
TL;DR: Thuần Càn (乾) là quẻ số 1 trong 64 quẻ theo thứ tự Chu Dịch, sáu hào dương, quẻ trên và quẻ dưới đều là Càn (Trời); quái từ chép: 乾:元亨。利貞。 (Càn: nguyên hanh, lợi trinh). Lời gốc gồm quái từ, sáu hào từ và lời Dụng cửu; Thoán truyện, Đại Tượng, Tiểu Tượng và Văn Ngôn thuộc Thập Dực, truyền thống quy cho Khổng Tử còn nghiên cứu hiện đại không coi việc quy tác giả ấy là đã chứng minh. Gợi ý của Nhật Nguyệt: nên đọc bốn tầng chữ của quẻ theo thứ tự lời gốc, truyện, chú giải và phần hiểu riêng, không coi hào từ là lời hứa chắc chắn về công việc, tiền bạc hay sức khỏe.
Quẻ Thuần Càn là quẻ thứ mấy, cấu trúc ra sao?
Thuần Càn (乾) là quẻ số 1 trong 64 quẻ theo thứ tự Chu Dịch, gồm sáu hào dương, quẻ trên là Càn (Trời) và quẻ dưới cũng là Càn (Trời). Quái từ của quẻ chép: 乾:元亨。利貞。 (Càn: nguyên hanh, lợi trinh).

Từ Bát Quái đến 64 quẻ
Theo truyền thống, Bát Quái được quy cho Phục Hy vẽ ra từ việc quan sát hiện tượng tự nhiên; nghiên cứu hiện đại không coi việc quy tác giả này là đã chứng minh. Bát Quái gồm: Càn (☰), Đoài (☱), Ly (☲), Chấn (☳), Tốn (☴), Khảm (☵), Cấn (☶), Khôn (☷). Khi hai quẻ đơn chồng lên nhau thì thành 64 quẻ kép, mỗi quẻ kép có sáu hào. Quẻ Thuần Càn là hai quẻ đơn Càn chồng lên nhau.
Vì sao gọi là Thuần Càn?
Cả sáu hào của quẻ đều là hào dương (nét liền), không có hào âm nào, nên gọi là thuần dương, và tên quẻ là Càn. Chu Hy trong Chu Dịch bản nghĩa chú: 乾者健也,陽之性也 (Càn là mạnh mẽ, là tính của dương); 此卦六畫皆奇,上下皆乾,則陽之純而健之至也 (quẻ này sáu nét đều là số lẻ, trên dưới đều là Càn, ấy là thuần dương và mạnh mẽ đến cùng).
Lời gốc của quẻ Thuần Càn gồm những tầng nào?
Theo quy tắc 12, phần chữ của quẻ Thuần Càn tách thành bốn tầng: lời gốc (quái từ và hào từ), truyện của Thập Dực, chú giải có tên, và phần hiểu của Nhật Nguyệt. Dưới đây lần lượt dẫn từng tầng.
(a) Lời gốc: quái từ và hào từ
Quái từ: 乾:元亨。利貞。 (Càn: nguyên hanh, lợi trinh).
Hào từ:
- 初九:潛龍勿用。 (Sơ cửu: tiềm long vật dụng)
- 九二:見龍在田,利見大人。 (Cửu nhị: hiện long tại điền, lợi kiến đại nhân)
- 九三:君子終日乾乾,夕惕若;厲,无咎。 (Cửu tam: quân tử chung nhật kiền kiền, tịch dịch nhược, lệ, vô cữu)
- 九四:或躍在淵,无咎。 (Cửu tứ: hoặc dược tại uyên, vô cữu)
- 九五:飛龍在天,利見大人。 (Cửu ngũ: phi long tại thiên, lợi kiến đại nhân)
- 上九:亢龍,有悔。 (Thượng cửu: kháng long, hữu hối)
- 用九:見羣龍无首,吉。 (Dụng cửu: kiến quần long vô thủ, cát)
(b) Truyện của Thập Dực
Thoán truyện chép: 大哉乾元,萬物資始,乃統天。雲行雨施,品物流形,大明終始,六位時成。時乘六龍以御天,乾道變化,各正性命,保合大和,乃利貞。首出庶物,萬國咸寧。
Đại Tượng chép: 天行健,君子以自強不息。
Tiểu Tượng chép:
- 潛龍勿用,陽在下也。
- 見龍在田,德施普也。
- 終日乾乾,反復道也。
- 或躍在淵,進无咎也。
- 飛龍在天,大人造也。
- 亢龍有悔,盈不可久也。
- 用九,天德不可為首也。
Văn Ngôn là một thiên của Thập Dực (truyền thống quy cho Khổng Tử; nghiên cứu hiện đại xếp Thập Dực vào khoảng thế kỷ 5 tới 2 TCN, không coi việc quy tác giả này là đã chứng minh). Đoạn đầu Văn Ngôn chép: 元者,善之長也。亨者,嘉之會也。利者,義之和也。貞者,事之幹也。君子體仁足以長人,嘉會足以合禮,利物足以和義,貞固足以幹事。君子行此四德者,故曰:「乾,元、亨、利、貞。」
(c) Chú giải có tên
Vương Bật chú trên hào Cửu nhị: 出潛離隱,故曰「見龍」,處於地上,故曰「在田」。德施周普,居中不偏,雖非君位,君之德也。初則不彰,三則「乾乾」,四則「或躍」,上則過亢。「利見大人」,唯二、五焉。 (Ra khỏi chỗ ẩn, nên gọi là hiện long; ở trên đất, nên gọi là tại điền. Đức ban khắp, giữ giữa không lệch, tuy chưa phải ngôi vua nhưng là đức của bậc vua. Hào đầu thì chưa rõ, hào ba thì kiền kiền, hào bốn thì hoặc dược, hào trên thì quá cao. Lợi kiến đại nhân chỉ ở hào hai và hào năm.)
Vương Bật chú trên hào Cửu tam: 處下體之極,居上體之下,在不中之位,履重剛之險。上不在天,未可以安其尊也。下不在田,未可以甯其居也。純脩下道,則居上之德廢;純脩上道,則處下之禮曠。故「終日乾乾」,至於夕惕猶若厲也。居上不驕,在下不憂,因時而惕,不失其幾,雖危而勞,可以「無咎」。 (Ở cực của hạ thể, dưới thượng thể, ngôi bất trung, giẫm lên hiểm của trùng cương. Trên không ở trời, chưa yên được ngôi tôn; dưới không ở đồng, chưa yên được chỗ ở. Thuần tu đạo bậc dưới thì đức bậc trên bỏ; thuần tu đạo bậc trên thì lễ bậc dưới thiếu. Cho nên suốt ngày kiền kiền, đến tối vẫn răn như gặp nguy. Ở trên không kiêu, ở dưới không lo, tùy thời mà răn, không mất cơ, tuy nguy mà chăm, có thể vô cữu.)
Vương Bật chú trên Dụng cửu: 九,天之德也。能用天德,乃見「群龍」之義焉。夫以剛健而居人之首,則物之所不與也。以柔順而為不正,則佞邪之道也。故《乾》吉在「無首」,《坤》利在「永貞」。 (Chín là đức của trời. Dùng được đức trời thì thấy nghĩa quần long. Cương kiện mà đứng đầu người thì vật không theo; nhu thuận mà làm điều bất chính thì là đường nịnh tà. Cho nên Càn tốt ở vô thủ, Khôn lợi ở vĩnh trinh.)
Chu Hy (Chu Dịch bản nghĩa) chú trên quái từ: 元大也,亨通也,利宜也,貞正而固也。文王以為乾道大通而至正,故於筮得此卦而六爻皆不變者,言其占當得大通而必利在正固,然後可以保其終也。 (Nguyên là lớn, hanh là thông, lợi là thích hợp, trinh là chính và bền. Văn Vương cho đạo Càn rất thông và rất chính, nên khi gieo được quẻ này mà sáu hào đều không biến thì nói rằng lời đoán ấy sẽ được đại thông và ắt lợi ở chính bền, rồi sau mới giữ được trọn vẹn.)
Chu Hy (Chu Dịch bản nghĩa) chú trên hào Cửu tam: 九陽爻三陽位,重剛不中,居下之上,乃危地也。然性體剛健,有能乾乾惕厲之象,故其占如此。 (Chín là hào dương, ba là ngôi dương, trùng cương bất trung, ở trên của hạ quái, ấy là đất nguy. Nhưng tính thể cương kiện, có tượng hay kiền kiền răn nguy, nên lời đoán như thế.)
Chu Hy (Chu Dịch bản nghĩa) chú trên đoạn đầu Văn Ngôn: 此第一節申彖傳之意,與春秋傳所載穆姜之言不異,疑古者已有此語,穆姜稱之,而夫子亦有取焉,故下文別以子曰表孔子之辭,蓋傳者欲以明此章之為古語也。 (Đây là tiết thứ nhất làm rõ ý Thoán truyện, không khác lời Mục Khương chép trong Tả truyện; ngờ rằng người xưa đã có câu ấy, Mục Khương dẫn lại, và phu tử cũng có lấy, nên đoạn dưới mới lấy chữ 子曰 để đánh dấu lời Khổng Tử, có lẽ người truyền muốn làm rõ rằng chương này là lời cổ.)
(d) Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt
Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, quẻ Thuần Càn là quẻ thuần dương, sáu hào đều là nét liền, nên được đọc như biểu tượng của sức vận động không ngừng. Bốn chữ ở quái từ là nguyên, hanh, lợi, trinh; Văn Ngôn triển khai bốn chữ ấy thành bốn đức của người quân tử, còn Chu Hy chú rằng đoạn ấy vốn là lời cổ đã có từ trước. Từ đây, quẻ này là một trong những điểm nhập môn thường được dùng để tập đọc bốn tầng chữ của một quẻ: lời gốc, truyện, chú giải, và phần hiểu riêng.
Gặp quẻ Thuần Càn khi hỏi việc làm thì nên hiểu thế nào?
Không có câu nào trong lời gốc của quẻ nói về việc làm theo nghĩa hiện đại. Điều có thể dẫn là quái từ, hào từ, Thoán truyện, Đại Tượng và chú của Vương Bật, Chu Hy; phần áp dụng dưới đây là lớp hiểu riêng, không phải lời của quẻ.
Sáu hào từ gợi ra sáu giai đoạn: tiềm long vật dụng (ẩn mà chưa dùng), hiện long tại điền (đã ra khỏi chỗ ẩn), kiền kiền tịch dịch (ngày đêm răn nguy), hoặc dược tại uyên (còn nghi chưa quyết), phi long tại thiên (đã ở ngôi cao), kháng long hữu hối (lên quá cao mà có hối). Vương Bật chú hào Cửu nhị nói đức của bậc vua tuy chưa ở ngôi vua; Vương Bật chú hào Cửu tam nói ở trên không kiêu, ở dưới không lo, tùy thời mà răn thì có thể vô cữu.
Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi soi một tình huống việc làm vào quẻ này, nên tự đặt câu hỏi mình đang ở giai đoạn nào trong sáu giai đoạn trên, và giữ thái độ nào cho khớp với giai đoạn ấy; không nên coi một hào là lời hứa chắc chắn về kết quả công việc, tiền bạc hay sức khỏe.
Lời hào nào của quẻ Thuần Càn mang chuẩn mực xã hội thời xưa?
Một số hào từ và lời Văn Ngôn mang chuẩn mực xã hội của thời cổ, như quan hệ vua tôi, nam nữ, hôn nhân, và nên đọc như bối cảnh lịch sử. Ví dụ, Văn Ngôn dẫn lời phu tử về hào Cửu nhị: 庸言之信,庸行之謹,閑邪存其誠,善世而不伐,德博而化 (lời thường thì tín, việc thường thì cẩn, ngăn tà giữ thành, làm tốt cho đời mà không khoe, đức rộng mà cảm hóa); Chu Hy chú rằng đấy là đức của bậc vua, và giải thích chữ 大人 ở hào Cửu nhị là bậc quân tử có đức ấy. Đây là cách nói của người xưa về vị thế và phẩm hạnh, không phải một chỉ dẫn áp dụng nguyên văn cho đời nay.
Quẻ Thuần Càn có liên hệ gì với tâm lý học hiện đại?
Carl Gustav Jung có viết lời tựa cho bản dịch Kinh Dịch của Richard Wilhelm và Cary F. Baynes (bản tiếng Anh năm 1950), trong đó ông bàn về tính đồng hiện (synchronicity). Đây là một cách tiếp cận hiện đại của một tác giả cụ thể, không phải nội dung trong lời gốc của quẻ.
Không nên gán cho Jung câu rằng Kinh Dịch là công cụ xác định 64 tình huống điển hình, vì lời tựa ấy chỉ bàn về tính đồng hiện và cách tiếp cận phương Đông đối với việc gieo quẻ. Với quẻ Thuần Càn, phần đọc theo lối này chỉ nên dừng ở mức: một số người hiện đại dùng quẻ như một cách soi lại bối cảnh của chính mình, chứ không phải một kết luận về vận mệnh.
Bảng tra cứu nhanh: quẻ Thuần Càn
| Khía cạnh | Nội dung |
|---|---|
| Số thứ tự trong 64 quẻ | 1 |
| Tên chữ Hán | 乾 |
| Ký hiệu | ䷀ |
| Tên tiếng Anh | The Creative |
| Quẻ thượng (ngoại quái) | Càn (Trời), hành Kim, phương Tây Bắc |
| Quẻ hạ (nội quái) | Càn (Trời), hành Kim, phương Tây Bắc |
| Sáu hào, hào sơ ở dưới | sơ dương, nhị dương, tam dương, tứ dương, ngũ dương, thượng dương |
| Tượng | Trời vận hành mạnh mẽ, không lúc nào ngưng nghỉ. |
| Luận giải | Quẻ thuần dương, tượng cho sức sáng tạo và ý chí chủ động. Người xưa đọc quẻ này như lời nhắc tự cường không mỏi. Sức mạnh lớn luôn đi kèm yêu cầu giữ mình đúng mực. |
Số liệu trong bảng khớp với kết quả các công cụ tra cứu trên Nhật Nguyệt.
Bài tổng quan chủ đề: 64 quẻ Kinh Dịch
