Nhật Nguyệt

Tri thức / Đông phương / Kinh Dịch

Kinh Dịch

Đọc một quẻ Kinh Dịch theo thứ tự nào: tên quẻ, quái từ, sáu hào từ, rồi Thoán truyện, Đại Tượng, Tiểu Tượng, Văn Ngôn

Chia sẻ:
Đọc một quẻ Kinh Dịch theo thứ tự nào: tên quẻ, quái từ, sáu hào từ, rồi Thoán truyện, Đại Tượng, Tiểu Tượng, Văn Ngôn
TL;DR: Một quẻ trong Kinh Dịch không phải một khối chữ phẳng mà là nhiều lớp xếp chồng. Lớp Kinh gồm tên quẻ, quái từ (lời quẻ, còn gọi thoán từ) nói về cả quẻ, và sáu hào từ nói về từng hào. Lớp Truyện (Thập Dực) gồm Thoán truyện và Đại Tượng bàn cả quẻ, Tiểu Tượng bàn từng hào, riêng hai quẻ Càn và Khôn có thêm Văn Ngôn. Thứ tự đọc thông dụng là: tên quẻ, quái từ, sáu hào từ, rồi mới tới các lớp Truyện. Cách hiểu phổ biến hiện nay xem Kinh văn là tầng cổ nhất, có thể hình thành quanh cuối thế kỷ 9 TCN, còn các lớp Truyện ra đời sau và không phải do một tay Khổng Tử viết.

Một quẻ Kinh Dịch gồm những lớp chữ nào?

Mở một quẻ trong Kinh Dịch ra, bạn không gặp một đoạn văn liền mạch mà gặp nhiều lớp chữ xếp chồng lên nhau, mỗi lớp do một thời đại khác nhau viết ra. Lớp cổ nhất là Kinh văn, gồm tên quẻ, quái từ (lời quẻ, còn gọi thoán từ) nói về cả quẻ, và sáu hào từ nói về từng hào. Lớp muộn hơn là Truyện, tức bộ Thập Dực (Mười Cánh), gồm Thoán truyện, Đại Tượng, Tiểu Tượng, Hệ Từ, Văn Ngôn, Tự Quái, Thuyết Quái, Tạp Quái.

Sáu hào đọc từ dưới lên, ba hào dưới là nội quái, ba hào trên là ngoại quái.
Sáu hào đọc từ dưới lên, ba hào dưới là nội quái, ba hào trên là ngoại quái.

Theo Wikipedia, Kinh Dịch (I Ching, còn gọi Yijing, tiếng Việt đọc là Kinh Dịch) ban đầu chỉ là một sách bói thời Tây Chu (khoảng 1000 đến 750 TCN). Qua thời Chiến Quốc và đầu thời đế chế (khoảng 500 đến 200 TCN), nó chuyển thành một văn bản vũ trụ luận nhờ chuỗi bình chú mang tên Thập Dực. Sang thế kỷ 2 TCN, Kinh Dịch nhập vào bộ Ngũ Kinh của Nho gia.

Đọc theo thứ tự nào là hợp lý?

Thứ tự đọc thông dụng, được hầu hết sách nhập môn dùng, là đọc từ ngoài vào trong, từ cái khái quát đến cái chi tiết. Bạn đọc tên quẻ trước để biết mình đang ở quẻ nào, thuộc cặp nào. Sau đó đọc quái từ, vì quái từ nói về toàn bộ tình thế của quẻ. Tiếp theo đọc sáu hào từ theo thứ tự từ dưới lên, hào sơ ở dưới cùng, hào thượng ở trên cùng. Cuối cùng mới đọc các lớp Truyện để hiểu vì sao các lời ấy lại được viết như vậy.

Cách đọc này có lý do: Kinh văn là phần dùng để tra cứu khi gieo quẻ, còn Truyện là phần giải thích. Nếu đọc Truyện trước Kinh, bạn dễ bị áp đặt một cách hiểu của người đời sau lên câu chữ cổ. Nhiều học giả hiện đại, trong đó có những tác giả được Stanford Encyclopedia of Philosophy (SEP) dẫn lại, nhấn mạnh rằng Kinh văn và Truyện là hai tầng văn bản khác nhau về thời đại, mục đích và giọng điệu, nên đọc riêng rồi mới đối chiếu.

Có nhất thiết phải đọc đủ mọi lớp không?

Không nhất thiết. Nếu bạn chỉ muốn biết quẻ nói gì cho tình huống đang hỏi, đọc tên quẻ, quái từ và hào từ là đủ. Các lớp Truyện dành cho người muốn hiểu cơ chế, muốn biết vì sao hào ấy tốt hay xấu. Với hai quẻ Càn và Khôn, lớp Văn Ngôn dài và có giá trị triết học riêng, nhiều người đọc riêng như một tiểu luận độc lập.

Bảng các lớp chữ của một quẻ, lấy Địa Thiên Thái làm mẫu

Quẻ Địa Thiên Thái (地天泰), quẻ số 11 trong 64 quẻ, là quẻ có đủ các lớp chữ tiêu biểu. Cấu trúc nội Càn ngoại Khôn, tức Càn ở dưới, Khôn ở trên, ba hào dương và ba hào âm xếp cân. Theo trang Horos, người xưa xem đây là quẻ của thời thuận nhất trong đời.

Tên lớpThuộc Kinh hay TruyệnNói về cả quẻ hay từng hàoVí dụ nguyên văn (Hán Việt)
Tên quẻKinhCả quẻĐịa Thiên Thái (地天泰)
Quái từ (thoán từ)KinhCả quẻThái: Tiểu vãng đại lai, cát, hanh
Hào từ hào 1KinhTừng hàoBạt mao nhự, dĩ kỳ vị, chinh cát
Hào từ hào 2KinhTừng hàoBao hoang, dụng bằng hà, bất hà di, bằng vong, đắc thượng vu trung hành
Hào từ hào 3KinhTừng hàoVô bình bất pha, vô vãng bất phục, gian trinh vô cữu
Hào từ hào 4KinhTừng hàoPhiên phiên bất phú, dĩ kỳ lân, bất giới dĩ phu
Hào từ hào 5KinhTừng hàoĐế Ất quy muội, dĩ chỉ nguyên cát
Hào từ hào 6KinhTừng hàoThành phục vu hoàng, vật dụng sư, tự ấp cáo mệnh, trinh lận
Thoán truyệnTruyệnCả quẻThiên địa giao, Thái; hậu dĩ tài thành thiên địa chi đạo, phụ tướng thiên địa chi nghi, dĩ tả hữu dân
Đại TượngTruyệnCả quẻThiên địa giao, Thái; hậu dĩ tài thành thiên địa chi đạo
Tiểu TượngTruyệnTừng hàoMỗi hào có một câu bình riêng
Văn NgônTruyệnCả quẻ, chỉ Càn và KhônQuẻ Thái không có Văn Ngôn

Bảng này cho thấy một quẻ có thể có tới mười lớp chữ. Với quẻ Thái, lớp Văn Ngôn không xuất hiện. Chỉ hai quẻ Càn và Khôn mới có Văn Ngôn, và đây là điểm cần nhớ khi tra cứu.

Nếu bạn muốn xem bảng thành phần chi tiết của một quẻ, gồm số thứ tự, ngũ hành, quẻ đối, số hào dương, bài 64 quẻ đã có bảng riêng, có thể trỏ sang đó thay vì lặp lại ở đây.

Các lời đoán thường gặp và nghĩa của chúng

Trong quái từ và hào từ, có một số chữ đoán lặp đi lặp lại. Hiểu đúng các chữ này là điều kiện tối thiểu để đọc một quẻ. Theo Wikipedia và Stanford Encyclopedia of Philosophy, các chữ ấy gồm:

ChữÂm Hán ViệtNghĩa thường dùng
元NguyênLớn, đầu tiên, cái gốc
亨HanhHanh thông, thuận lợi
利LợiCó lợi, thích hợp
貞TrinhBền chính, hoặc bói hỏi (tùy cách đọc)
吉CátTốt lành
凶HungXấu, không tốt
悔HốiHối hận, ăn năn
吝LậnTiếc nuối, hối tiếc nhẹ
厲LệNguy hiểm, cần thận trọng
无咎Vô cữuKhông có lỗi, không đáng trách

Bốn chữ nguyên, hanh, lợi, trinh thường đi liền thành cụm. Nhiều sách dịch cụm này thành bốn đức tính lớn của quẻ. Nhưng cũng có cách hiểu khác, xem đây là bốn lời đoán cho bốn tình huống gieo quẻ khác nhau. Sự khác biệt này ảnh hưởng đến toàn bộ cách hiểu quẻ Càn, quẻ Khôn và nhiều quẻ khác.

Chữ 'trinh' đọc là 'bói hỏi' hay 'bền chính' thì đổi nghĩa cả câu

Đây là một trong những điểm tranh chấp lớn nhất của Kinh Dịch học. Chữ 貞 (trinh) trong tiếng Hán cổ có hai nghĩa. Một nghĩa là bói hỏi, tức hành vi gieo quẻ để hỏi. Một nghĩa là bền chính, tức đức tính kiên định, giữ đúng đạo. Hai nghĩa này dẫn đến hai cách dịch khác nhau hoàn toàn.

Ví dụ với câu quái từ quẻ Thái: Tiểu vãng đại lai, cát, hanh. Câu này không có chữ trinh nên không gây tranh cãi. Nhưng với hào 3 quẻ Thái: Vô bình bất pha, vô vãng bất phục, gian trinh vô cữu. Nếu đọc trinh là bền chính, câu dịch là khó khăn mà giữ bền thì không lỗi. Nếu đọc trinh là bói hỏi, câu dịch thành khó khăn mà bói hỏi thì không lỗi. Hai nghĩa gần nhau nhưng khác nhau về trọng tâm.

Với các quẻ khác, khoảng cách còn lớn hơn. Chữ trinh xuất hiện ở hào thượng quẻ Thái: Thành phục vu hoàng, vật dụng sư, tự ấp cáo mệnh, trinh lận. Đọc là giữ bền thì hối tiếc, đọc là bói hỏi thì cũng hối tiếc, nhưng sắc thái khác nhau. Các nhà chú giải đời Hán thường theo nghĩa bền chính, còn một số học giả hiện đại theo nghĩa bói hỏi vì cho rằng Kinh văn gốc là sách bói, chữ trinh trong đó phải mang nghĩa bói.

Thuyết Văn Vương viết lời quẻ, Chu Công viết lời hào có đứng vững không?

Truyền thống Nho gia từ lâu cho rằng Văn Vương viết lời quẻ (quái từ), Chu Công viết lời hào (hào từ), Khổng Tử viết Thập Dực. Sách Khổng Minh Thần Toán và nhiều sách cổ khác nhắc đến thuyết này như một chuyện đã rõ. Có cách luận cho rằng Dịch nguyên thủy chỉ có quái hào, đến Văn Vương mới có lời.

Nhưng giới nghiên cứu hiện đại không chấp nhận thuyết này. Wikipedia dẫn Edward Shaughnessy, người xếp Kinh văn vào cuối thế kỷ 9 TCN, tức trước thời Văn Vương theo niên đại truyền thống. Nghĩa là lời quẻ đã có trước khi Văn Vương sống, hoặc ít nhất không thể gắn chặt với một nhân vật cụ thể. Về Thập Dực, Wikipedia cho biết ngay từ đời Bắc Tống, Âu Dương Tu (1007 đến 1072) và Tư Mã Quang (1019 đến 1086) đã nghi ngờ Khổng Tử không phải tác giả. Đến đời Thanh, Diêu Tế Hằng (1647 đến 1715) và Khang Hữu Vi (1858 đến 1927) củng cố thêm. Các nhà Hán học thế kỷ 20 đưa ra lập luận bác bỏ thuyết truyền thống.

Nói cách khác, thuyết Văn Vương viết quái từ, Chu Công viết hào từ, Khổng Tử viết Thập Dực là một truyền thuyết có sức sống văn hóa, không phải một sự kiện lịch sử được xác nhận. Bài này theo quan điểm học thuật hiện đại, xem Kinh văn và Truyện là hai tầng văn bản khác nhau về thời đại và tác giả.

Một giả thuyết khác về nguồn gốc lời Thoán

Sách Thuật số Lạc Thư (Kỳ Môn Độn Giáp nguyên thủy) đưa ra một giả thuyết khác hẳn. Theo sách này, lời Thoán là của người Lạc Việt, không phải của Văn Vương. Sách lập luận rằng vùng sông Lạc là nơi dân tộc Lạc Việt sinh sống, họ bắt các trí thức nước Văn đem về giam để học Kinh Dịch và Thuật số Lạc Thư, rồi sau này nhà Chu mới dựng lên câu chuyện Văn Vương bị giam ở Dũ Lý mà viết ra Thoán từ. Sách còn cho rằng lời Hào có thể do nhà Chu viết thêm, vì theo nguyên lý hình thành quẻ kép thì không thể viết lời cho từng hào ngay từ đầu.

Đây là giả thuyết của một tác giả, không phải quan điểm được giới nghiên cứu quốc tế công nhận. Bài này nêu ra để người đọc biết có tồn tại cách nhìn ấy, không khẳng định nó đúng. Các sách như Wikipedia và Stanford Encyclopedia of Philosophy đều không nhắc đến giả thuyết này khi bàn về nguồn gốc Kinh Dịch.

Đọc quẻ theo hào động thì khác gì đọc quẻ tĩnh?

Khi gieo quẻ, bạn có thể gặp quẻ không có hào động nào, hoặc có một vài hào động. Cách đọc khác nhau. Quy tắc truyền thống được trình bày như sau: nếu không có hào động, dựa vào quái từ và hào từ của quẻ gốc. Nếu có một hào động, hào đó là hào chủ đạo. Nếu có hai hào động, hào trên là chính, hào dưới là phụ. Nếu có ba hào động, quái từ của quẻ gốc là chính. Nếu có từ bốn hào trở lên động, dựa vào các hào tĩnh còn lại, hào dưới làm chủ.

Hào động đổi âm dương, và quẻ chủ thành quẻ biến.
Hào động đổi âm dương, và quẻ chủ thành quẻ biến.

Quy tắc này không thống nhất giữa các sách. Một số sách khác cho rằng khi có ba hào động trở lên thì nên xem cả quẻ biến, tức quẻ mới sau khi các hào động đổi âm dương. Người đọc nên biết có nhiều hệ quy tắc và chọn một hệ để theo, thay vì trộn lẫn.

Vì sao nên tách Kinh và Truyện khi đọc?

Tách Kinh và Truyện giúp bạn không bị lẫn giọng nói của hai thời đại. Kinh văn là sách bói, giọng ngắn, cụ thể, nhiều hình ảnh đời thường như nhổ cỏ tranh, lội sông, thành đổ xuống hào. Truyện là văn bản triết học, giọng dài, trừu tượng, hay rút ra bài học đạo đức. Ví dụ, hào sơ quẻ Thái có hào từ Bạt mao nhự, dĩ kỳ vị, chinh cát, nghĩa là nhổ cỏ tranh, rễ liền nhau, cùng loại kéo theo, tiến lên thì tốt. Đại Tượng quẻ Thái lại nói Thiên địa giao, Thái; hậu dĩ tài thành thiên địa chi đạo, phụ tướng thiên địa chi nghi, dĩ tả hữu dân, nghĩa là trời đất giao hòa là quẻ Thái, bậc vua theo đó mà khéo giúp đạo trời đất thành tựu, phụ giúp lẽ thuận của trời đất để dìu dắt dân. Một bên là hình ảnh cụ thể, một bên là bài học chính trị.

Sách Phong thủy cổ đại Trung Quốc: lý luận và thực tiễn, tập 2 cũng nhắc đến cách dùng tên quẻ và lời Thoán, lời Tượng trong kiến trúc cung điện, cho thấy hai lớp chữ này được người đời sau dùng cho những mục đích rất khác nhau. Điện Giao Thái lấy tên từ quẻ Thái, với ý trời đất giao hòa, âm dương dung hòa.

Đọc một quẻ mất bao lâu và nên bắt đầu từ đâu?

Không có câu trả lời cố định. Với người mới, đọc tên quẻ, quái từ và sáu hào từ của một quẻ có thể mất mười đến hai mươi phút. Đọc thêm Thoán truyện, Đại Tượng, Tiểu Tượng có thể mất thêm nửa giờ. Với người đã quen, đọc lướt một quẻ mất vài phút, nhưng đọc kỹ một quẻ để hiểu vẫn mất cả buổi.

Nên bắt đầu từ những quẻ có cấu trúc rõ ràng như Thái, Bĩ, Ký Tế, Vị Tế. Bốn quẻ này có đủ các lớp chữ tiêu biểu và có nhiều bản dịch để đối chiếu. Sau khi quen, bạn có thể đọc các quẻ phức tạp hơn như Càn, Khôn, Truân, Mông.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Một quẻ Kinh Dịch gồm mấy lớp chữ, lớp nào thuộc Kinh và lớp nào thuộc Truyện?

Một quẻ thường có tới mười lớp chữ. Lớp Kinh gồm tên quẻ, quái từ (lời quẻ, còn gọi thoán từ) và sáu hào từ. Lớp Truyện (Thập Dực) gồm Thoán truyện, Đại Tượng, Tiểu Tượng, Hệ Từ, Văn Ngôn, Tự Quái, Thuyết Quái, Tạp Quái. Riêng Văn Ngôn chỉ có ở hai quẻ Càn và Khôn.

Thuyết Văn Vương viết lời quẻ, Chu Công viết lời hào có được giới nghiên cứu hiện đại chấp nhận không?

Không. Giới nghiên cứu hiện đại xem Kinh văn là tầng văn bản cổ, có thể hình thành quanh cuối thế kỷ 9 TCN theo cách xếp của Shaughnessy, tức trước thời Văn Vương theo niên đại truyền thống. Thập Dực cũng không phải do Khổng Tử viết, nghi ngờ này đã có từ Âu Dương Tu và Tư Mã Quang đời Bắc Tống.

Chữ 'trinh' trong Kinh Dịch nên đọc là 'bói hỏi' hay 'bền chính'?

Cả hai cách đọc đều có cơ sở và làm đổi nghĩa cả câu. Các nhà chú giải đời Hán thường theo nghĩa bền chính. Một số học giả hiện đại theo nghĩa bói hỏi, vì cho rằng Kinh văn gốc là sách bói nên chữ trinh trong đó phải mang nghĩa bói. Người đọc nên biết cả hai cách và ghi rõ mình theo cách nào.

Bài này thuộc chủ đề Kinh Dịch. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Kinh Dịch.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. I Ching - Wikipedia
  2. Ten Wings - Wikipedia
  3. Chinese Philosophy of Change (Yijing) - Stanford Encyclopedia of Philosophy
  4. Quẻ Địa Thiên Thái: Ý nghĩa, lời từ và thông điệp - HOROS
  5. Thuật số Lạc Thư (Kỳ Môn Độn Giáp nguyên thủy)
  6. Phong thủy cổ đại Trung Quốc: lý luận và thực tiễn, tập 2
  7. Khổng Minh Thần Toán
#KinhDịch#QuáiTừ#HàoTừ#ThoánTruyện#ĐạiTượng#TiểuTượng#VănNgôn#ThậpDực#QuẻĐịaThiênThái#ĐọcQuẻKinhDịch