Tới nội dung

Tri thức / Đông phương

Tam Thức

Chín phép phát Tam Truyền trong Lục Nhâm gồm những phép nào?

Thuật số truyền thống Hệ diễn giải cổ.

Chín phép phát Tam Truyền trong Lục Nhâm gồm những phép nào?

TL;DR: Chín phép phát Tam Truyền (cửu tông môn) trong Lục Nhâm là tặc khắc, tỷ dụng, thiệp hại, dao khắc, mão tinh, biệt trách, bát chuyên, phục ngâm, phản ngâm; đó là chín cửa quy tắc để từ Tứ Khóa chọn ra Sơ, Trung, Mạt Truyền. Các sách xếp thứ tự hơi khác nhau: Linh giác kinh đặt bát chuyên trước biệt trách và tách phục ngâm, phản ngâm sang quyển riêng, còn Lục Nhâm túy ngôn đặt biệt trách trước bát chuyên.

Chín phép phát Tam Truyền là gì?

Chín phép phát Tam Truyền, tiếng Hán gọi là cửu tông môn (九宗門), là chín quy tắc để từ bốn khóa (Tứ Khóa) của một quẻ Lục Nhâm chọn ra ba truyền: Sơ Truyền, Trung Truyền và Mạt Truyền. Trong Lục Nhâm, Tứ Khóa chỉ là bốn cặp can chi đã an xong, còn Tam Truyền mới là phần dùng để đoán sự việc. Vì vậy toàn bộ kỹ thuật phát dụng (chọn hào phát động) nằm ở chín phép này. Sách Đại Lục Nhâm tầm nguyên của Trương Thuần Chiếu (tựa đề năm Gia Khánh 15, 1810) mở đầu bằng truyền thuyết Cửu Thiên Huyền Nữ trao ba thức, trong đó có Lục Nhâm, cho Hoàng Đế khi đánh Xi Vưu.

Cần phân biệt hai tầng: cửu tông môn là quy tắc phát dụng, còn khóa thể (khóa cách) là tên gọi của quẻ sau khi đã phát xong Tam Truyền. Một quẻ có thể vừa thuộc phép tặc khắc vừa mang tên khóa thể là "trùng thẩm" hay "nguyên thủ", cho nên hai khái niệm không thay thế cho nhau.

Chín phép cụ thể là những phép nào?

Dưới đây là chín phép theo thứ tự thường gặp, kèm điều kiện áp dụng như các sách Lục Nhâm chép.

  • Tặc khắc (賊克): trong bốn khóa có chữ dưới khắc chữ trên (gọi là tặc) hay chữ trên khắc chữ dưới (gọi là khắc). Có tặc thì lấy tặc trước; chỉ có một khóa như vậy thì lấy thượng thần của khóa ấy làm Sơ Truyền.
  • Tỷ dụng (比用): có hai, ba khóa cùng tặc hay cùng khắc thì chọn thượng thần cùng âm dương với can ngày: ngày dương lấy thần dương, ngày âm lấy thần âm.
  • Thiệp hại (涉害): các khóa ấy đều cùng âm dương với can ngày, hoặc đều không cùng, thì cho thượng thần đi trên địa bàn về bản gia, đếm số lần bị khắc dọc đường, lấy khóa bị khắc nhiều nhất. Bằng nhau nữa thì ngày dương lấy thần trên can, ngày âm lấy thần trên chi.
  • Dao khắc (遙克): bốn khóa không có khắc trên dưới thì so thượng thần của khóa hai, ba, bốn với can ngày. Thần khắc can ngày từ xa thì lấy làm dụng; không có thì lấy thần bị can ngày khắc.
  • Mão tinh (昴星): không khắc, cũng không dao khắc, bốn khóa đủ: xem cung Dậu, nơi có tú Mão (昴). Ngày dương lấy thần nằm trên cung Dậu của địa bàn, ngày âm lấy chữ địa bàn mà chữ Dậu của thiên bàn đè lên.
  • Biệt trách (別責): bốn khóa chỉ còn ba, lại không khắc. Ngày dương lấy thượng thần ở cung ký của can hợp với can ngày, như ngày Mậu thì Mậu hợp Quý, Quý ký ở Sửu, lấy thần trên Sửu; ngày âm lấy chữ đứng trước chi ngày trong tam hợp, như ngày Mùi lấy Hợi.
  • Bát chuyên (八專): can và chi ngày ở cùng một vị trí, như ngày Đinh Mùi, nên bốn khóa chỉ còn hai. Có khắc thì vẫn theo tặc khắc, tỷ dụng, thiệp hại; không khắc thì ngày dương đếm thuận ba cung từ thần trên can, ngày âm đếm nghịch ba cung từ thần trên chi.
  • Phục ngâm (伏吟): thiên bàn trùng địa bàn, các thần đứng yên tại chỗ.
  • Phản ngâm (返吟): mỗi thần của thiên bàn nằm ở cung xung đối trên địa bàn.

Các sách xếp thứ tự và cách gọi khác nhau ở đâu?

Đây là chỗ các sách không thống nhất, và người học cần biết rõ mình đang theo quy ước nào.

Thứ nhất, về thứ tự. Linh giác kinh chép cửu tông môn theo thứ tự tặc khắc, tỷ dụng, thiệp hại, dao khắc, mão tinh, bát chuyên, biệt trách, phục ngâm, phản ngâm, rồi tách phục ngâm và phản ngâm sang quyển dưới, nên quyển trên chỉ còn bảy thể. Lục Nhâm túy ngôn lại đặt biệt trách thứ sáu, bát chuyên thứ bảy.

Thứ hai, về tên gọi. Mỗi phép sinh ra những khóa thể mang tên riêng: tỷ dụng còn gọi là khóa tri nhất; thiệp hại chia ra khóa kiến cơ khi dụng thần đi qua cung mạnh (Dần, Thân, Tị, Hợi) và khóa sát vi khi qua cung trọng, cung quý; dao khắc chia ra khóa hao thỉ (thần khắc can ngày) và khóa đạn xạ (can ngày khắc thần). Đây là tên của quẻ, không phải tên khác của phép.

Thứ ba, về chỗ khó. Phàm lệ của Đại Lục Nhâm tầm nguyên nói các khóa phục ngâm, phản ngâm, mão tinh, bát chuyên, độc túc là chỗ người mới học khó vào tay, nên sách xếp sẵn thành bảng theo Mao thị diễn khóa thành thức.

Bảng đối chiếu chín phép và điều kiện áp dụng

PhépĐiều kiệnCách lấy Sơ Truyền
Tặc khắcBốn khóa có tặc hay khắcƯu tiên tặc; một khóa thì lấy thượng thần khóa ấy
Tỷ dụngHai, ba khóa cùng tặc hay cùng khắcThượng thần cùng âm dương với can ngày
Thiệp hạiCác khóa ấy đều tỷ hay đều không tỷThần bị khắc nhiều nhất trên đường về bản gia
Dao khắcKhông khắc trên dướiThần khắc can ngày từ xa, không có thì thần bị can ngày khắc
Mão tinhKhông khắc, không dao khắc, đủ bốn khóaNgày dương thần trên Dậu địa bàn, ngày âm chữ dưới Dậu thiên bàn
Biệt tráchChỉ ba khóa, không khắcNgày dương thần trên cung ký của can hợp, ngày âm chữ trước chi ngày trong tam hợp
Bát chuyênCan chi ngày cùng vị tríKhông khắc thì đếm ba cung từ thần trên can (dương) hay trên chi (âm)
Phục ngâmThiên bàn trùng địa bànPhép riêng của khóa phục ngâm
Phản ngâmThiên bàn đối xung địa bànPhép riêng của khóa phản ngâm

Vì sao phải có đủ chín phép?

Lục Nhâm có 720 khóa (60 ngày, mỗi ngày 12 cách đặt thiên bàn), và trong thực tế có những ngày mà Tứ Khóa hoàn toàn không xuất hiện quan hệ khắc nào giữa can chi với thượng thần. Nếu chỉ dùng tặc khắc thì những ngày ấy không phát được dụng. Chín phép chính là để bù đắp các trường hợp đặc biệt ấy, đảm bảo mọi quẻ đều có Tam Truyền.

Ba tầng khi đọc một quẻ Lục Nhâm

Theo cách trình bày của Nhật Nguyệt, khi đọc một quẻ Lục Nhâm nên tách ba tầng: tầng thứ nhất là Tứ Khóa và Tam Truyền (phần cấu trúc, do phép phát dụng quyết định); tầng thứ hai là các thần sát đi kèm (quý nhân, bạch hổ, thanh long, huyền vũ...); tầng thứ ba là diễn giải sự việc cụ thể. Chín phép phát Tam Truyền thuộc tầng thứ nhất. Gợi ý của Nhật Nguyệt: người mới học nên nắm vững chín phép này trước khi học luận giải thần sát, vì nếu phát sai Tam Truyền thì toàn bộ phần luận giải phía sau đều lệch.

Ứng dụng thực tế của chín phép

Trong thực hành, chín phép phát Tam Truyền giúp người học xác định đúng hào phát động, từ đó mới gán được các thần sát và luận giải. Ví dụ, khi gặp ngày mà Tứ Khóa không có khắc, người học phải chuyển sang phép dao khắc hoặc mão tinh; nếu không nắm được các phép này thì sẽ không phát được dụng.

Sách Lục Nhâm đại toàn (bản khắc in không rõ năm) trong phần tổng luận khóa thể có liệt kê nhiều khóa thể đặc biệt như "vu dâm", "giải ly", "độ ách", "vô lộc"... và các khóa thể này thường gắn với những phép phát dụng cụ thể[1]. Điều này cho thấy chín phép phát Tam Truyền không chỉ là quy tắc kỹ thuật mà còn là cơ sở để phân loại toàn bộ hệ thống khóa thể của Lục Nhâm.

Kết luận

Chín phép phát Tam Truyền trong Lục Nhâm gồm tặc khắc, tỷ dụng, thiệp hại, dao khắc, mão tinh, biệt trách, bát chuyên, phục ngâm, phản ngâm. Các sách xếp thứ tự hơi khác nhau, và Linh giác kinh tách phục ngâm, phản ngâm sang quyển riêng. Người học cần chọn một quy ước nhất quán và ghi rõ mình đang theo bản nào để tránh nhầm lẫn khi đối chiếu tài liệu.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Chín phép phát Tam Truyền trong Lục Nhâm gồm những phép nào?

Gồm tặc khắc, tỷ dụng, thiệp hại, dao khắc, mão tinh, biệt trách, bát chuyên, phục ngâm và phản ngâm. Đây là chín quy tắc để từ Tứ Khóa chọn ra Sơ, Trung, Mạt Truyền.

Vì sao các sách xếp thứ tự chín phép khác nhau?

Các sách không chép cùng một bản. Linh giác kinh đặt bát chuyên trước biệt trách và tách phục ngâm, phản ngâm sang quyển dưới; Lục Nhâm túy ngôn đặt biệt trách trước bát chuyên. Ngoài ra mỗi phép còn sinh ra khóa thể mang tên riêng, như tỷ dụng ra khóa tri nhất, dao khắc ra khóa hao thỉ hay đạn xạ.

Có phải mọi quẻ Lục Nhâm đều phải dùng đủ chín phép không?

Không. Mỗi quẻ chỉ dùng một phép phù hợp với điều kiện của Tứ Khóa. Chín phép là để đảm bảo mọi trường hợp đều phát được dụng, kể cả những ngày Tứ Khóa không có quan hệ khắc.

Bài viết liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑Quách Tái Lai (biên) (không rõ năm). Lục Nhâm đại toàn (六壬大全), Phần tổng luận khóa thể芜淫三课有克课,交军克下男女争三七小畜。解离日辰互克下,年命互克亦同称三八。

Đọc thêm

  • Trương Thuần Chiếu (1810). Đại Lục Nhâm tầm nguyên (大六壬尋源, Trương Thuần Chiếu), Quyển 1, phần tựa và phát mông昔黄帝伐蚩尤于涿鹿之野。九天玄女。授以神式三种。一曰太乙明天道,二曰奇门详地理,三曰六壬知人事
  • Khuyết danh và Ngô Sư Thanh (chép). Đại Lục Nhâm linh giác kinh, quyển 1 (大六壬靈覺經, bản chép tay của Ngô Sư Thanh), môn bảy thể古经九宗门乃一贼克,二比用,三涉害,四遥克,五昴星,六八专,七别责,八伏吟,九返吟
  • Lưu Xích Giang (không rõ năm). Lục Nhâm túy ngôn (六壬粹言, Lưu Xích Giang, 14 quyển), phần lập khóa, mục mão tinh昴星者酉中昴宿也
  • Khuyết danh. Lục Nhâm tồn nghiệm (六壬存驗), mục bát chuyên khóa và biệt trách khóa八专者,谓干支同处一位也
  • Trần Công Hiến và cộng sự. Chú giải Đại Lục Nhâm chỉ nam (注解大六壬指南, Trần Công Hiến soạn; Trương Hồng chú), phần luận khóa thể涉害取地盘孟仲季发用,涉四孟乃见机课,涉仲季为察微课是也
#LụcNhâm#TamTruyền#CửuTôngMôn#TặcKhắc#TỷDụng#ThiệpHại#DaoKhắc#MãoTinh#BiệtTrách#BátChuyên#PhụcNgâm#PhảnNgâm#ĐạiLụcNhâmTầmNguyên