
TL;DR: Đi ăn giỗ không có một chuẩn lễ vật chung cho cả nước. Tùy vùng và tùy quan hệ, khách có thể mang vàng hương, hoa quả, bánh trái, chai bia hay phong bì tiền, và ở miền Tây nhiều nơi khách còn được gia chủ gói phần mang về. Điều cốt lõi mà các sách gia lễ nhấn mạnh là lòng thành kính với người đã khuất, không phải độ lớn của mâm cỗ.
Vì sao có tục đi ăn giỗ và gửi giỗ?
Ngày giỗ, tiếng Hán Việt là kỵ nhật, là ngày tưởng nhớ người đã khuất trong gia đình. Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục (in thành sách năm 1915) ghi rằng chiều hôm trước là cúng tiên thường, hôm sau mới là ngày chính kỵ; giỗ xa như cụ kỵ ông bà thì sắm con gà, ván xôi hoặc vài mâm cỗ, trước cúng gia tiên, sau con cháu sum họp ăn uống với nhau[1].
Việc cúng giỗ tập trung ở nhà người con trai trưởng, hoặc nếu con trai trưởng đã mất thì ở nhà người cháu đích tôn. Những người con thứ, cháu thứ, cháu ngoại vẫn phải có đồ lễ mang tới cúng, và việc mang đồ lễ lại nhà trưởng tộc như vậy gọi là gửi giỗ[2].
Có thể nói gọn: gửi giỗ là cơ chế phân công trách nhiệm trong dòng họ. Người trưởng chi lo đứng ra cúng, người ở nhánh khác lo phần lễ vật của mình. Nhờ vậy mà ngày giỗ không dồn hết gánh nặng lên một nhà, và cũng không có ai được phép quên.
Đi ăn giỗ nên mang gì?
Câu trả lời thẳng: mang gì cũng được, miễn là có lễ vật và có lòng thành. Sách Nếp cũ của Toan Ánh ghi nhận lễ gửi giỗ trọng hay mọn tùy theo khả năng tài chính của người sống và tùy theo sự liên hệ giữa người sống với người chết. Một tằng tôn, huyền tôn gửi giỗ có thể chỉ gửi thẻ hương ngàn vàng; một người cháu gửi cúng chú có thể gửi vài cân trái cây hay một bó hoa cùng vàng hương nến; con cháu thường gửi giỗ trọng hơn, có khi bằng tiền kèm đồ lễ đáng giá, có khi là cả con lợn, cặp gà hay thúng gạo nếp[2].
Theo lời một nàng dâu quê Nghệ An về làm dâu ở Đồng Tháp, nơi chị sống khách đến đám giỗ thường mang đồ uống như bia, nước ngọt, gia vị như mắm, muối, đường, hoặc trái cây, thay vì đưa phong bì tiền như ở một số địa phương khác; chính chị cũng nói nét này có thể chỉ có ở một số nơi của miền Tây[3].
Bảng dưới đây tổng hợp các nhóm lễ vật thường gặp và ý nghĩa của chúng:
| Nhóm lễ vật | Ví dụ | Ý nghĩa / ghi chú |
|---|---|---|
| Hương đèn | Vàng hương, nến, thẻ hương | Tối thiểu, ai cũng mang được, kể cả cháu chắt xa |
| Hoa quả | Bó hoa, mâm trái cây | Nhẹ nhàng, phù hợp khách ở xa hoặc quan hệ xa |
| Bánh trái | Bánh, xôi, oản | Dễ chia, dễ dùng trong mâm cỗ |
| Thực phẩm tươi | Con gà, thúng gạo nếp, con lợn | Thường của con cháu ruột thịt, góp thẳng vào cỗ |
| Đồ uống, gia vị | Bia, nước ngọt, mắm, muối, đường | Ghi nhận ở một số nơi miền Tây[3] |
| Phong bì tiền | Tiền mặt kèm đồ lễ | Phổ biến ở một số vùng, coi như góp phí tổn làm giỗ |
Một nét đáng chú ý: có người khi gửi giỗ lại mua thứ mà người chết khi sinh thời ưa thích. Chẳng hạn người khuất lúc sống hay dùng mực Bắc Hải, ngày giỗ con cháu cũng lựa mực Bắc Hải mang tới nhà người trưởng tộc làm lễ cúng[2]. Đây là chi tiết cho thấy lễ vật không chỉ là nghĩa vụ, mà còn là cách nhớ một con người cụ thể.
Mời khách dự giỗ thế nào cho phải phép?
Về phía gia chủ, sách Gia lễ giản yếu (1932) của Dương Bá Trạc không nói tới việc mời khách. Sách chép rằng lễ cốt ở lòng thành kính, chỉ cần hương hoa dầu nước, rồi triệu tập mọi người trong nhà quây quần trước ban thờ; trước buổi lễ, gia trưởng kể lại chuyện đời sống của người được giỗ hôm ấy, nhắc nhở người nhà ghi lòng ơn đức của vị ấy, sau đó mọi người sửa sang chỉnh tề mà bái lạy, lễ xong thì cùng ngồi yên lặng mà hồi tưởng trong vài mươi phút[4].
Như vậy, phần cốt lõi của ngày giỗ theo sách này là lời kể về người đã khuất và khoảng lặng tưởng nhớ, chứ không phải phần cỗ bàn.
Nhưng thực tế thì khác. Từ đầu thế kỷ 20, Phan Kế Bính đã than phiền rằng lắm nhà mời bà con khách khứa, nhà hào trưởng trong làng có khi cả làng kéo đến ăn giỗ, nhà ông thầy dạy nhiều học trò thì cả học trò kéo đến ăn giỗ, ăn uống thì phiền phí lắm[1]. Hơn một thế kỷ trước đó, Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút đã chê tục nước ta đến ngày giỗ thì hết sức lo tính, thậm chí đi vay mượn về làm cỗ bàn để đãi khách, đến mức không còn chút thương nhớ gì[5].
Đây là chỗ các nguồn không thống nhất với nhau, và cần nói rõ: sách gia lễ đề cao sự giản dị và lòng thành, còn thực tế dân gian nhiều nơi lại biến ngày giỗ thành dịp thết khách. Bài này không chọn bên nào, chỉ ghi nhận cả hai.
Ở miền Tây, khách đi ăn giỗ còn được gói phần mang về, vì sao?
Ở miền Tây, sau mâm cơm, khách ra về đôi khi còn được gia chủ gửi thêm bánh, xôi, trái cây hoặc một phần thức ăn mang theo[6]. Phần mang về không cố định, có khi là vài đòn bánh, hộp xôi, ít trái cây hoặc chút thức ăn trong mâm cỗ[6].
Chị Minh Ngọc ở Cần Thơ chia sẻ với báo Znews rằng nhà có đám thì đãi khách cho đàng hoàng, khách ăn tại nhà rồi, lúc về cũng gói thêm ít đồ cho họ; có khi người ta không lấy nhưng mình vẫn cứ gửi, vì đó là tấm lòng của gia đình[6]. Người ở gần nhận mang về cho con cháu, người có cha mẹ lớn tuổi hoặc người thân không thể đến dự cũng có thể xin thêm một phần[6].
Cần lưu ý rằng đây là tục lệ ghi nhận ở miền Tây, không phải phong tục chung của cả nước. Một nàng dâu quê Nghệ An lấy chồng ở Đồng Tháp kể rằng ở nhà chồng, đám giỗ tự nấu và không có giờ ăn cỗ cụ thể; nếu ở miền Bắc và miền Trung cỗ thường bày cho 6 người, khách đến cùng một khung giờ để gia chủ mời cỗ một lượt, thì ở miền Tây mỗi mâm thường có 10 người, khách đến giờ nào trong buổi cũng được, cứ đủ người là xếp bàn và nhập tiệc[3]. Mâm cỗ miền Tây theo lời kể này khá thịnh soạn, bày biện khoảng 12 đến 13 món từ khai vị, món chính đến tráng miệng[3].
Cách tiếp khách ở miền Tây vì thế cũng khác: khách không cần đến đúng một giờ cố định, và việc gói phần mang về là chuyện tự nhiên, tùy hoàn cảnh và điều kiện của từng gia đình[6].
Những điều nên tránh khi đi ăn giỗ và khi mời khách
Về phía khách, nguyên tắc đơn giản nhất là đừng đến tay không nếu còn có thể mang chút gì. Sách Nếp cũ cho thấy ngay cả người ở xa không về được, ngày giỗ cũng cố mua đồ lễ gửi về người trưởng tộc, và ngoài việc gửi giỗ còn làm lễ cúng vọng trong ngày giỗ[2]. Như vậy, khoảng cách không phải lý do để không có lễ.
Về phía gia chủ, bài học từ Phạm Đình Hổ vẫn còn nguyên giá trị: đừng vì cỗ bàn mà quên mất ý nghĩa của ngày giỗ. Theo lời ông, giỗ là dịp truy viễn cảm thời, phải dốc hết lòng nhớ thương, tuyệt đối không được bày ra lễ hưởng tế; sách Lễ ký dạy rằng người quân tử chẳng phải chỉ thương xót một buổi sớm, mà mang tang đến trọn đời, ý muốn nói tới ngày giỗ là vậy[5].
Một hướng khác đang được nhiều gia đình chọn là tổ chức giỗ theo hướng nhẹ nhàng, giản tiện, thanh tịnh nhưng vẫn giữ trọn lòng thành kính và sự trang trọng; đãi chay cũng giúp giảm bớt tiệc tùng rượu bia, hạn chế chè chén căng thẳng[7].
Đây là gợi ý của tác giả Trần Xuân Tiến trên báo Tuổi Trẻ, không phải quy định bắt buộc, và mỗi gia đình tùy điều kiện mà chọn cách làm phù hợp.
Tóm lại, phải phép nằm ở đâu?
Nằm ở chỗ người sống nhớ đúng người đã khuất. Sách Gia lễ giản yếu nhấn mạnh việc người gia trưởng thuật lại chuyện hồi sinh thời của người được giỗ và bảo ban con cháu ghi nhớ ơn đức[4]. Sách Việt Nam phong tục nhắc rằng tổ tiên xưa đặt ra lễ giỗ âu cũng chỉ nhằm bày tỏ tấm lòng tưởng nhớ những bậc sinh thành và gây dựng cơ nghiệp cho mình, gói gọn trong ý bất vong bản mà thôi[1].
Đi ăn giỗ nên mang gì? Mang thứ mình có thể mang, theo đúng quan hệ của mình với người được giỗ. Mời khách thế nào? Mời bằng lòng thành, và để khách đến theo cách thuận tiện nhất cho cả hai bên. Còn lại là chuyện của mỗi vùng, mỗi nhà.
