
TL;DR: Đám giỗ ở miền quê Tây Nam Bộ thường có ba lễ: tiên thường chiều hôm trước (cúng ngày sống), chánh giỗ đúng ngày mất (cúng ngày chết) và hậu thường chiều ngày chánh giỗ, cúng để tiễn ông bà tổ tiên. Sau phần cúng, gia chủ đãi họ hàng, hàng xóm; hàng xóm thường tự sang phụ nấu nướng, và khách ra về được gửi phần mang về.
Đám giỗ miền Tây Nam Bộ gồm những chặng nào?
Ở nhiều nhà miền quê Tây Nam Bộ, một đám giỗ có ba lễ. Theo phóng sự của báo Thanh Niên về một đám giỗ ở An Giang, ngày đầu gọi là tiên thường, nghĩa là cúng ngày sống; ngày sau là chánh giỗ, cúng ngày chết; chiều ngày chánh giỗ còn làm hậu thường, cúng để tiễn ông bà tổ tiên đi sau những ngày về ăn giỗ với con cháu[3]. Không phải nhà nào cũng làm đủ ba lễ.
Lễ cúng hôm trước không riêng miền Tây. Sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, tả phong tục đầu thế kỷ 20, ghi: chiều hôm trước cúng tiên thường, hôm sau mới là ngày chính kỵ[1].
Tiên thường là gì và vì sao cúng chiều hôm trước?
Tiên thường là lễ cúng chiều hôm trước ngày giỗ chính, mở đầu đám giỗ; hôm ấy cũng là ngày người nhà và hàng xóm chuẩn bị cho ngày chính.
Ở nhà bà Thu (An Giang) mà phóng sự Thanh Niên kể, trước đám giỗ một ngày, gia chủ đi chợ mua nguyên liệu nấu món mời bà con chòm xóm, dòng họ, bạn bè; chị em phụ nữ trong nhà và trong xóm tới gói bánh ít, chuẩn bị món cho ngày giỗ chính[3]. Một phóng sự khác của Thanh Niên tả buổi tối tiên thường ấm cúng với nồi cháo gà, cháo vịt và món cuốn bì[2].
Phan Kế Bính ghi có nơi chiều hôm cúng tiên thường bà con đã đến chơi đông, uống rượu rồi bày cuộc vui, lấy tiếng ở lại chầu chực gia tiên; sáng hôm sau uống thêm bữa rượu chính kỵ mới tan[1].
Chánh giỗ diễn ra như thế nào?
Chánh giỗ là lễ cúng chính, làm đúng ngày mất theo âm lịch; họ hàng, hàng xóm và khách mời dùng bữa sau phần cúng.
Phóng sự của Thanh Niên kể ông Lê Văn Út ở xã Ninh Quới, Cà Mau: mỗi khi gần tới ngày giỗ, ông cùng vợ rọc lá chuối gói bánh tét, bánh ít, chuẩn bị xoong nồi, chén bát[2]. Ông nhắc lời bà nội: "Hồi xưa, bà nội mê cá lóc nướng trui nhất hạng. Tới đám giỗ bà phải ráng có món này nghen con", nên trước đám giỗ cả tuần, con cháu đã tìm cá rồi rọng sẵn trong khạp[2].
Mâm cỗ chánh giỗ gồm những gì?
Ở đám giỗ nhà bà Thu, phóng sự kể các món thịt kho hột vịt, khổ qua hầm, lẩu cua đồng, bao tử hầm tiêu, cá lóc nướng, vịt nướng; người nhà và hàng xóm dùng bữa sau khi xong phần cúng kiếng[3]. Một gia đình ở Cà Mau trong cùng bài bày ba mâm cúng: một mâm cho người thân đã mất, một mâm cho cửu huyền thất tổ ở bàn giữa trong nhà, một mâm ngoài sân cho chiến sĩ, đất đai nhơn trạch[3]. Món cụ thể thay đổi theo từng nhà.
Hậu thường là gì và có phải lúc nào cũng có?
Hậu thường là lễ cúng vào buổi chiều ngày chánh giỗ, để tiễn người đã khuất, ông bà tổ tiên đi sau những ngày về ăn giỗ với con cháu[3]. Đây là một lễ cúng, không phải bữa cỗ đãi khách.
Nhà làm giỗ gọn có thể không làm lễ này.
Vì sao hàng xóm chưa được mời đã sang phụ?
Ở nhiều vùng quê miền Tây, hàng xóm thường tự sang nhà phụ giúp trước khi gia chủ kịp mời. Theo bài báo Thanh Niên, "trước ngày giỗ, hàng xóm đã tự sang nhà phụ gói bánh, làm gà vịt, nấu nướng dù gia chủ chưa kịp mở lời mời"[2]. Cách mời đám giỗ của người miền Tây đôi khi được mô tả là "cập rập": ngày mai chính đám, tối nay gia chủ mới lật đật sang mời, nhưng "chẳng ai trách móc, bắt bẻ"[2].
Bài báo lý giải nếp ứng xử này bắt nguồn từ truyền thống "tối lửa tắt đèn có nhau": trước đó, nhà ai có hậu sự thì hàng xóm tới lui chia buồn tới lúc chôn cất, vì thế mà ngày giỗ quải khó mà quên được[2]. Đây là mô tả thực tế ở một số địa phương miền Tây, không phải quy định chung cho mọi nơi.
Tục đãi khách và phần mang về có từ đâu?
Theo phóng sự của báo Thanh Niên, khách đến ăn đám giỗ miền Tây không chỉ được đãi món ngon mà sau khi xong tiệc còn được tặng phần mang về. Tục này được mô tả là "tục xưa rất đẹp được nhiều gia đình ở miền quê lưu giữ qua nhiều thế hệ", thể hiện "tính cách hào sảng, chân chất và nghĩa tình của người dân nơi đây"[3].
Ông Thôn ở Cà Mau nói không biết tục có từ bao giờ, chỉ biết được truyền từ đời ông bà, và phần quà là cách cảm ơn chòm xóm láng giềng đã dành thời gian đến dự[3]. Phần mang về có thể là đòn bánh tét, mớ bánh ít, vài cái bánh bông lan, xôi nếp, tôm, hoa quả; láng giềng bận không đến được thì chủ nhà cho con cháu mang phần tới tận nhà[3]. Đám giỗ cũng là dịp họ hàng gần xa tề tựu, chia sẻ chuyện làm ăn, chuyện học hành của con cái[3].
Các chặng của đám giỗ miền Tây qua bảng đối chiếu
| Chặng | Thời điểm | Ý nghĩa | Việc thường làm |
|---|---|---|---|
| Tiên thường | Ngày đầu, chiều hôm trước ngày giỗ | Cúng ngày sống | Cúng; người nhà, hàng xóm gói bánh, nấu món cho ngày chính |
| Chánh giỗ | Đúng ngày giỗ âm lịch | Cúng ngày chết | Cúng chính, rồi đãi họ hàng, hàng xóm, khách mời |
| Hậu thường | Chiều ngày chánh giỗ | Cúng tiễn ông bà tổ tiên đi | Lễ cúng trong nhà |
Đám giỗ miền Tây có gì khác với các vùng khác?
Sự khác biệt rõ nhất nằm ở cách tổ chức và không khí sinh hoạt. Ở miền Tây, đám giỗ thường gắn với không gian sông nước, vườn tược, với các món ăn dân dã như cá lóc nướng trui, bánh tét, bánh ít. Cách mời khách có thể "cập rập" hơn, nhưng bù lại là sự tự giác của hàng xóm trong việc phụ giúp[2].
Sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính cũng ghi nhận một điểm chung của tục giỗ ở nước ta: trong khi giỗ, dẫu làm lớn nhỏ thế nào, làm sao cũng phải có một bát cơm úp vào một quả trứng luộc làm đầu[1]. Ông cũng nhận xét tục làm giỗ về sau thành ra phần nhớ đến tiên nhân thì ít, mà phần lo khoản đãi bà con khách khứa thì nhiều[1].
Trước đó, Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút đã chê: "Tục nước ta, nhà nào đến ngày giỗ thì hết sức lo tính, thậm chí phải đi vay mượn về làm cỗ bàn để đãi khách, không còn có chút thương nhớ gì cả"[4].
Gợi ý của Nhật Nguyệt cho người tổ chức đám giỗ hôm nay
Gợi ý của Nhật Nguyệt: nếu gia đình bạn đang chuẩn bị đám giỗ, có thể cân nhắc giữ đủ ba chặng tiên thường, chánh giỗ, hậu thường nếu điều kiện cho phép, nhưng không nhất thiết phải làm quá lớn. Điều quan trọng là mâm cúng phải thành tâm, món ăn phải tươi sạch, và không khí gia đình phải ấm cúng. Việc đãi khách nên vừa phải, tránh rơi vào tình trạng "vay mượn làm cỗ" như Phạm Đình Hổ từng phê phán. Tục chia phần mang về có thể giữ lại như một nét đẹp, nhưng cần tính toán lượng cỗ hợp lý để tránh lãng phí.
Câu hỏi thường gặp
Tiên thường có bắt buộc phải cúng không?
Không bắt buộc. Tiên thường là tục lệ phổ biến ở nhiều gia đình, nhưng không phải gia đình nào cũng thực hiện. Tùy điều kiện và phong tục từng nơi, gia đình có thể chỉ cúng chánh giỗ hoặc tổ chức cả ba chặng.
Hậu thường có phải là bữa ăn sau khi cúng?
Không. Hậu thường là lễ cúng tiễn ông bà tổ tiên vào chiều ngày chánh giỗ; bữa cơm đãi khách là phần sau lễ cúng chính.
Vì sao đám giỗ miền Tây thường có tục mang phần về?
Theo phóng sự của báo Thanh Niên, gia chủ xem phần quà là cách cảm ơn chòm xóm đã dành thời gian đến dự, một tục truyền từ đời ông bà[3]. Một người hàng xóm nhớ ngày trước thiếu ăn thiếu mặc, phần mang về như vậy là rất quý[3].
