Khổng Minh Thần Toán là sách gì?
Khổng Minh Thần Toán là một bộ sách quẻ dùng để tra lời giải khi gieo quẻ, lưu hành phổ biến ở Việt Nam với 384 thẻ. Con số 384 không tùy tiện: nó bằng 64 quẻ nhân với 6 hào động, tức mỗi quẻ trong Bát Quái có sáu khả năng động hào, và mỗi tổ hợp quẻ, hào như vậy được gán một thẻ riêng. Người xin quẻ gieo ra một tổ hợp, rồi tra đúng thẻ ấy để đọc câu thơ, lời dịch, lời bàn và lời giải.
Cấu trúc một thẻ trong bản đang lưu hành thường gồm bốn phần. Phần đầu là số thẻ và tên quẻ kèm mức phân loại như Thượng Thượng, Trung Trung hay Hạ Hạ, cùng hào động. Phần hai là câu thơ chữ Hán kèm phiên âm Hán Việt. Phần ba là lời dịch nghĩa câu thơ sang tiếng Việt. Phần bốn là lời bàn của Thông Huyền Lão Nhân và lời giải chi tiết cho người xin quẻ. Ví dụ ở thẻ mang số 336, ứng quẻ Sơn Trạch Tổn động hào Sáu, câu thơ Hán Việt nói về con thuyền nhỏ đã vượt qua sóng gió và nay cập bến an toàn, phần lời giải xếp thẻ này vào loại tốt, cho rằng mọi việc hanh thông, tìm vật thì được, mưu sự thì nên, kinh doanh có lời. Đối chiếu sang thẻ 342, ứng quẻ Bát Thuần Khôn động hào Sáu, câu thơ lại nói về vận xấu, tai ương và cầu khấn không được hộ trợ, lời giải xếp vào loại không tốt và khuyên người xin quẻ nên dừng mọi mưu cầu, chờ qua thời vận bĩ.
Điều đáng chú ý là các thẻ trong sách không chỉ mô tả cát hung chung chung mà gắn với từng loại việc cụ thể. Cùng một thẻ, sách có thể nêu riêng ý cho việc cầu tài, việc đi xa, việc kiện tụng, việc hôn nhân. Cách trình bày này khiến Khổng Minh Thần Toán gần với một bảng tra ứng dụng hơn là một tác phẩm triết học thuần túy.
Cách lập quẻ Khổng Minh Thần Toán bằng ba nhóm số
Cách lập quẻ trong bản lưu hành ở Việt Nam dùng ba nhóm số do người xin quẻ tự chọn hoặc tự nghĩ ra. Nhóm thứ nhất chia cho 8, lấy số dư làm quẻ Thượng. Nhóm thứ hai chia cho 8, lấy số dư làm quẻ Hạ. Nhóm thứ ba chia cho 6, lấy số dư làm hào động. Số dư được đối chiếu với dãy số Tiên Thiên Bát Quái, trong đó Càn là 1, Đoài là 2, Ly là 3, Chấn là 4, Tốn là 5, Khảm là 6, Cấn là 7, Khôn là 8. Riêng hào động chia cho 6 thì số dư chạy từ 1 tới 6, và khi phép chia hết thì lấy luôn 6.
Sách Khổng Minh Thần Toán nêu ví dụ ba nhóm số 75, 47 và 58. Nhóm đầu 75 chia 8 dư 3, ứng quẻ Ly làm quẻ Thượng. Nhóm hai 47 chia 8 dư 7, ứng quẻ Cấn làm quẻ Hạ. Nhóm ba 58 chia 6 dư 4, ứng hào động thứ 4. Ghép quẻ Thượng Ly với quẻ Hạ Cấn thành quẻ Hỏa Sơn Lữ, động hào 4, rồi tra bảng để tìm thẻ tương ứng. Cần lưu ý bản sách có chỗ in ví dụ ghi động hào 6 ở dòng mô tả nhưng kết quả tính lại là hào 4, đây là lỗi in ấn hoặc biên tập trong bản lưu hành, người tra nên tin vào phép tính.
Cơ chế này giống với phép số của Mai Hoa Dịch Số ở chỗ cùng dùng phép chia lấy dư để quy ra quẻ và hào, cùng dựa trên số Tiên Thiên Bát Quái. Vì vậy một lõi tính lập quẻ theo Mai Hoa, như lõi LapQueMaiHoa, có thể dùng để tính ra quẻ Thượng, quẻ Hạ và hào động cho Khổng Minh Thần Toán, sau đó chỉ cần tra bảng 384 thẻ là ra kết quả. Khác biệt nằm ở chỗ Mai Hoa còn dùng thêm ngoại ứng, thời gian, vật tượng để luận sâu, còn Khổng Minh Thần Toán chủ yếu dừng ở việc tra thẻ.
| Bước | Việc làm | Phép tính | Kết quả ví dụ |
|---|---|---|---|
| 1 | Lấy nhóm số thứ nhất | Chia 8, lấy dư, tra số Tiên Thiên | 75 chia 8 dư 3, ứng Ly |
| 2 | Lấy nhóm số thứ hai | Chia 8, lấy dư, tra số Tiên Thiên | 47 chia 8 dư 7, ứng Cấn |
| 3 | Lấy nhóm số thứ ba | Chia 6, lấy dư, dư 0 tính là 6 | 58 chia 6 dư 4, động hào 4 |
| 4 | Ghép quẻ Thượng và quẻ Hạ | Ly trên, Cấn dưới | Quẻ Hỏa Sơn Lữ |
| 5 | Tra bảng 384 thẻ | Tìm đúng quẻ và hào động | Thẻ Hỏa Sơn Lữ động hào 4 |
| 6 | Đọc thẻ | Câu thơ, lời dịch, lời bàn, lời giải | Lời giải theo nội dung thẻ |
Vì sao sách mang tên Gia Cát Lượng?
Chính sử về Gia Cát Lượng không nhắc tới bất kỳ sách bói nào. Nguồn sử liệu chính về ông là thiên truyện trong Tam Quốc Chí do Trần Thọ soạn ở thế kỷ thứ ba, về sau được Bùi Tùng Chi chú giải ở thế kỷ thứ năm bằng cách bổ sung thêm nhiều nguồn khác. Các nguồn này ghi lại việc ông làm thừa tướng nhà Thục Hán, giúp Lưu Bị dựng nước, nhiếp chính cho Lưu Thiền, đánh dẹp vùng tây nam và nhiều lần bắc phạt, mất năm 234 tại Ngũ Trượng Nguyên. Không có đoạn nào nói ông soạn sách bói hay lập thành hệ thống quẻ để đời.
Hình ảnh Gia Cát Lượng như một thầy tính biết trước mọi việc phần lớn đến từ tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa ra đời ở thế kỷ 14, tức hơn một nghìn năm sau khi ông mất. Tiểu thuyết này xây dựng nhân vật Khổng Minh thành gần như một bậc thánh, đoán được gió, đoán được mệnh, bày trận đồ, làm phép cầu phong. Từ hình tượng văn học ấy, dân gian dần gán cho ông nhiều bộ sách và nhiều phép tính khác nhau, trong đó có Khổng Minh Thần Toán.
Ở Việt Nam, một số thư viện và tủ sách khi giới thiệu bản Khổng Minh Thần Toán ghi rằng sách do Gia Cát Lượng chế tác, chẳng hạn phần giới thiệu sách của thư viện Cao Thắng. Cách ghi này phải được hiểu là lời truyền tụng theo truyền thuyết, không phải kết luận của sử học. Không có văn bản gốc nào từ thời Tam Quốc xác nhận ông là tác giả, và bản thân nội dung sách cũng phản ánh cách trình bày, cách gieo quẻ, cách phân loại cát hung đã định hình rất lâu sau đó.
Điều này không làm giảm giá trị sử dụng của sách với người tra quẻ. Nó chỉ đặt tên gọi về đúng chỗ: tên Khổng Minh Thần Toán là một cách đặt tên theo uy tín của nhân vật lịch sử, chứ không phải một chứng cứ về tác quyền.
Ba thứ hay bị lẫn: hào từ Chu Dịch, thẻ Khổng Minh Thần Toán và Tiểu Lục Nhâm
Ba hệ thống này đều dùng quẻ và hào nhưng khác nhau về đơn vị tra cứu và cách lập quẻ, nên người mới học rất dễ lẫn.
Hào từ Chu Dịch là lời văn cổ gắn trực tiếp với từng hào của 64 quẻ trong Kinh Dịch, có từ trước thời Khổng Tử và được truyền lại qua nhiều đời. Người gieo quẻ theo Chu Dịch đọc lời quẻ và lời hào động, rồi luận theo tượng quẻ, hào ứng, hào vị. Đây là tầng gốc, mọi hệ thống dùng quẻ về sau đều lấy 64 quẻ từ đây.
Thẻ Khổng Minh Thần Toán là lớp phủ lên trên 64 quẻ đó. Mỗi quẻ có sáu thẻ ứng với sáu hào động, tổng cộng 384 thẻ. Mỗi thẻ có câu thơ riêng, lời dịch riêng, lời bàn riêng, không dùng lời hào từ Chu Dịch làm nội dung chính. Người tra quẻ chỉ cần ra đúng quẻ và hào là tra được một thẻ có sẵn lời giải, không phải tự luận.
Tiểu Lục Nhâm là một phép bấm tay hoàn toàn khác về cơ chế. Phép này dùng sáu cung theo thứ tự Đại An, Lưu Niên, Tốc Hỷ, Xích Khẩu, Tiểu Cát, Không Vong, và lập quẻ bằng cách đếm theo tháng, ngày, giờ trên đốt ngón tay. Sách Tiểu Lục Nhâm thường được gán cho Lý Thuần Phong đời Đường, và có thuyết cho rằng tác giả đời sau lấy ý từ Khổng Minh Thần Toán để rút gọn thành phép bấm tay sáu cung. Đây là một nhánh rút gọn, không dùng 64 quẻ và không có 384 thẻ.
| Tiêu chí | Hào từ Chu Dịch | Khổng Minh Thần Toán | Tiểu Lục Nhâm |
|---|---|---|---|
| Đơn vị tra cứu | 64 quẻ, 384 hào, đọc lời quẻ và lời hào | 384 thẻ, mỗi thẻ ứng một quẻ với một hào động | 6 cung cố định |
| Cách lập quẻ | Gieo tiền, cỏ thi hoặc các phép số | Ba nhóm số chia 8, 8, 6 | Đếm tháng, ngày, giờ trên đốt ngón tay |
| Nguồn lời giải | Lời văn cổ trong Kinh Dịch | Câu thơ, lời dịch, lời bàn, lời giải có sẵn | Ý nghĩa sáu cung và cách luận truyền khẩu |
| Tương truyền gắn với | Văn Vương, Chu Công, Khổng Tử | Gia Cát Lượng theo truyền tụng | Lý Thuần Phong đời Đường theo truyền tụng |
| Mức độ chi tiết | Ngắn, cần người luận | Dài, có lời giải sẵn | Ngắn, phụ thuộc người bấm |
Đọc thẻ Khổng Minh Thần Toán thế nào cho đúng?
Các bản Khổng Minh Thần Toán lưu hành ở Việt Nam phân loại thẻ theo các mức như Thượng Thượng, Trung Trung, Hạ Hạ. Cách phân loại này có ích cho người mới vì nó cho một cái nhìn nhanh về xu hướng chung của thẻ, nhưng nó cũng là chỗ dễ gây hiểu lầm nhất. Một thẻ xếp Hạ Hạ không có nghĩa là mọi việc đều hỏng, mà thường là lời nhắc nên chậm lại, nên giữ mình, nên chờ thời. Một thẻ xếp Thượng Thượng cũng không có nghĩa là mọi việc tự nhiên thành, mà là điều kiện thuận hơn và người xin quẻ vẫn phải làm phần việc của mình.
Các bản sách cũng không thống nhất hoàn toàn với nhau về cách phân loại và về nội dung lời bàn. Có bản đặt nặng phần thơ Hán Việt, có bản mở rộng phần lời giải theo từng loại việc, có bản thêm phần lời bàn của Thông Huyền Lão Nhân với cách diễn giải riêng. Người tra nên biết mình đang dùng bản nào, vì cùng một quẻ động cùng một hào, hai bản có thể cho lời bàn khác nhau về mức độ thuận lợi.
Một điểm cần lưu ý về tên gọi Thông Huyền Lão Nhân. Đây là danh xưng thường thấy trong các bản Khổng Minh Thần Toán ở Việt Nam, dùng để chỉ người viết phần bình giải. Các tài liệu tra được không cho biết danh tính cụ thể của nhân vật này, nên không nên gán cho một người lịch sử nào. Đây là một bút danh biên soạn, không phải một nhân vật có tiểu sử xác định.
Cách dùng hợp lý nhất là coi thẻ như một khung gợi ý để tự suy xét, không phải bản án cố định. Thẻ nói nên tránh tiểu nhân thì việc cần làm là rà lại các mối quan hệ đang có, xem có chỗ nào đang bị hiểu lầm hoặc bị cạnh tranh không lành mạnh. Thẻ nói nên đi xa thì việc cần làm là xem mình có đang bị kẹt ở chỗ cũ và có phương án nào để thay đổi môi trường. Giá trị của sách nằm ở chỗ nó buộc người ta dừng lại và nhìn việc mình đang làm từ một góc khác.
Có nên tin tuyệt đối vào kết quả quẻ?
Không nên. Bản thân các sách trong dòng này cũng không đặt mình ở vị trí quyết định thay con người. Sách Tử Vi ghi chép số 01 có đoạn nhắc lại câu "Nhân định thắng thiên" và "Đức năng thắng số", nghĩa là người định có thể thắng trời, phúc đức có thể thắng số mệnh, và lấy chính Gia Cát Lượng làm ví dụ: ông biết thiên hạ sẽ chia ba mà vẫn sáu lần lên Kỳ Sơn rồi cuối cùng không thành. Đây là cách nhìn được nhiều tác giả trong dòng Đông phương nhắc lại: quẻ cho biết xu hướng và điều kiện, không cho biết kết cục chắc chắn.
Với các việc liên quan tới tài chính, sức khỏe hay pháp lý, quẻ không thể thay thế tư vấn chuyên môn. Người xin quẻ vẫn cần bác sĩ, luật sư, chuyên gia tài chính tùy theo việc. Đặt quẻ vào đúng vai trò của nó, như một công cụ tự vấn, sẽ tránh được cả hai thái cực: coi thường hoàn toàn và tin tuyệt đối.
Tổng kết thực hành
Với người mới, trình tự nắm Khổng Minh Thần Toán gọn lại thành ba việc. Nắm vững dãy số Tiên Thiên Bát Quái và phép chia lấy dư cho 8 và cho 6. Nắm cách ghép quẻ Thượng với quẻ Hạ để ra tên quẻ. Và biết tra đúng thẻ theo quẻ kèm hào động trong bảng 384 thẻ của bản mình đang dùng. Ba việc này đủ để lập quẻ và tra thẻ, còn phần luận sâu thì tùy duyên và tùy mức độ quen với Kinh Dịch.
