Bàn Kỳ Môn đã lập thì đọc cát hung từ đâu?
Sau khi an xong cục Kỳ Môn Độn Giáp, bàn có bốn tầng cơ bản để luận: tầng can (thiên bàn và địa bàn), tầng môn (Bát Môn), tầng tinh (Cửu Tinh) và tầng thần (Bát Thần). Cát hung không nằm ở một tầng riêng lẻ mà ở tương quan giữa các tầng, trong đó tương quan can thiên bàn với can địa bàn là lớp được ghi chép dày nhất. Sách Kỳ Môn Chỉ Quy dành hẳn một mục tên Thập can khắc ứng để liệt kê từng cặp can, và sách Kỳ Môn Độn Giáp diệu bí của Khâu Kim Hán cũng dùng chính lớp này làm xương sống khi bàn việc tiến binh, cắm trại, phòng tập kích.

Bốn nhóm cách cục thường được đọc cùng nhau gồm: thập can khắc ứng, Tam trá và Cửu độn, các cách hung (Lục nghi kích hình, Tam kỳ nhập mộ, Môn bách), và Phản ngâm cùng Phục ngâm. Mỗi nhóm bắt một kiểu tình huống khác nhau, nên người luận phải đặt chúng cạnh nhau mới ra được kết luận, chứ không chỉ tra một bảng rồi kết.
Thập can khắc ứng là gì và đọc như thế nào?
Thập can khắc ứng là cách đọc cặp can thiên bàn gặp can địa bàn tại cùng một cung, mỗi cặp cho một tên cách và một lời đoán riêng. Sách Kỳ Môn Chỉ Quy ghi: Mậu gia Bính là Thanh Long phản thủ, động tác đại lợi, nhưng nếu gặp bách mộ hay kích hình thì việc tốt hóa thành việc dữ; Bính gia Giáp là Phi điểu điệt huyệt, cũng thuộc nhóm cát thần; Tân gia Ất là Bạch Hổ xương cuồng; Ất gia Tân là Thanh Long đào tẩu; Quý gia Đinh là Đằng Xà yêu kiều; Đinh gia Quý là Chu Tước đầu giang.
Sách Kỳ Môn Độn Giáp diệu bí bổ sung cách đọc theo hướng dụng binh: Phản thủ, Điệt huyệt, Tam trá, Cửu độn là nhóm cát nhưng rất kỵ hạ khắc thượng; thời can khắc nhật can chủ hạ phạm thượng, chủ thắng khách. Sách cũng cảnh báo Hổ xương cuồng nếu không hội được Kinh Môn và Khai Môn thì bất lợi cho khách, còn Phản thủ thì chủ binh đại lợi mà khách cũng không hung.
| Can thiên bàn | Can địa bàn | Tên cách | Lời đoán ghi trong Kỳ Môn Chỉ Quy |
|---|---|---|---|
| Mậu | Mậu | Phục ngâm | Mọi việc bế tắc, tĩnh thủ là tốt |
| Mậu | Ất | Thanh Long hợp linh | Môn cát thì việc cát, môn hung thì việc hung |
| Mậu | Bính | Thanh Long phản thủ | Động tác đại lợi, nhưng gặp bách mộ hay kích hình thì cát hóa thành hung |
| Mậu | Đinh | Thanh Long diệu minh | Cầu danh, yết kiến quý nhân thì lợi, gặp mộ bách thì sinh thị phi |
| Mậu | Kỷ | Quý nhân nhập ngục | Công việc và việc tư đều bất lợi |
| Mậu | Canh | Trực phù phi cung | Việc cát hóa bất cát, việc hung càng hung |
| Mậu | Tân | Thanh Long chiết túc | Được môn cát trợ thì còn mưu được, gặp môn hung thì mất của, chân cẳng có tật |
| Mậu | Nhâm | Long nhập thiên lao | Âm dương đều bất lợi |
| Mậu | Quý | Thanh Long hoa cái | Môn cát thì chiêu phúc, môn hung thì nhiều trái ý |
| Ất | Mậu | Lợi âm hại dương | Gặp môn hung bách thì phá tài, thương người |
Bảng trên chỉ trích phần đầu của mục Thập can khắc ứng trong Kỳ Môn Chỉ Quy, tức các cặp lấy Mậu và Ất làm can thiên bàn. Sách chép tiếp các cặp Ất gia Bính, Ất gia Đinh, cho tới Quý gia Quý, đủ mười can nhân mười can, nhưng phần lớn bản in còn lại đã mất chữ, nên không thể dựng lại nguyên vẹn ở đây. Điều đáng chú ý là cùng một cặp can, sách Kỳ Môn Chỉ Quy và sách Kỳ Môn Độn Giáp diệu bí có chỗ gọi tên khác nhau, và cách đọc cũng nghiêng về mục đích khác nhau: một bên thiên về việc thường, một bên thiên về hành quân.
Tam trá và Cửu độn: nhóm cách cục được xem là cát
Tam trá là ba cách cục cát, Cửu độn là chín cách cục cát, cả hai đều thuộc nhóm được Kỳ Môn Độn Giáp diệu bí xếp vào loại cát nhưng kỵ hạ khắc thượng. Sách Kỳ Môn Độn Giáp diệu bí ghi rõ: Phản thủ, Điệt huyệt, Tam trá, Cửu độn chi loại, tối kỵ hạ khắc thượng. Nghĩa là dù là cách cát, nếu thế hạ khắc thượng xuất hiện thì lợi thế bị đảo.
Về Cửu độn, sách Kỳ Môn Độn Giáp diệu bí có đoạn nói về Địa Độn, Thiên Độn, Nhân Độn, Thần Độn, Quỷ Độn, Long Độn, Hổ Độn, Phong Độn, Vân Độn. Một số bản chép điều kiện cụ thể: Nhân Độn khi Môn Hưu hợp với Kỳ Đinh và Thái Âm cùng một địa bàn thì có thể ra quân; Thần Độn khi Kỳ Bính hợp với Sinh Môn và Cửu Thiên. Tuy nhiên, chính sách này cũng ghi nhận rằng khi đem dùng vào việc binh thì nhiều phép độn không thấy ứng nghiệm, và cho rằng nguyên nhân có thể nằm ở việc bỏ qua các nguyên tắc về Âm Dương, Môn khép mở và sự biến hóa của Thiên Cầm.
| Tên độn | Điều kiện ghi trong Kỳ Môn Độn Giáp diệu bí | Ghi chú |
|---|---|---|
| Nhân Độn | Môn Hưu hợp Kỳ Đinh và Thái Âm cùng một địa bàn | Có thể ra quân |
| Thần Độn | Kỳ Bính hợp Sinh Môn và Cửu Thiên | Thuộc nhóm cát |
| Các độn còn lại | Địa Độn, Thiên Độn, Quỷ Độn, Long Độn, Hổ Độn, Phong Độn, Vân Độn | Sách ghi nhận nhiều trường hợp không ứng nghiệm khi dùng vào việc binh |
Cần nói rõ: điều kiện của từng độn không được các sách chép giống nhau. Có bản chỉ ghi tên độn mà không ghi đủ điều kiện, có bản ghi điều kiện nhưng lại khác về môn và thần đi kèm. Vì vậy, khi tra Cửu độn, nên đối chiếu ít nhất hai bản trước khi dùng.
Những cách hung thường gặp: Lục nghi kích hình, Tam kỳ nhập mộ, Môn bách
Lục nghi kích hình là cách hung được cả Kỳ Môn Chỉ Quy và Kỳ Môn Độn Giáp diệu bí xếp vào loại nặng. Sách Kỳ Môn Chỉ Quy chép: Giáp Tý lâm Chấn, Giáp Tuất lâm Khôn, Giáp Thân lâm Cấn, Giáp Ngọ lâm Ly, Giáp Thìn lâm Tốn, Giáp Dần lâm Tốn, gọi là kích hình; gặp thời ấy kỵ dùng binh, an doanh, xuất hành, mưu việc đều bất lợi. Sách Kỳ Môn Độn Giáp diệu bí nhấn mạnh thêm: Lục nghi kích hình tối hung, dù cho Lục nghi có làm Trực phù đi nữa cũng không nên dùng.
Tam kỳ nhập mộ là cách hung thứ hai. Sách Kỳ Môn Chỉ Quy chép: Ất kỳ đến Khôn, Bính kỳ đến Càn, Đinh kỳ đến Cấn là Tam kỳ nhập mộ; kỵ hành quân, mọi việc cát hóa không cát, hung hóa không hung, là tượng vô công. Sách giải thích theo vòng trường sinh: Ất là âm mộc trường sinh ở Ngọ, mộ ở Tuất, nên Ất đến Càn (gồm Tuất, Càn, Hợi) là nhập mộ; Bính là hỏa trường sinh ở Dần, mộ ở Tuất, nên Bính đến Càn cũng là nhập mộ; Đinh là âm hỏa trường sinh ở Dậu, mộ ở Sửu, nên Đinh đến Cấn (gồm Sửu, Cấn, Dần) là nhập mộ. Sách Kỳ Môn Độn Giáp diệu bí cũng ghi Tam kỳ nhập mộ bách vô nhất thành, tức trăm việc không thành được một.
Môn bách là cách hung liên quan đến tương quan giữa Bát Môn và cung. Sách Kỳ Môn Chỉ Quy chép: Hưu môn lâm Ly, Khai môn và Kinh môn lâm Chấn và Tốn, Sinh môn và Tử môn lâm Khảm, Thương môn và Đỗ môn lâm Khôn và Cấn, Cảnh môn lâm Đoài và Càn, gọi là bát môn khắc cung, tức bách cung. Cung khắc bát môn gọi là chế cát môn; cung bách chế thì việc cát hóa không cát, việc hung hóa không hung; hung cung hung môn cùng chế thì tai ương càng nặng. Đây là lớp đọc theo vị trí, khác với lớp đọc theo cặp can.
Phản ngâm và Phục ngâm khác nhau ở đâu?
Phản ngâm và Phục ngâm là hai cách cục được nhắc nhiều nhất khi bàn về biến động và trì trệ trên bàn Kỳ Môn. Sách Kỳ Môn Chỉ Quy chép: Tinh, Phù, Môn trở về bản cung gọi là Phục ngâm; gặp thời ấy mọi mưu việc chỉ nên tĩnh thủ, không nên vọng động, nếu vội vàng tiến binh ắt bị vây khốn, dù có môn cát cũng không dùng được. Cũng theo Kỳ Môn Chỉ Quy, khi Lục Giáp gia Lục Mậu, tức can Mậu thiên bàn gặp can Mậu địa bàn, là Phục ngâm, mọi việc bế tắc, tĩnh thủ là tốt.
Phản ngâm được sách Kỳ Môn Độn Giáp diệu bí mô tả là trường hợp có biến động, có thể tốt hoặc xấu tùy các yếu tố đi kèm; sách ghi: Phản ngâm có cát cách thì cũng nên tiến binh, nên thừa loạn mà phá sát. Còn Phục ngâm thì nên tàng binh, ngầm để địch lọt vào thế phục của mình, muốn xuất binh thì phải chọn Cửu Thiên, Khai Môn và Trực phù. Sách cảnh báo Phản ngâm không tốt, Phục ngâm phải đề phòng tai nạn.
Điểm dễ nhầm là Phản ngâm và Phục ngâm trong Kỳ Môn không hoàn toàn trùng với Phản ngâm và Phục ngâm trong Huyền Không phi tinh. Ở Huyền Không, Phục ngâm toàn cục xảy ra khi Sơn Hướng Tinh nhập trung cung theo chiều thuận phi và chín cung đều bất động, còn Phản ngâm xảy ra khi Sơn Tinh hoặc Hướng Tinh của một cung đối xung với số Lạc Thư nguyên bản. Đây là hai hệ quy ước khác nhau, không nên lấy định nghĩa của hệ này áp cho hệ kia.
Các sách chép khác nhau ở những chỗ nào?
Chỗ khác nhau thứ nhất là tên cách. Sách Kỳ Môn Độn Giáp diệu bí chép Quý gia Đinh là Đằng Xà yêu kiều, một số bản chép là Đằng Xà yểu kiểu, lại có bản chép yêu kiêu. Cùng một cặp can mà tên cách không thống nhất, nên khi tra cứu nên ghi cả các dị bản. Sách Kỳ Môn Chỉ Quy ở mục Thập can khắc ứng chép Mậu gia Ất là Thanh Long hợp linh, trong khi một số tài liệu khác chép là Thanh Long hồi thủ; hai tên này không đồng nhất.
Chỗ khác nhau thứ hai là điều kiện của một số độn. Sách Kỳ Môn Độn Giáp diệu bí ghi điều kiện Nhân Độn và Thần Độn khá cụ thể, nhưng các độn còn lại thì chỉ nêu tên. Một số bản chép thêm điều kiện cho Địa Độn, Thiên Độn, nhưng không trùng nhau. Vì vậy, không có một bảng Cửu độn duy nhất được mọi sách công nhận.
Chỗ khác nhau thứ ba là cách xếp nhóm cát hung. Sách Kỳ Môn Chỉ Quy xếp Thanh Long phản thủ và Phi điểu điệt huyệt vào nhóm cát thần, nhưng cũng cảnh báo nếu gặp bách mộ hay kích hình thì cát hóa thành hung. Sách Kỳ Môn Độn Giáp diệu bí lại xếp Phản thủ, Điệt huyệt, Tam trá, Cửu độn vào nhóm cát nhưng kỵ hạ khắc thượng. Như vậy, cùng một cách, mức độ cát không giống nhau giữa hai sách.
Đọc bàn Kỳ Môn có phải là dự báo đã được kiểm chứng?
Không. Cần nói rõ: đây là quy ước của môn, được ghi trong Kỳ Môn Chỉ Quy, Kỳ Môn Độn Giáp diệu bí và Độn Giáp Lược Giải, không phải dự báo đã được kiểm chứng. Bản thân sách Kỳ Môn Độn Giáp diệu bí đã ghi nhận rằng nhiều phép độn khi đem dùng vào việc binh thì không thấy ứng nghiệm. Sách Kỳ Môn Chỉ Quy trong phần tựa cũng kể lại trường hợp một người tự xưng giỏi Kỳ Môn được giao việc quân sự nhưng đánh đâu thua đó, rồi lặng lẽ bỏ đi, và tác giả tựa bình rằng người ấy có lẽ chưa nắm được chỗ thật của môn.
Vì vậy, khi đọc một bàn Kỳ Môn, nên coi các cách cục là ngôn ngữ mô tả tình thế theo quy ước của môn, không phải lời phán quyết về kết quả. Cùng một cách cục, đặt trong bối cảnh khác nhau sẽ được luận khác nhau; và các sách cũng không thống nhất với nhau về mức độ cát hung. Người học nên ghi rõ mình đang theo quy ước của sách nào trước khi kết luận.
Ứng dụng bốn nhóm cách cục trong một lượt đọc
Khi đọc một bàn đã lập, thứ tự thường dùng là: xét Phục ngâm hoặc Phản ngâm trước để biết bàn đang tĩnh hay động; xét Lục nghi kích hình, Tam kỳ nhập mộ, Môn bách để loại những thế bế tắc; xét thập can khắc ứng để biết cặp can chủ khách đang ở thế nào; và cuối cùng xét Tam trá, Cửu độn để tìm thế cát. Sách Kỳ Môn Độn Giáp diệu bí cũng lưu ý thêm về nguyên tắc thời gian: dương thời nên thiên bàn cường, âm thời nên địa bàn cường.
Một điểm nữa cần nhớ: các cách cục không thay thế nhau. Phản thủ có thể là cát nhưng nếu đồng thời gặp kích hình thì lời đoán đổi chiều; Tam kỳ nhập mộ có thể làm mất hiệu lực của một cách cát khác. Đây là lý do vì sao sách Kỳ Môn Độn Giáp diệu bí nhấn mạnh việc phải đặt cách cục trong tổng thể bàn thay vì tra từng mục riêng lẻ.
