
TL;DR: Lục Nhâm lấy Tam Truyền (Sơ, Trung, Mạt) từ Tứ khóa trên Thiên địa bàn bằng chín phép xét theo thứ tự: tặc khắc, tỷ dụng, thiệp hại, dao khắc, mão tinh, biệt trách, bát chuyên, phục ngâm, phản ngâm. Ba phép đầu dùng khi Tứ khóa có khóa mà chữ trên, chữ dưới khắc nhau; bốn phép kế dùng khi không có khóa nào như vậy; hai phép cuối có cách lấy riêng khi Thiên bàn trùng hoặc xung Địa bàn. Năm phép đầu các sách xếp giống nhau, bốn phép sau thì lệch: Đại Lục Nhâm linh giác kinh đặt bát chuyên trước biệt trách, Đại Lục Nhâm kim giảo tiễn đặt ngược lại.
Chín phép phát Tam Truyền trong Lục Nhâm là gì?
Trong Lục Nhâm, sau khi lập xong Thiên địa bàn và Tứ khóa, người xem phải chọn ra ba truyền Sơ, Trung, Mạt để đọc khóa. Chín phép phát Tam Truyền là chín quy tắc tìm Sơ truyền (còn gọi là phát dụng), xét lần lượt theo một thứ tự định sẵn: tặc khắc, tỷ dụng, thiệp hại, dao khắc, mão tinh, biệt trách, bát chuyên, phục ngâm, phản ngâm. Đại Lục Nhâm linh giác kinh (大六壬靈覺經), quyển một, chép: "古经九宗门乃一贼克,二比用,三涉害,四遥克,五昴星,六八专,七别责,八伏吟,九返吟", tức chín tông môn theo kinh cũ, trong đó bát chuyên đứng trước biệt trách.
Chín phép chia ba nhóm theo hình dạng của Tứ khóa. Tặc khắc, tỷ dụng, thiệp hại dùng khi trong Tứ khóa có khóa mà chữ trên và chữ dưới khắc nhau. Dao khắc, mão tinh, biệt trách, bát chuyên dùng khi không có khóa nào như vậy. Phục ngâm và phản ngâm có cách lấy riêng khi Thiên bàn trùng hẳn hoặc xung hẳn với Địa bàn. Linh giác kinh tách hai phép cuối sang chỗ khác nên quyển đầu "只有七体" (chỉ có bảy thể); vì vậy có tài liệu nói bảy phép, có tài liệu kể đủ chín phép.
Vì sao phải có thứ tự ưu tiên giữa các phép?
Mục đích của thứ tự ưu tiên là bảo đảm mỗi khóa chỉ cho ra một Tam Truyền duy nhất, không phụ thuộc vào người lập. Nếu không có thứ tự, hai thầy Lục Nhâm có thể chọn hai bộ Tam Truyền khác nhau cho cùng một khóa, và toàn bộ hệ thống đoán sẽ mất tính tái lập.
Nguyên tắc chung là xét từ trên xuống, gặp phép nào đủ điều kiện thì dừng lại, không xét tiếp các phép dưới. Sách Lục Nhâm thường ghi tên phép ngay đầu mỗi khóa: Lục Nhâm trực chỉ (六壬直指) chép khóa ngày Đinh Sửu, cục thứ tư, can thượng Thìn là "课体:昴星,掩目,虎视", tức khóa phát truyền bằng phép mão tinh, có tên phụ là yểm mục và hổ thị.
Điều kiện và cách lấy Sơ truyền của từng phép:
| Phép | Khi nào dùng | Sơ truyền lấy thế nào |
|---|---|---|
| Tặc khắc | Chỉ một khóa có chữ dưới khắc chữ trên; không có thì chỉ một khóa có chữ trên khắc chữ dưới | Chữ trên của khóa ấy |
| Tỷ dụng | Hai, ba hoặc bốn khóa cùng có khắc | Chữ trên cùng âm dương với can ngày |
| Thiệp hại | Các khóa có khắc đều cùng, hoặc đều không cùng âm dương với can ngày | Chữ trên của khóa bị khắc nhiều hơn trên đường về cung gốc |
| Dao khắc | Không khóa nào có chữ trên, chữ dưới khắc nhau | Chữ trên khắc can ngày; không có thì chữ trên bị can ngày khắc |
| Mão tinh | Đủ bốn khóa, không khắc, không dao khắc | Lấy theo cung Dậu: ngày dương nhìn lên, ngày âm nhìn xuống |
| Biệt trách | Chỉ có ba khóa khác nhau, không khắc, không dao khắc | Ngày dương theo can hợp với can ngày, ngày âm theo tam hợp của chi ngày |
| Bát chuyên | Can chi ngày cùng vị, chỉ còn hai khóa khác nhau, không khắc | Ngày dương đếm thuận từ khóa một, ngày âm đếm nghịch từ khóa bốn |
| Phục ngâm | Thiên bàn trùng Địa bàn | Có khắc lấy khắc; không khắc thì chữ trên can (ngày dương) hoặc chữ trên chi (ngày âm) |
| Phản ngâm | Thiên bàn xung Địa bàn | Có khắc lấy khắc; ngày Đinh, Kỷ, Tân gặp Sửu, Mùi mà không khắc thì lấy Hợi hoặc Tị |
Tặc khắc và tỷ dụng khác nhau ở đâu?
Tặc khắc là phép xét đầu tiên. Theo định nghĩa trong sách Lục Nhâm, quyển 1: Nhập môn, khóa tặc được hiểu là khóa mà chữ ở dưới khắc chữ ở trên; chẳng hạn khi chữ dưới là Dậu và chữ trên là Mão, khóa ấy mang tên khóa tặc, bởi Dậu kim nằm dưới khắc Mão mộc nằm trên[1]. Ngược lại, khóa khắc là khóa có chữ trên khắc chữ dưới, ví dụ chữ trên là Tý khắc chữ dưới là Ngọ[1].
Trong Tứ khóa chỉ có một khóa tặc thì lấy chữ trên của khóa ấy làm Sơ truyền, gọi là khóa trùng thẩm (重審); không có khóa tặc mà chỉ có một khóa khắc thì lấy chữ trên của khóa khắc, gọi là khóa nguyên thủ (元首). Đại Lục Nhâm kim giảo tiễn (大六壬金鉸剪) tóm lại bằng câu quyết "取课先从下克呼,若无下克上为初", nghĩa là trước hết tìm khóa dưới khắc trên, không có mới lấy khóa trên khắc dưới. Trung truyền là chữ Thiên bàn đứng trên vị trí của Sơ truyền ở Địa bàn, Mạt truyền là chữ Thiên bàn đứng trên vị trí của Trung truyền.
Tỷ dụng dùng khi có hai, ba hoặc bốn khóa cùng có khắc. Kim giảo tiễn ghi câu quyết "常将天日相比取,阳日用阳阴用阴": trong các khóa ấy (có khóa tặc thì xét nhóm khóa tặc trước), lấy chữ trên cùng âm dương với can ngày, ngày dương lấy chữ dương, ngày âm lấy chữ âm. Khóa phát truyền theo phép này còn gọi là tri nhất (知一).
Thiệp hại và dao khắc được dùng khi nào?
Thiệp hại dùng khi các khóa có khắc đều cùng âm dương với can ngày, hoặc đều không cùng, nên tỷ dụng không phân được. Linh giác kinh coi cách "涉归本家" là cách chính: từ chỗ chữ trên đang đứng, đi trên Địa bàn về lại cung gốc của chữ ấy, đếm số lần bị khắc dọc đường; khóa chịu khắc nhiều hơn, tức bị hại sâu hơn, được lấy. Cách nhanh là xem chữ trên đứng ở cung mạnh (Dần, Thân, Tị, Hợi), trọng (Tý, Ngọ, Mão, Dậu) hay quý (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) của Địa bàn, theo câu "孟深仲浅季又浅": đứng ở cung mạnh là sâu nhất. Lấy chữ ở cung mạnh gọi là kiến cơ (見機), ở cung trọng hay quý gọi là sát vi (察微). Nếu các khóa sâu bằng nhau, Chu dịch hàm thư ước tồn (周易函書約存) ghi ngày dương lấy chữ trên can, ngày âm lấy chữ trên chi.
Dao khắc dùng khi không khóa nào có chữ trên, chữ dưới khắc nhau. "Dao" (遙) nghĩa là xa: không xét khắc trong cùng một khóa nữa mà xét chữ trên của các khóa với can ngày. Chu dịch hàm thư ước tồn ghi: lấy chữ trên khắc can ngày làm Sơ truyền, gọi là hao thỉ (蒿矢); không có thì lấy chữ trên bị can ngày khắc, gọi là đạn xạ (弹射); có hai chữ cùng khắc can, hoặc can cùng khắc hai chữ, thì chọn chữ cùng âm dương với can ngày.
Mão tinh và biệt trách có gì đặc biệt?
Mão tinh (昴星) dùng khi đủ bốn khóa nhưng không có khắc, cũng không có dao khắc. Phép này lấy cung Dậu làm mốc; Kim giảo tiễn chú rằng sao Mão nằm trong cung Dậu. Ngày dương nhìn lên từ cung Dậu của Địa bàn, lấy chữ Thiên bàn đứng trên đó làm Sơ truyền, Trung truyền là chữ trên chi, Mạt truyền là chữ trên can. Ngày âm nhìn xuống từ chữ Dậu của Thiên bàn, lấy chữ Địa bàn nằm dưới đó, Trung truyền là chữ trên can, Mạt truyền là chữ trên chi.
Lục Nhâm trực chỉ chép khóa ngày Đinh Sửu, cục thứ tư, can thượng Thìn với lời đoán "此昴星之卦,名冬蛇掩目,亦名虎视", tức quẻ mão tinh, gọi là "rắn mùa đông che mắt", cũng gọi là hổ thị. Lời đoán khuyên người xem như côn trùng ngủ đông, lui về chỗ kín và hết sức đề phòng; xem ban đêm thì rắn và hổ cùng tung hoành, càng là tượng hung.
Biệt trách (別責) dùng khi Tứ khóa chỉ có ba khóa khác nhau (hai khóa trùng nhau), không có khắc, không có dao khắc. Kim giảo tiễn ghi: ngày dương lấy chữ Thiên bàn đứng trên cung gốc của can hợp với can ngày; ngày âm lấy chữ đứng kế chi ngày theo chiều thuận trong bộ tam hợp của chi ấy (ngày Dậu lấy Sửu trong bộ Tị, Dậu, Sửu); Trung truyền và Mạt truyền đều lấy chữ trên can. Chu dịch hàm thư ước tồn đếm được cả thảy chín khóa biệt trách: "别责有九课".
Bát chuyên, phục ngâm và phản ngâm khác nhau ra sao?
Bát chuyên (八專) dùng cho ngày can chi cùng vị, tức cung gốc của can ngày trùng với chi ngày (như Giáp Dần, Canh Thân, Đinh Mùi, Kỷ Mùi), nên Tứ khóa chỉ còn hai khóa khác nhau. Hai khóa ấy có khắc thì vẫn theo tặc khắc, tỷ dụng, thiệp hại; không có khắc thì theo câu quyết của Kim giảo tiễn "两课无克号八专,阳日阳神顺行三,阴日阴神逆三数": ngày dương từ chữ trên khóa một đếm thuận tới vị thứ ba, ngày âm từ chữ trên khóa bốn đếm nghịch tới vị thứ ba, lấy làm Sơ truyền; Trung truyền và Mạt truyền đều lấy chữ trên can.
Phục ngâm (伏吟) là khóa mà Thiên bàn trùng Địa bàn từng cung, chữ nào nằm yên chỗ nấy. Theo Chu dịch hàm thư ước tồn, có khắc thì lấy chỗ khắc làm Sơ truyền; không có khắc thì ngày dương lấy chữ trên can, ngày âm lấy chữ trên chi, rồi Trung truyền là chữ bị Sơ truyền hình, Mạt truyền là chữ bị Trung truyền hình; gặp tự hình thì có cách đổi riêng. Lục Nhâm trực chỉ chép khóa ngày Giáp Tý, cục thứ nhất, can thượng Dần là "课体:伏吟,元胎", lời đoán gọi đây là "自任之卦" (quẻ tự nhiệm), "利静不利动" (lợi tĩnh, không lợi động).
Phản ngâm (返吟) là khóa mà mỗi chữ Thiên bàn đứng ở cung xung với nó trên Địa bàn. Phản ngâm thường có khắc nên Sơ truyền lấy như tặc khắc, tỷ dụng, thiệp hại; chỗ khác là Trung truyền lấy chữ xung với Sơ truyền, Mạt truyền lấy chữ xung với Trung truyền. Các ngày Đinh, Kỷ, Tân gặp Sửu hay Mùi mà phản ngâm không có khắc thì lấy riêng: ngày Sửu lấy Hợi, ngày Mùi lấy Tị làm Sơ truyền (Chu dịch hàm thư ước tồn). Linh giác kinh gọi các khóa này là tỉnh lan xạ (井栏射) và kể năm ngày Đinh Sửu, Đinh Mùi, Kỷ Sửu, Tân Sửu, Tân Mùi.
Thứ tự các phép có thống nhất giữa các sách không?
Không hoàn toàn. Năm phép đầu (tặc khắc, tỷ dụng, thiệp hại, dao khắc, mão tinh) thì Linh giác kinh, Kim giảo tiễn và Chu dịch hàm thư ước tồn xếp giống nhau. Bốn phép sau thì lệch: Linh giác kinh theo kinh cũ xếp bát chuyên thứ sáu, biệt trách thứ bảy; Đại Lục Nhâm kim giảo tiễn xếp biệt trách thứ sáu, bát chuyên thứ bảy; Chu dịch hàm thư ước tồn đưa phục ngâm, phản ngâm lên thứ sáu, thứ bảy, để biệt trách và bát chuyên ở cuối.
Bốn phép này đều dựa vào một hình dạng riêng của khóa (Tứ khóa thiếu khóa, hoặc Thiên bàn trùng hay xung Địa bàn), nên khi đối chiếu ví dụ giữa các sách, người học cần biết sách ấy xếp thứ tự thế nào.
Gợi ý của Nhật Nguyệt
Khi học chín phép phát Tam Truyền, nên nắm chắc cách lập Tứ khóa trước, vì phép nào cũng bắt đầu bằng việc xét từng khóa có khắc hay không và Tứ khóa có đủ bốn khóa khác nhau hay không. Nên luyện tặc khắc, tỷ dụng trên các khóa đơn giản trước rồi mới sang các phép cho khóa không có khắc. Với phục ngâm và phản ngâm, nhớ rằng Sơ truyền vẫn có thể lấy theo khắc; chỗ riêng của hai phép này chủ yếu nằm ở Trung truyền và Mạt truyền.
Cần nhớ đây là quy ước của môn Lục Nhâm, không phải quy luật tự nhiên. Các sách cổ không thống nhất hoàn toàn về thứ tự và chi tiết từng phép, nên khi đối chiếu với người khác cần ghi rõ mình theo sách nào.
