là một, hai hoặc ba tháng sau đại tường.
Về tuần 49 ngày, Phạm Đình Hổ ghi rõ đó là lễ nhà Phật, không phải lễ cổ nhân, còn Phan Kế Bính chép tuần chung thất như một tục đương thời. Đây là một ví dụ về sự dung hợp giữa cổ lễ và Phật giáo trong tục tang ma của người Việt.
Tóm lại, các lễ sau đám tang gồm những gì?
Các lễ sau đám tang của người Việt theo tục xưa gồm hai lớp chính. Lớp cổ lễ gồm: lễ ngu (ba ngày), lễ tốt khốc (trăm ngày), lễ tiểu tường (giỗ đầu), lễ đại tường (giỗ hết), lễ trừ phục (đàm tất). Lớp Phật giáo gồm: tuần thất thất (bốn chín ngày), tuần trăm ngày, lễ Trung nguyên đốt mã (rằm tháng bảy). Ngoài ra còn có việc cúng cơm hai buổi hằng ngày sau khi chôn, và việc giỗ hằng năm sau khi đã trừ phục.
Thời gian để tang theo lễ cổ khoảng hai mươi bảy tháng, tính từ lúc mất tới lúc trừ phục. Cách đếm và cách gọi tên các lễ có chỗ khác nhau giữa các sách. Người đọc nên tham khảo nhiều nguồn và tùy theo điều kiện gia đình, tùy theo tục lệ địa phương mà áp dụng cho phù hợp.
