
TL;DR: Tam nguyên là cách chia mỗi tiết khí thành ba đoạn năm ngày, mỗi đoạn gọi là một nguyên và dùng một trong 18 cục âm dương độn. Từ tiết khí và ngày phù đầu (ngày Giáp, ngày Kỷ), tra bảng cục để biết thượng, trung, hạ nguyên dùng số cục nào. Hiệp kỷ biện phương thư quyển 35 chép Dương độn ca và Âm độn ca ghi số cục của đủ 24 tiết, kèm phép siêu thần, tiếp khí và trí nhuận để xử lý khi phù đầu lệch khỏi tiết.
Tam nguyên trong Kỳ Môn Độn Giáp là gì?
Tam nguyên là cách chia mỗi tiết khí thành ba đoạn năm ngày, mỗi đoạn gọi là một nguyên: thượng nguyên, trung nguyên, hạ nguyên. Mỗi nguyên dài năm ngày, tức sáu mươi giờ, và được gán một số cục. Ba nguyên của một tiết dùng ba số cục khác nhau, tra theo bài ca ở mục dưới. Khái niệm này là nền tảng để lập bàn Kỳ Môn, vì số cục quyết định vị trí khởi đầu của lục nghi và tam kỳ trên địa bàn.
Sách Hiệp kỷ biện phương thư (欽定協紀辨方書), do Doãn Lộc và cộng sự biên soạn năm 1741 theo sắc lệnh, ghi ở quyển 35: “五日六十時為一元” (năm ngày sáu mươi giờ là một nguyên), và “甲巳日必甲子時故以甲巳日為符首” (ngày Giáp, ngày Kỷ ắt mở đầu bằng giờ Giáp Tý, nên lấy ngày Giáp, ngày Kỷ làm phù đầu)[1]. Phù đầu (符首) là ngày mở đầu mỗi nguyên, và cứ năm ngày thì đổi nguyên một lần.
Yên ba điếu tẩu ca, bài ca quyết nền của Kỳ Môn, cũng xác nhận nguyên lý này trong câu: “陰陽二遁分順逆,一氣三元人莫測。五日都來接一元,接氣超神為準則” (âm dương nhị độn phân thuận nghịch, nhất khí tam nguyên nhân mạc trắc; ngũ nhật đô lai tiếp nhất nguyên, tiếp khí siêu thần vi chuẩn tắc)[2]. Nghĩa là mỗi tiết khí (nhất khí) gồm ba nguyên, năm ngày đổi một nguyên, và việc điều chỉnh theo tiếp khí hay siêu thần là quy tắc bắt buộc.
Vì sao mỗi tiết khí lại có ba nguyên?
Một tiết khí dài khoảng mười lăm ngày, chia hết cho năm ngày, nên vừa đủ ba nguyên. Đây là lý do tự nhiên khiến tam nguyên gắn chặt với tiết khí. Sách Hiệp kỷ biện phương thư giải thích: “一節十五日三元既周則下節叧起也” (một tiết mười lăm ngày, ba nguyên đã hết thì tiết sau bắt đầu riêng)[1].
Tuy nhiên, hai mươi bốn tiết nhân mười lăm ngày chỉ được 360 ngày, trong khi một năm dài hơn 365 ngày, nên phù đầu của các tiết dần dần lệch khỏi ngày tiết. Sách ghi: “又有置閏之法乃由氣盈而生” (lại có phép trí nhuận, sinh ra từ khí doanh)[1]. Khi độ lệch tích lũy đủ lớn, phải dùng siêu thần, tiếp khí hoặc trí nhuận để điều chỉnh, nếu không thì cục sẽ sai lệch theo thời gian.
Bảng cục tam nguyên theo tiết khí lấy từ bài ca nào?
Quyển 35 của Hiệp kỷ biện phương thư chép, ngay sau bài Kỳ Môn tam nguyên ca (bài mà các bản khác gọi là Yên ba điếu tẩu ca), hai bài ca ngắn là Dương độn ca và Âm độn ca. Mỗi câu nêu đủ ba số cục thượng, trung, hạ nguyên của một hay hai tiết, ví dụ “冬至驚蟄一七四” (Đông Chí, Kinh Trập: một, bảy, bốn)[1]. Nhìn vào các con số, ở dương độn nguyên sau bằng nguyên trước cộng sáu, ở âm độn bằng nguyên trước trừ sáu, tính vòng trong chín cung.
Dương độn ca:
- Đông Chí, Kinh Trập: 1, 7, 4
- Tiểu Hàn: 2, 8, 5
- Đại Hàn, Xuân Phân: 3, 9, 6
- Lập Xuân: 8, 5, 2
- Vũ Thủy: 9, 6, 3
- Thanh Minh, Lập Hạ: 4, 1, 7
- Cốc Vũ, Tiểu Mãn: 5, 2, 8
- Mang Chủng: 6, 3, 9
Âm độn ca:
- Hạ Chí, Bạch Lộ: 9, 3, 6
- Tiểu Thử: 8, 2, 5
- Đại Thử, Thu Phân: 7, 1, 4
- Lập Thu: 2, 5, 8
- Xử Thử: 1, 4, 7
- Sương Giáng, Tiểu Tuyết: 5, 8, 2
- Hàn Lộ, Lập Đông: 6, 9, 3
- Đại Tuyết: 4, 7, 1
Bảng dưới đây tổng hợp số cục thượng, trung, hạ nguyên cho từng tiết theo hai bài ca trên:
| Tiết khí | Dương/Âm độn | Thượng nguyên | Trung nguyên | Hạ nguyên |
|---|---|---|---|---|
| Đông Chí | Dương | 1 | 7 | 4 |
| Tiểu Hàn | Dương | 2 | 8 | 5 |
| Đại Hàn | Dương | 3 | 9 | 6 |
| Lập Xuân | Dương | 8 | 5 | 2 |
| Vũ Thủy | Dương | 9 | 6 | 3 |
| Kinh Trập | Dương | 1 | 7 | 4 |
| Xuân Phân | Dương | 3 | 9 | 6 |
| Thanh Minh | Dương | 4 | 1 | 7 |
| Cốc Vũ | Dương | 5 | 2 | 8 |
| Lập Hạ | Dương | 4 | 1 | 7 |
| Tiểu Mãn | Dương | 5 | 2 | 8 |
| Mang Chủng | Dương | 6 | 3 | 9 |
| Hạ Chí | Âm | 9 | 3 | 6 |
| Tiểu Thử | Âm | 8 | 2 | 5 |
| Đại Thử | Âm | 7 | 1 | 4 |
| Lập Thu | Âm | 2 | 5 | 8 |
| Xử Thử | Âm | 1 | 4 | 7 |
| Bạch Lộ | Âm | 9 | 3 | 6 |
| Thu Phân | Âm | 7 | 1 | 4 |
| Hàn Lộ | Âm | 6 | 9 | 3 |
| Sương Giáng | Âm | 5 | 8 | 2 |
| Lập Đông | Âm | 6 | 9 | 3 |
| Tiểu Tuyết | Âm | 5 | 8 | 2 |
| Đại Tuyết | Âm | 4 | 7 | 1 |
Bảng này lấy trực tiếp từ Dương độn ca và Âm độn ca trong quyển 35 của Hiệp kỷ biện phương thư[1].
Cách xác định nguyên từ ngày phù đầu như thế nào?
Để biết một ngày cụ thể thuộc nguyên nào, ta dựa vào ngày phù đầu gần nhất đứng trước nó. Phù đầu là ngày Giáp hoặc Kỷ, vì theo Hiệp kỷ biện phương thư, “甲巳日必甲子時” (ngày Giáp hoặc Kỷ ắt có giờ Giáp Tý)[1]. Sách phân loại:
- Thượng nguyên: các ngày Giáp Tý, Giáp Ngọ, Kỷ Mão, Kỷ Dậu
- Trung nguyên: các ngày Giáp Dần, Giáp Thân, Kỷ Tị, Kỷ Hợi
- Hạ nguyên: các ngày Giáp Thìn, Giáp Tuất, Kỷ Sửu, Kỷ Mùi
Sách nêu ví dụ một tiết dùng dương độn cục 1 ở thượng nguyên: ngày Giáp Tý là thượng nguyên, giờ Giáp Tý khởi ở cung Khảm 1; ngày Kỷ Tị là trung nguyên, giờ Giáp Tý khởi ở cung Đoài 7; ngày Giáp Tuất là hạ nguyên, giờ Giáp Tý khởi ở cung Tốn 4; tới ngày Kỷ Mão lại là thượng nguyên[1]. Số cục cũng là cung đặt nghi Mậu trên địa bàn: ở dương độn cục 1, sách xếp Mậu ở Khảm 1, Kỷ ở Khôn 2, Canh ở Chấn 3, Tân ở Tốn 4, Nhâm ở trung cung 5 gửi sang Khôn, Quý ở Càn 6, rồi Đinh ở Đoài 7, Bính ở Cấn 8, Ất ở Ly 9[1].
Siêu thần, tiếp khí và trí nhuận: khi phù đầu lệch khỏi tiết thì xử lý thế nào?
Vì mỗi năm thừa ra hơn năm ngày so với 360 ngày của hai mươi bốn tiết, phù đầu của năm sau thường không trùng ngày tiết. Hiệp kỷ biện phương thư lấy tiết Đông Chí làm ví dụ và nêu bốn trường hợp[1]:
- Chính thụ (正授): phù đầu trùng đúng ngày tiết. Ví dụ của sách: năm nay Đông Chí rơi vào ngày Giáp Tý thì dùng ngay thượng nguyên Đông Chí.
- Siêu thần (超神): phù đầu đến trước tiết. Năm sau Đông Chí rơi vào ngày Kỷ Tị, phù đầu Giáp Tý đứng trước Đông Chí năm ngày, thì từ ngày Giáp Tý ấy đã dùng thượng nguyên Đông Chí.
- Trí nhuận (置閏): năm sau nữa Đông Chí rơi vào ngày Giáp Tuất, phù đầu Giáp Tý đứng trước tiết mười ngày, phù đầu Kỷ Mão đứng sau tiết năm ngày, trước xa sau gần. Khi ấy ba ngày Giáp Tý, Kỷ Tị, Giáp Tuất dùng lại thượng, trung, hạ nguyên của tiết Đại Tuyết. Sách gọi đó là nhuận một khí, tức lặp lại cả ba nguyên của tiết đứng trước, và viết: “置閏必在二至之前超不過十接不過五” (trí nhuận ắt ở trước nhị chí, siêu không quá mười, tiếp không quá năm)[1].
- Tiếp khí (接氣): phù đầu đến sau tiết. Trong ví dụ trên, tới ngày Kỷ Mão sau Đông Chí mới dùng thượng nguyên Đông Chí.
Sách cũng lưu ý: “然此乃以平氣正授起算若以定氣而論盈縮各有不同當以逺近為斷” (nhưng đây là tính theo bình khí và chính thụ; nếu tính theo định khí thì doanh súc khác nhau, phải lấy gần xa làm chuẩn)[1]. Điều này cho thấy ngay trong sách cổ đã có sự phân biệt giữa hai cách tính tiết khí, và cách xử lý có thể khác nhau tùy theo phương pháp.
Các phái có thống nhất về cách tính cục không?
Không hoàn toàn thống nhất. Sách Hiệp kỷ biện phương thư ghi bằng chú nhỏ hai dị thuyết, một về đường đi của cửu tinh, một về tên bát thần: “一説九星亦是順行八卦” (một thuyết cho rằng cửu tinh cũng thuận hành bát quái) và “一説白虎作勾陳元武作朱雀” (một thuyết đổi Bạch Hổ thành Câu Trần, Huyền Vũ thành Chu Tước)[1]. Điều này cho thấy ngay trong cùng một sách, tác giả đã ghi lại các dị bản mà không tự ý chọn một bên.
Về cách tính cục từ tiết khí, bảng cục của Dương độn ca và Âm độn ca là chung; chỗ các nhà làm khác nhau là cách xử lý khi phù đầu lệch tiết. Hiệp kỷ biện phương thư theo lối siêu thần, tiếp khí, trí nhuận, và nhắc tới một lối khác là sách cục, bổ cục (拆局補局), dùng trước hạ nguyên của tiết hiện tại, kèm lời “不可從” (không nên theo)[1]. Với định khí, sách dặn lấy gần xa mà quyết: phù đầu trước cách tiết bảy ngày, phù đầu sau cách tám ngày thì vẫn dùng siêu thần; trước tám ngày, sau bảy ngày thì trí nhuận[1]. Sách cũng giải thích gốc của bảng cục: Đông Chí ở Khảm, Lập Xuân ở Cấn, Xuân Phân ở Chấn, Lập Hạ ở Tốn thuộc dương độn đi thuận; Hạ Chí ở Ly, Lập Thu ở Khôn, Thu Phân ở Đoài, Lập Đông ở Càn thuộc âm độn đi nghịch; thượng nguyên Đông Chí dùng cục 1 thì Tiểu Hàn cục 2, Đại Hàn cục 3, thượng nguyên Hạ Chí dùng cục 9 thì Tiểu Thử cục 8, Đại Thử cục 7[1].
Gợi ý của Nhật Nguyệt
Muốn tra cục Kỳ Môn cho một giờ, cần xác định ba thứ theo thứ tự: tiết khí đang diễn ra, ngày phù đầu gần nhất, và nguyên ứng với ngày đó. Khi phù đầu lệch khỏi tiết, phải xét đang ở trường hợp siêu thần, tiếp khí hay trí nhuận, vì mỗi trường hợp cho một cục khác nhau. Đây là chỗ các sách xử lý khác nhau, nên khi đọc một bàn Kỳ Môn cần biết người lập theo lối nào. Bài này chỉ thuật lại cách sách cổ tính số cục của một môn thuật số truyền thống.